TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA (3 cuốn) ~1

Tác giả : Đường Thất Công Tử

Cuốn 1

Chương 1: Một đóa hoa đào trốn nhà theo trai

Tiền truyện.

Gần đây, ta rất hay thèm ngủ.

Nại Nại nói: “Chắc vì mang thai nên mới thèm ngủ vậy, nương nương chớ nên lo lắng”.

Nại Nại là tỳ nữ chăm sóc ta, cũng là tiên tử duy nhất chịu cười với ta, chịu gọi ta hai tiếng “nương nương” trong Tẩy Ngô cung này. Những tiên tử khác hầu hết đều coi thường ta. Bởi vì Dạ Hoa không phong cho ta một danh phận nào, cũng bởi vì ta không phải là thần tiên mà chỉ là một người phàm trần.

Hình như Nại Nại mở cửa sổ, gió nhẹ thổi vào, bên ngoài vẳng tới tiếng bước chân của ai đó. Giọng Nại Nại thoáng ngạc nhiên, vui mừng: “Nương nương, là thái tử điện hạ tới thăm người”.

Ta chui ra khỏi chiếc chăn gấm, ngồi dựa vào thành giường, đầu còn hơi váng vất, tuy rằng vừa mới tỉnh dậy nhưng vẫn hơi buồn ngủ.

Đệm hơi lún xuống, ta đoán rằng Dạ Hoa đang ngồi bên cạnh.

Ta mơ mơ hồ hồ hỏi chàng: “Tối nay sao trên trời có sáng không?”.

Chàng lặng đi một hồi rồi mới đáp: “Tố Tố, bây giờ đang là ban ngày”.

Theo thói quen ta dụi dụi mắt, tay đụng phải dải lụa trắng băng quanh mắt mới nhớ ra đã không còn mắt nữa rồi, dù có dụi thế nào thì cũng không thể phân biệt nổi ngày đêm, vẫn không nhìn được gì.

Dạ Hoa im lặng một lúc lâu rồi mới nói: “Ta sẽ thành thân với nàng, ta sẽ là đôi mắt của nàng”.

Tố Tố, ta sẽ là đôi mắt của nàng.

Theo bản năng ta đẩy chàng ra. Ác mộng đêm hôm đó lại một lần nữa bủa vây ta, ta sợ đến mức toàn thân run lẩy bẩy.

Dạ Hoa nắm tay ta: “Tố Tố, nàng làm sao vậy?”. Ta run run cắn răng nói dối: “Đột… đột nhiên hơi buồn ngủ. Chàng làm việc của chàng đi, thiếp muốn ngủ một lát”.

Trước đây lòng vạn phần lưu luyến, người vạn phần lưu luyến, còn giờ đây đã khiến người ta không thể chịu nổi, ta chỉ hiếu kỳ rằng, chàng đã yêu người con gái ấy như thế, sao ban đầu lại đồng ý với yêu cầu vô lý của ta.

Ban đầu, ban đầu, đúng là hối hận thì sao ban đầu không làm khác đi.

Dạ Hoa rời đi, Nại Nại nhẹ nhàng cài then cửa. Ta nằm nhoài ra giường, đầu óc rối như tơ vò. Những hình ảnh hiện lên, lúc là núi Tuấn Tật ở Đông Hoang, lúc là khuôn mặt của Dạ Hoa, lúc là lưỡi chủy thủ đẫm máu và đôi mắt bị khoét đi của ta. Rất đau, ta đau muốn khóc nhưng lại khóc không nổi.

Ta thầm nghĩ đợi sinh xong đứa con này, ta sẽ quay trở về núi Tuấn Tật, bắt đầu từ đâu thì nên kết thúc ở đó.

Lại ngây người hồi lâu, Nại Nại rón rén đẩy cửa bước vào, khe khẽ gọi ta: “Nương nương, nương nương, người tỉnh chưa?”.

Ta cố nén, húng hắng ho: “Có chuyện gì thế?”.

Nại Nại ngừng bước: “Thiên phi Tố Cẩm sai tỳ nữ mang thiếp tới, mời người cùng thưởng trà”.

Ta buồn bực, kéo chăn lên che mặt: “Nói ta đi nghỉ rồi”.

Không hiểu sao gần đây Tố Cẩm nhiều lần tỏ ý đối tốt với ta. Có lẽ vì đã có được đôi mắt của ta, hại ta thành kẻ mù lòa, cho nên ít nhiều cũng có chút hổ thẹn trong lòng chăng? Nhưng rõ ràng là nàng ta, là nàng ta đã khiến Dạ Hoa phải khoét đi đôi mắt của ta.

Ta đã không còn là tiểu cô nương mới đến của ba năm trước, ngốc nghếch muốn sẽ được lòng tất cả mọi người.

Ước chừng là buổi chiều, Nại Nại lay ta tỉnh, nói rằng nắng chiều đang chiếu chênh chếch ngoài sân, dẫn ta đi phơi nắng một chút.

Nại Nại dời một chiếc xích đu ra sân, rồi đỡ ta qua đó. Ta không chịu để nàng ấy hầu hạ mà mò mẫm bám vào mặt bàn, vào tường… từng bước từng bước đi qua bên đó. Những việc này đều nên làm, nếu không, sau này quay trở lại núi Tuấn Tật ta sẽ sống một mình như thế nào?

Sưởi nắng một lúc, lại hơi buồn ngủ. Trong cơn mơ màng, hình như lại nằm mơ, trong mơ, lại trở về cái ngày đầu tiên gặp Dạ Hoa trên đỉnh núi Tuấn Tật ba năm trước. Tay chàng cầm thanh lãnh kiếm, toàn thân đầy máu ngã trước gian nhà tranh của ta. Ta cuống quýt vực chàng vào trong nhà, đắp thuốc cầm máu, chỉ biết trố mắt líu lưỡi nhìn vết thương của chàng tự khép miệng lại.

Không phải ta cứu chàng, nhưng chàng nhất định đòi báo đáp, ta nói: “Vậy thì chi bằng chàng lấy thân đền đáp đi”, thế nên thành thân, lại có đứa con trong bụng này.

Từ khi ta bắt đầu nhớ được sự việc, thì đã một mình trên núi Tuấn Tật rồi, xung quanh chỉ có muôn loài chim thú côn trùng, cho nên ta chẳng có tên. Chàng gọi ta là Tố Tố, còn nói từ đây về sau, đây là tên của ta, khiến ta thầm vui đến tận mấy ngày sau.

Sau này, chàng dẫn ta lên Cửu Trùng Thiên, ta mới biết rằng phu quân của mình hóa ra là cháu của Thiên Quân.

Khi ấy, chàng vẫn chưa được phong làm thái tử.

Nhưng trên Cửu Trùng Thiên này chẳng có ai thừa nhận chàng là phu quân của ta. Trước mặt Thiên Quân, chàng cũng chưa bao giờ nhắc đến chuyện chàng đã từng cưới một người phàm trần ở Đông Hoang làm phu nhân.

Đêm hôm đó, ta mang canh tới tẩm điện của Dạ Hoa. Bốn bề tẩm điện không người canh giữ, giọng của thiên phi Tố Cẩm vọng lại hết sức bi ai: “Chàng lấy một người phàm trần, chẳng qua vì muốn báo thù thiếp đã phản bội chàng theo Thiên Quân, có đúng không? Nhưng thiếp đâu có cách nào khác, thiếp đâu có cách nào khác? Đàn bà trong bốn bể tám cõi, ai có thể chống lại sự ân sủng của Thiên Quân? Hãy nói cho thiếp biết, Dạ Hoa, người chàng yêu vẫn là thiếp, đúng không? Chàng gọi nàng ta là Tố Tố, có phải vì, có phải vì có một chữ “Tố” trong tên thiếp không?”.

Giấc mộng ăn khớp với hiện thực ấy đến đây bỗng ngừng bặt, ta sợ hãi toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh. Ta nhẹ nhàng xoa cái bụng đã hơi nhô cao, hoài thai đã ba năm, ta thầm tính, có lẽ cũng sắp tới lúc lâm bồn rồi.

Màn đêm buông xuống, xưa nay Nại Nại chưa từng phải hầu hạ ta đi nghỉ. Nhưng bây giờ ta không thể một mình tự lấy nước rửa mặt súc miệng được, đành nhờ nàng ta. Nại Nại đắp chiếc chăn hoa lên người giúp ta, nói: “Nương nương, đợi thêm chút nữa, có lẽ đêm nay điện hạ sẽ tới không chừng”.

Ta im lặng buồn rầu. Sau khi xảy ra chuyện ấy, Dạ Hoa chưa bao giờ nghỉ lại đây. Ta biết, sau này cũng không bao giờ nghỉ lại nữa.

Khi ấy, trên núi Tuấn Tật ở Đông Hoang, nếu Dạ Hoa nói với ta rằng chàng đã có người trong mộng, thì ta sẽ không để chàng lấy ta.

Khi ấy, ta vẫn chưa đem lòng yêu chàng, chẳng qua chỉ là sống một mình nên cảm thấy quá cô đơn.

Nhưng chàng chẳng nói điều gì, chàng cưới ta, còn dẫn ta lên Cửu Trùng Thiên này.

Trời vốn sinh ta khéo giả vờ giả vịt, cho nên vô vàn vướng mắc giữa Dạ Hoa và thiên phi Tố Cẩm ta đều coi như không biết.

Ta nghĩ, cho dù như thế nào, người chàng lấy là ta, chúng ta đã bái thiên địa ở Đông Hoang, cùng nhau thề nguyền, ta còn mang thai đứa con của chàng, ta yêu chàng như vậy, rồi sẽ có một ngày chàng sẽ cảm động vì ta.

Đúng là chàng cũng dần dần đối xử dịu dàng với ta.

Thậm chí ta còn mừng thầm, cứ ngỡ rằng cho dù không yêu ta thì chàng có chút gì đó thích ta rồi chăng?

Có những lúc, tình yêu làm con người ta trở nên vô cùng hèn mọn, nhỏ bé.

Thế nhưng chuyện ấy đã xảy ra. Cho nên hễ tỉnh mộng là ta lại ý thức được rằng mình đã mất đi đôi mắt, mất đi ánh sáng.

Ngày hôm đó, thiên phi Tố Cẩm mời ta đi đến Dao Trì ngắm hoa. Ta cho rằng đó là một buổi tiệc nhỏ của nữ giới, nên ngu ngốc nhận thiếp mời. Khi đến Dao Trì mới hay chỉ có hai ta.

Cho cung nga lui hết, ả kéo ta một mạch đến Tru Tiên đài.

Đứng trước Tru Tiên đài, ả lạnh lùng nhìn ta cười: “Ngươi có biết không? Thiên Quân sắp phong Dạ Hoa làm thái tử, còn ban cho ta làm phu nhân của Dạ Hoa”.

Xưa nay ta không thể hiểu nổi những quy củ của đám thần tiên bọn họ, chỉ cảm thấy có một dòng máu nóng trào lên giữa lồng ngực, không biết là đang tức giận hay là hoang mang.

Ả vẫn cười ngạo mạn: “Ta và Dạ Hoa tâm đầu ý hợp, Cửu Trùng Thiên vốn là nơi đám người trần các ngươi không nên tới, sinh con xong, ngươi hãy từ Tru Tiên đài này nhảy xuống, trở về chốn cũ của ngươi đi”.

Ta không biết nhảy xuống Tru Tiên đài có thể quay trở về núi Tuấn Tật hay không, khi ấy, chưa bao giờ ta nghĩ đến chuyện ra đi. Ta ngẩn người hỏi ả ta: “Là Dạ Hoa đưa tôi về ư? Tôi là vợ của chàng, nên đương nhiên sẽ đi theo chàng”.

Bây giờ nhớ lại, câu nói đó thực sự là tự chuốc nhục vào thân.

Nhưng khi ấy ta luôn ngây ngô nghĩ rằng Dạ Hoa chí ít cũng hơi thích ta, chỉ cần chàng thích ta một chút, một chút thôi thì ta sẽ luôn ở bên chàng.

Tố Cẩm thở dài nhưng lại ra vẻ tức cười nhiều hơn, đột nhiên chộp lấy tay ta, kéo ta ngã xuống mép Tru Tiên đài.

Ta còn tưởng ả sẽ đẩy ta xuống Tru Tiên đài, nào ngờ kẻ rơi khỏi đài cao chính là ả ta, ta còn chưa kịp phản ứng, bên cạnh đã có một bóng đen lao vút qua, bổ nhào xuống dưới.

Dạ Hoa ôm Tố Cẩm đứng trước mặt, lạnh lùng nhìn ta, trong đôi mắt đen thẳm nung nấu ngọn lửa giận dữ ngút trời.

Tố Cẩm nằm trong lòng chàng, thở hắt ra: “Đừng trách Tố Tố, không phải nàng ấy cố ý đẩy thiếp, mà là nghe tin Thiên Quân ban thiếp cho chàng, nên nàng ấy hơi xúc động”.

Thật khó tin, rõ ràng ta không làm gì cả.

“Không phải thiếp, không phải thiếp, thiếp không đẩy nàng ta, Dạ Hoa, chàng phải tin thiếp, chàng phải tin thiếp…”. Ta hết lần này đến lần khác giải thích với chàng, kinh hoàng, lắp bắp, giống hệt một tên tiểu nhân đang vụng về phân bua.

Chàng vung tay, gằn giọng: “Đủ rồi. Ta chỉ tin những gì ta thấy”.

Chàng không chịu nghe ta giải thích, chàng không tin ta, chàng ôm Tố Cẩm, mày nhíu lại, vội vội vàng vàng rời khỏi Tru Tiên đài.

Đêm đó, mang khuôn mặt u ám, chàng đứng trước mặt ta: “Đôi mắt của Tố Cẩm đã bị chướng khí ở Tru Tiên đài làm hỏng, Tố Tố, nhân quả luân hồi, nợ cái gì của người khác, thì nhất định phải trả cái đó. Tố Tố, đừng sợ, ta sẽ thành thân với nàng, từ đây về sau, ta sẽ là đôi mắt của nàng”.

Trước đó, chàng chưa bao giờ nhắc đến chuyện sẽ cùng ta thành thân trên Cửu Trùng Thiên này. Sự lạnh lẽo, phẫn nộ và sợ hãi cùng lúc tuôn trào trong lòng ta.

Ta nghĩ, trước đây ta chưa bao giờ mất tư thế như bây giờ, ta nắm chặt tay chàng: “Tại sao chàng lại muốn đôi mắt của thiếp? Là nàng ta tự nhảy xuống, là nàng ta tự nhảy xuống, chẳng liên quan gì đến thiếp cả, tại sao chàng không tin thiếp?”.

Ánh mắt chàng trầm ngâm đau đớn, nhưng vẫn cười lạnh lùng: “Khí độc bao quanh Tru Tiên đài, nàng ta tự mình nhảy xuống há chẳng phải không muốn sống sao? Tố Tố, nàng đúng là càng ngày càng không biết lý lẽ”.

Cửu Trùng Thiên này, ta chỉ có mình chàng. Ta luôn nghĩ rằng, sau khi đứa trẻ được sinh ra, sẽ cùng chàng nắm tay đứa trẻ, ngắm mây đùn trên biển suốt mười dặm, ráng chiều mênh mang đỏ ối khắp vạn trượng. Chẳng biết tự lúc nào, đối với ta, chàng đã trở nên quan trọng như vậy.

Ta bị khoét đi đôi mắt. Nại Nại chăm sóc ta suốt ba ngày, sau ngày thứ ba, Tố Cẩm đứng trước mặt ta, nói: “Đôi mắt của ngươi hiện ta dùng rất tốt”.

Ta chợt bừng tỉnh.

Bạn đã từng yêu một người?

Bạn đã từng hận một người?

Thực ra yêu hận tình thù giữa hai người đó, ta chẳng qua chỉ là người qua đường, mơ mơ hồ hồ bị giữ lại, là kiếp số đã định sẵn mà thôi.

Hai ngày nay, ta đã không còn phân biệt nổi ngày đêm, đã học được cách dùng tai để tìm manh mối, phân biệt ngày đêm.

Sau khi dùng xong bữa trưa, Nại Nại sấp ngửa chạy vào sân, thở hổn hển: “Nương nương, nương nương, Thiên Quân vừa ban chỉ, sẽ ban, sẽ ban thiên phi Tố Cẩm cho, cho, cho thái tử điện hạ”.

Ta cười cười, Dạ Hoa được phong làm thái tử đã được một thời gian, chuyện này sớm muộn gì cũng xảy ra mà thôi. Nhưng Tố Cẩm rốt cuộc vẫn không thành chính thất của Dạ Hoa được. Gần đây ta có nghe nói, năm đó Thiên Quân và Đế Quân Bạch Chỉ của nước Thanh Khâu đã từng có ước hẹn, người kế ngôi Thiên Quân sẽ phải lập con gái của Đế Quân Bạch Chỉ là Bạch Thiển làm Thiên Hậu.

Bụng bỗng đau dữ dội.

Nại Nại gào lạc cả giọng: “Nương nương, người làm sao thế?”.

Ta ngẩng đầu nhìn nàng ấy, gượng cười: “Hình như sắp sinh rồi”.

Trong suốt quá trình sinh nở, ta ngất đi rồi lại tỉnh, vô cùng đau đớn. Lúc Tố Cẩm thay mắt, Dạ Hoa bên ả ta suốt một ngày một đêm, nhưng lúc này, bên cạnh ta chỉ có mình Nại Nại bầu bạn. Ta khổ sở cố kìm nén không gọi tên Dạ Hoa.

Đã đủ bi thảm rồi, cho nên không thể bi thảm hơn nữa.

Nại Nại vừa khóc vừa nói: “Nương nương, người bỏ tay con ra, con đi tìm thái tử điện hạ, con đi tìm thái tử điện hạ”.

Ta đã đau đớn không thốt lên lời, chỉ có thể mấp máy môi ra hiệu: “Nại Nại, ngươi ở đây cùng ta một lúc, chỉ một lúc thôi”.

Nại Nại càng khóc to hơn.

Là con trai.

Ta không biết Dạ Hoa đã đến từ lúc nào, khi tỉnh dậy chàng đã nắm chặt tay ta, đôi tay lạnh như băng.

Chàng ẵm đứa trẻ qua, nói: “Nàng có thể sờ mặt con, nó rất giống nàng”.

Ta không nhúc nhích. Ta rất yêu đứa trẻ này, nhưng ta không thể đem nó về sống ở núi Tuấn Tật, ta phải để nó ở lại.

Đã như thế thì tốt nhất là đừng động vào nó, đừng ôm ấp nó, sẽ không khiến mình nảy sinh tình cảm sâu đậm.

Dạ Hoa ngồi cạnh ta rất lâu, chỉ im lặng không nói lời nào.

Khi Dạ Hoa đi rồi, ta gọi Nại Nại đến trước mặt, dặn dò Nại Nại rằng ta đặt tên con là A Ly, sau này nhất định phải chăm sóc cho nó thật chu đáo.

Ngày ngày Dạ Hoa đều đến thăm ta, chàng vốn là người ít nói. Trước đây ta nói rất nhiều, nhưng gần đây chẳng còn hứng thú nhắc đến điều gì, cho nên phần lớn thời gian, hai người chúng ta cứ lặng lẽ bên nhau như thế.

Chàng không nhắc đến hôn sự với Tố Cẩm, Nại Nại cũng không dám nói.

Ba tháng sau, cơ thể ta đã hồi phục. Chàng mang tới rất nhiều vải vóc, váy áo, hỏi ta thích cái nào, nói sẽ may áo cưới cho ta.

Chàng nói: “Tố Tố, ta đã từng nói, ta sẽ thành thân với nàng”.

Đương nhiên ta biết, chàng chỉ là thương hại ta, cảm thấy ta là một người phàm trần, lại bị mù lòa, tuy là tự làm tự chịu, nhưng vừa đáng giận lại vừa khiến người ta phải thương xót.

Ta tự nhủ chắc chắn ta sẽ ra đi, Cửu Trùng Thiên này chẳng còn lý do nào để ta ở lại nữa.

Nại Nại đi dạo cùng ta, hết lần này đến lần khác, chúng ta đi đi lại lại trên con đường từ Tẩy Ngô cung đến Tru Tiên đài, Nại Nại vô cùng khó hiểu. Ta nói với nàng ta, ta thích ngửi mùi hoa phù dung ven đường đi.

Nửa tháng nữa lại trôi qua, dựa vào cảm giác, ta đã có thể tự mình đi một mạch từ Tẩy Ngô cung đến Tru Tiên đài mà không gặp bất cứ chướng ngại nào.

Nói dối Nại Nại là một chuyện quá dễ dàng. Đứng trên Tru Tiên đài, lòng ta nhẹ nhõm, A Ly đã có Nại Nại chăm sóc, ta còn gì yên tâm hơn?

Nhưng trong giây lát lại rất muốn nói cho Dạ Hoa biết rằng ta không hề đẩy Tố Cẩm, cho dù chàng có tin hay không đi nữa.

Trên đỉnh núi Tuấn Tật, Dạ Hoa đã từng tặng cho ta một chiếc gương đồng rất đẹp. Khi ấy, chàng phải đi rất xa làm một việc quan trọng, một mình ta vò võ, chàng bèn lấy một bảo bối từ trong tay áo ra, dặn ta rằng, dù chàng có ở nơi đâu, chỉ cần ta nhìn gương này gọi tên chàng, chàng sẽ nghe thấy, nếu chàng không bận thì sẽ lập tức nói chuyện cùng ta.

Ta cũng chẳng hiểu sao khi lên Cửu Trùng Thiên ta vẫn mang theo chiếc gương này bên mình, có lẽ vì đó là món đồ duy nhất mà Dạ Hoa đã tặng cho ta.

Ta rút chiếc gương ra, đã lâu rồi không gọi tên chàng, hơi ngập ngừng ta khẽ gọi: “Dạ Hoa”.

Một hồi lâu, bên tai văng vẳng tiếng chàng: “Tố Tố?”

Ta đã quên rằng chàng không ở bên ta, nên chỉ chầm chậm gật đầu, thật khó khăn mới có thể mở lời lần nữa: “Thiếp phải về núi Tuấn Tật rồi, đừng đi tìm thiếp, một mình thiếp vẫn có thể sống được. Xin chàng hãy giúp thiếp chăm sóc A Ly cho thật tốt. Trước đây thiếp vẫn mơ rằng sẽ có một ngày có thể vừa nắm tay chàng cùng ngắm trăng sáng giữa trời sao, ngắm ánh dương nhô trên biển mây, vừa kể cho con nghe những chuyện khi xưa chúng ta ở trên núi Tuấn Tật, bây giờ e là không thể nữa rồi”. Ta ngẫm nghĩ rồi bổ sung, “Đừng nói với con mẹ của nó chỉ là một người phàm trần, vì các thần tiên trên trời đều coi thường người phàm”.

Rõ ràng chỉ là những lời cáo biệt tầm thường, mà sao trong phút chốc lại muốn rơi lệ, ta vội ngửa đầu nhìn trời xanh, chợt nhớ ra, mình đã chẳng còn đôi mắt, nước mắt chảy từ đâu?

Giọng nói của Dạ Hoa dường như có chút đè nén: “Nàng, nàng đang ở đâu?”

“Tru Tiên đài”, ta đáp, “Thiên Phi Tố Cẩm nói với thiếp rằng nhảy xuống Tru Tiên đài, thì thiếp quay về được núi Tuấn Tật. Bây giờ thiếp đã quen với việc không nhìn thấy gì, núi Tuấn Tật là cố hương của thiếp, mọi thứ xung quanh đều vô cùng quen thuộc, cuộc sống một mình sẽ không quá khó khăn, bất tiện với thiếp”.

Chàng vội vã ngắt lời ta: “Tố Tố, nàng đứng yên ở đó, ta lập tức tới ngay”.

Cuối cùng ta vẫn không có dũng khí để giải thích với chàng một lần nữa, khi đó không phải ta đẩy thiên phi Tố Cẩm xuống, rốt cuộc chàng vẫn chẳng tin ta, còn ta chẳng thể tiếp nhận nỗi thất vọng và mất niềm tin của chàng.

Ta nói, “Dạ Hoa, thiếp bỏ qua chàng, chàng cũng bỏ qua thiếp, hai người chúng ta, không ai nợ ai”.

Chiếc gương đồng rơi từ trên tay xuống “keng” một tiếng, Dạ Hoa ở nơi nào đó đang gào lên điên cuồng: “Nàng đứng yên ở đó cho ta, đừng nhảy…”.

Ta quay người nhảy xuống Tru Tiên đài. Dạ Hoa, ta chẳng thể yêu cầu thêm gì ở chàng nữa, chẳng còn gì.

Khi ấy, ta không biết rằng, Tru Tiên đài diệt tiên, thực ra là diệt đạo hạnh tu hành của thần tiên. Còn người phàm trần mà nhảy xuống Tru Tiên đài thì sẽ tan thành tro bụi.

Khi ấy, ta cũng không biết rằng, mình thực ra đâu phải người phàm trần.

Chướng khí dưới Tru Tiên đài làm ta bị thương khắp mình, cũng bởi vì đó là chướng khí có thể địch với ngàn vạn thần binh tuyệt thế, nên đã xé toang phong ấn trên trán ta. Ta không ngờ rằng vết chu sa trên trán ta là do khi Quỷ Quân Kình Thương phá vỡ chuông Đông Hoàng, để nhốt hắn ta một lần nữa, ta đã cùng hắn đại chiến một trận và bị hắn phong ấn. Dấu ấn đó đã lấy mất ký ức dung mạo và tiên khí trùm thân của ta, biến ta thành một người phàm trần.

Những chuyện xa xưa liên tiếp dội về, ta thầm nhắc mình: “Bạch Thiển, ngươi sinh ra là tiên thai, không cần tu hành cũng đã là tiên nữ. Nhưng khắp bốn bể tám hướng đâu có những việc dễ dàng như thế, không trải qua thiên kiếp này, sao ngươi có thể thăng lên làm thượng thần?”.

Cho nên, những yêu hận ân oán của mấy chục năm, trong phút chốc chẳng qua cũng chỉ là thiên kiếp mà thôi.

Ta rơi xuống nằm ngất trong rừng hoa đào mười dặm của thượng thần Chiết Nhan ở phía đông của Đông Hải, lão cứu ta tỉnh dậy rồi than thở: “Cha mẹ cùng mấy ca ca của ngươi đã phát điên lên vì tìm ngươi, ta cũng lo lắng tới mức hai trăm năm nay chưa được một giấc ngủ ngon, đôi mắt này của người, thương tích trên người ngươi, rốt cuộc là thế nào?”.

Là thế nào? Một kiếp số mà thôi.

Ta vừa cười vừa nói với Chiết Nhan: “Con nhớ rằng ở chỗ của người có một loại thuốc, uống vào có thể quên hết những chuyện nên quên đúng không?”.

Chiết Nhan nhíu mày: “Xem ra mấy chục năm nay ngươi đã gặp không ít chuyện đau lòng”.

Chén thuốc nóng hổi trước mặt bốc mùi thơm nồng.

Thế gian này sẽ không có một Tố Tố trên núi Tuấn Tật nữa. Đó chẳng qua chỉ là một giấc mộng của thượng thần Bạch Thiển – con gái của Đế Quân Bạch Chỉ của nước Thanh Khâu, mang theo biết bao cay đắng khổ sở và sắc hoa đào phai nhạt.

Sau khi tỉnh giấc, những gì đã mơ cũng sẽ quên sạch.

Thanh Khâu Bạch Thiển

(Ba trăm năm sau)

Đông Hải Thủy Quân mới sinh con trai nối dõi, để chuẩn bị cho tiệc đầy tháng của con, trong buổi chầu trên điện Lăng Tiêu đã xin phép bề trên cho nghỉ mấy ngày, Thiên Quân mắt nhắm mắt mở, đồng ý cho ông ta đi.

Đa Bảo Nguyên Quân cực kỳ tò mò, chỉ là một yến tiệc mà thôi, hà tất phải lao tâm khổ tứ đến vậy?

Thế nên, sau buổi chầu ngày hôm nay, bèn cố ý đuổi theo Nam Đẩu Chân Quân người xưa nay vốn có tình giao hảo với Đông Hải Thủy Quân, muốn thăm dò tình hình.

Cửu Trùng Thiên này vốn cực kỳ vô vị, sự quan tâm của các thần tiên đối với việc Đông Hải Thủy Quân nghỉ phép không phải chỉ ngày một ngày hai, lại thấy Đa Bảo Nguyên Quân khai mào, bèn lũ lượt đến vây quanh Nam Đẩu Chân Quân ở trước điện.

Nam Đẩu Chân Quân vô cùng nghi hoặc: “Chẳng nhẽ các vị tiên hữu không biết, trong dạ yến nửa tháng sau ở Đông Hải, vị cô cô ở Thanh Khâu cũng đến dự đó sao?”.

Bên ngoài Đông Hải, ở giữa Đại Hoang, đó chính là Thanh Khâu.

Nói đến đây, còn chắp hai tay hướng về Thanh Khâu ở hướng đông vái một cái, rồi mới tiếp tục kể: “Vị cô cô đó có tật ở mắt, không nhìn được ánh sáng mạnh, tường san hô ngói lưu ly của Đông Hải Long Cung lại quá chói mắt, nên Đông Hải Thủy Quân đang phải chạy đi khắp nơi kiếm cỏ thanh hạnh, để dệt thành tấm thảm che những thứ quá chói sáng kia”.

Lời vừa thốt ra, hết thảy chúng tiên trước điện Lăng Tiêu đều xì xào.

Vị cô cô như lời của Nam Đẩu Chân Quân, chính là con gái cưng của Bạch Chỉ Đế Quân, họ Bạch, tên chỉ có một chữ Thiển, vì là thượng thần thời viễn cổ của đời trước, để biểu thị sự tôn trọng, chúng tiên đều gọi nàng một tiếng “cô cô”.

Tự Bàn Cổ dùng búa khai thiên lập địa đến nay, chinh chiến giữa các tộc liên miên không dứt, trời đất mấy phen đổi chủ, thượng thần viễn cổ phần nhiều ứng kiếp, kẻ biến mất người đã ngủ say.

Những người còn sống trên cõi đời này, đếm qua đếm lại, ngoài gia tộc của Thiên Quân Cửu Trùng Thiên, thượng thần Chiết Nhan ẩn dật ở rừng đào mười dặm phía đông của Đông Hải thì chỉ có gia tộc của Bạch Chỉ Đế Quân ở nước Thanh Khâu mà thôi.

Nói đến Bạch Thiển là nhắc đến một bí mật không được coi là bí mật của gia tộc Thiên Quân.

Nghe nói năm vạn năm về trước, Bạch Thiển đã đính hôn với nhị hoàng tử – con trai của Thiên Quân là Tang Tịch, vốn là một mối nhân duyên hết sức môn đăng hộ đối, nhưng không hiểu vì sao Tang Tịch lại đem lòng yêu tỳ nữ của Bạch Thiển, sống chết từ hôn với Bạch Thiển.

Bạch Chỉ Đế Quân không chịu nổi nỗi nhục này, cùng thượng thần Chiết Nhan đến Cửu Trùng Thiên tìm Thiên Quân nói chuyện phải trái.

Thiên Quân giận dữ, lập tức đày nhị hoàng tử đi xa, bắt hắn đi đến phương bắc, phong cho làm Bắc Hải Thủy Quân. Lại ban thiên chỉ, lấy danh nghĩa Thiên tộc, người nào kế nhiệm ngai vị Thiên đế thì phải lấy Bạch Thiển làm Thiên Hậu.

Hơn ba trăm năm trước, Thiên Quân đã công bố với bốn bể tám cõi rằng trưởng tôn của ngài – Dạ Hoa được phong làm người kế nhiệm Thiên đế.

Giới thần tiên vốn cho rằng chẳng bao lâu sẽ được uống rượu mừng của Dạ Hoa Quân và Bạch Thiển. Nhưng suốt ba trăm năm nay, chưa bao giờ nghe thấy tin tức hai người sẽ tổ chức hôn lễ.

Chỉ nghe nói Dạ Hoa Quân đã có một đứa con trai, ngôi vị chính phi vẫn luôn bỏ trống. Mà Bạch Thiển luôn ở trong nước Thanh Khâu, thiệp mời của ai cũng không thể gửi tới nàng được.

Trai chưa vợ, gái chưa chồng, hai nhà lại không hề vội vã, đây đúng là chuyện lạ.

Chúng tiên e dè cảm thán một hồi, sau lại đổi sang khen Đông Hải Thủy Quân có phúc, cô cô mấy vạn năm không bước chân ra khỏi Thanh Khâu, nay ông ta lại mời được, thực là mát mặt lắm thay.

Nam Đẩu Chân Quân gật đầu nói: “Vốn đã là một chuyện rất có thể diện, nhưng mấy ngày nay Đông Hải Thủy Quân lại lo lắng khôn xiết, vì chẳng ngờ rằng cô cô lại nhận thiếp đến dự tiệc, mà trước đó cũng đã mời Bắc Hải Thủy Quân. Mấy hôm trước nghe nói gần đây Dạ Hoa Quân đem theo tiểu thiên tôn du ngoạn ở Đông Hoang, cũng thuận đường tới Đông Hải một chuyến. Ba người đó không tránh khỏi sẽ gặp mặt trên bàn tiệc, Đông Hải Thủy Quân đến bây giờ vẫn lo sợ nơm nớp, sợ rằng mình đã gây mầm họa”.

Cửu Trùng Thiên này hầu hết là những thần tiên già cả có chút lai lịch, cũng hiểu biết ít nhiều về Bắc Hải Thủy Quân, Thanh Khâu Bạch Thiển và người kế nhiệm ngôi Thiên đế Dạ Hoa Quân. Nhưng lại có một tiểu tiên mới lên trời ngây ngô hỏi: “Vị cô cô ở Thanh Khâu đó là ai, nàng ấy đã từng kết thù oán gì với Dạ Hoa Quân và Bắc Hải Thủy Quân ư?”.

Chúng tiên lại được thể mồm năm miệng mười giải thích một lượt, lần này trong khi giải thích lại dệt thêm rất nhiều tin đồn thất thiệt.

Tiểu tiên ngây ngô đó không nắm được trọng điểm, mặt nghệt ra nhìn vào chiếc quạt giấy vẫn để trắng chưa vẽ gì đang phe phẩy trước mặt: “Bắc Hải Thủy Quân thà đắc tội với Bạch Chỉ Đế Quân cũng phải thành thân với tỳ nữ của vị cô cô kia, thật không biết phong độ tư thái của tỳ nữ đó như thế nào nhỉ?”.

Đa Bảo Nguyên Quân lấy tay che miệng húng hắng ho một tiếng: “Bản quân đã từng gặp người con gái đó, khi đó nhị hoàng tử đích thân cứu nàng ta ra rồi đến quỳ trước mặt Thiên Quân, xin cho nàng ta một danh phận, thực sự đó cũng có thể coi là một mỹ nhân, có điều nếu so với vị cô cô của nhà Bạch Chỉ Đế Quân kia thì hãy còn kém xa. Bản quân tuy chưa từng được gặp cô cô, nhưng nghe nói cô cô giống mẹ, mà so với mẹ còn có vài phần đẹp hơn”.

Nam Cực Tiên Quân – người già nhất trong đám thần tiên các lộ vuốt vuốt chòm râu dài trắng như cước trầm ngâm, nói: “Lão đây đã từng được gặp cô cô một lần, khi đó lão vẫn là một đồng tử theo hầu Thiên Quân, cùng với Thiên Quân nương nương đi ngắm hoa đào ở chỗ thượng thần Chiết Nhan. Cô cô đứng nhảy múa trên những cành đào, vì cách rất xa, chỉ có thể nhìn thấy bóng áo hồng giữa đào hoa thắm sắc, dáng vẻ vô cùng uyển chuyển, vô cùng uyển chuyển”.

Chúng tiên lại được một trận xì xào, than thở rằng một giai nhân khuynh quốc khuynh thành như vậy cũng bị từ hôn, ý trời thật là khó đoán. Sau khi bàn tán hồi lâu, cũng hài lòng thỏa mãn mà bỏ đi hết thảy.

Sau đó, thiếp mời đến dự tiệc đầy tháng con của Đông Hải Thủy Quân phát đi đã loan ra khắp bốn bể tám cõi, đó đều là chuyện sau này.

***

Con gái lớn của Nhược Thủy Thần Quân gả đi Đông Hải chưa đầy ba năm đã sinh cho Đông Hải Thủy Quân thêm một đứa con trai, hai nhà Nhược Thủy, Đông Hải đều hỉ hả vui mừng.

Đông Hải Thủy Quân lại càng đắc ý vô cùng, thiếp mời dự tiệc mừng đầy tháng con trai đã phát đi khắp thiên hạ, đến động Hồ Ly mà cha, mẹ ta ở cũng có thiếp đưa tới.

Cha, mẹ đã ngao du thiên hạ mấy trăm năm. Đại ca, nhị ca, tam ca kế tiếp nhau lập gia thất rồi chia đất phong, tứ ca thì đến Tây Sơn tìm Tất Phương điểu – vật cưỡi đã đi lạc từ lâu. Vì thế, động Hồ Ly này hiện giờ chỉ có một mình ta.

Ta cầm tấm thiếp trên tay, giơ ra ánh sáng của rèm nước bên ngoài động hắt chiếu vào suốt hồi lâu, nhớ lại khi mẹ sinh ta bị khó sinh, hình như đã mời bà đỡ nhà cụ cố của Đông Hải Thủy Quân đến giúp, nhờ thế mẹ bớt cực khổ đi rất nhiều, cho nên liền chọn một viên dạ minh châu bằng trái bí ngô non, chuẩn bị đi Đông Hải một chuyến.

Khả năng nhớ đường của ta vốn không được tốt lắm.

Trước khi đi bèn đến chỗ lão Mê Cốc ngay sát vách xin lấy một cành nhỏ trên cây Mê Cốc.

Cây Mê Cốc vốn có gỗ màu đen, hoa Mê Cốc ngũ sắc thơm lừng. Nhưng hoa này ngoài công dụng dùng để chiếu sáng vào ban đêm ra thì không có công dụng nào khác.

Hiểu thấu lòng ta vẫn là nhành Mê Cốc, chỉ cần đeo một nhành bên người thì sẽ không bị lạc đường.

Bản thể của lão Mê Cốc vốn là một cây Mê Cốc già, từ thuở hồng hoang đã mọc trên núi Chiêu Diêu ở Nam Hoang.

Khi mẹ mang thai tứ ca đã cãi nhau với cha, phật ý nên bỏ nhà ra đi, lạc đường đi tới núi Chiêu Diêu, lúc cha đến tìm mẹ, sợ rằng lần sau mẹ một mình bỏ nhà đi sẽ lại bị lạc đường, cho nên dứt khoát đánh cây Mê Cốc duy nhất trên núi Chiêu Diêu về Thanh Khâu, trồng ở trước cửa nhà.

Thanh Khâu là chốn tiên cảnh non bồng, cây Mê Cốc này được tắm táp trong tinh hoa của trời đất, hấp thu thời tiết bốn mùa, sau ba năm đã tu thành hình người. Lại qua ba ngàn năm nữa, đã vừa vặn tọa hóa thành một địa tiên.

Cha lại đưa cho lão ta mấy bó trúc gọi là quà chúc mừng, lão bèn dùng mấy bó trúc đó và ít cỏ gianh, xây ba gian nhà bên cạnh động Hồ Ly, làm hàng xóm của chúng ta.

Vì là thần tiên của nước Thanh Khâu, cũng theo các tiểu tiên khác, lão ta gọi cha ta một tiếng “quân thượng”.

Lão Mê Cốc thực ra không già, hai nghìn năm sau khi ta chào đời lão mới tu thành hình người, môi đỏ răng trắng, hai mắt như hoa đào cứ long lanh chớp chớp.

Tiên nữ của Thanh Khâu hầu hết đều nhờ mẹ mai mối cho lão ta, nhưng chẳng được mối nào.

Lão Mê Cốc nhìn bề ngoài thì phong lưu, nhưng thực chất lại vô cùng lễ độ. Mỗi lần gặp ta, lão đều chắp hai tay, cung kính gọi một tiếng “cô cô”, khiến ta thấy thật dễ chịu.

Lần này, lúc lão Mê Cốc đưa nhành cây nhỏ cho ta, thần sắc có chút u uất, có lẽ là trong sinh hoạt có điều gì đó không được hài hòa lắm, nhưng ta xưa nay chưa bao giờ tính toán với lão ta.

Sau khi lấy được đồ, ta bèn bắt quyết, gọi mây lành tới, đi thẳng đến Đông Hải.

Phía đông của Đông Hải có một rừng đào rộng mười dặm.

Tam ca nghe nói ta đến Đông Hải dự tiệc, từng gửi thư đến, bảo ta khi quay trở về nhớ qua phủ của Chiết Nhan xin lão ta hai bình rượu Đào Hoa Túy.

Chiết Nhan chính là chủ nhân của rừng đào mười dặm đó, lão là một con phượng hoàng già đến mức không nhớ nổi mình đã bao nhiêu tuổi nữa.

Mẹ nói, Chiết Nhan chính là con phượng hoàng đầu tiên được sinh ra từ buổi khai thiên lập địa. Phụ thần đích thân nuôi dưỡng lão ta, địa vị còn cao quý hơn Thiên Quân ngày nay đến vài phần.

Lúc ta chào đời, thế gian này đã chẳng còn dấu tích của Phụ Thần.

Cha mẹ đưa ta đến gặp Chiết Nhan, lão ta nhíu mày, cười với cha: “Đây chính là cô nương mà nương tử ngươi mới sinh thêm phải không? Trông nhỏ quá”.

Mối quan hệ giữa Chiết Nhan và nước Thanh Khâu chủ yếu bắt đầu từ mẹ ta.

Nghe nói vạn vạn năm về trước, Chiết Nhan từng cầu thân mẹ ta, sính lễ cũng đã đưa đến trước cửa.

Nhưng người mà mẹ ta ưng lại là kẻ đầu gỗ – cha ta, cho nên bướng bỉnh một mực không chịu nhận lời.

Vì thế Chiết Nhan mới đánh nhau một trận thỏa thích với cha ta, đánh xong, hai người liền kết nghĩa huynh đệ.

Năm sau, cha cử kiệu tám người khiêng tới đón mẹ về Thanh Khâu, còn mời Chiết Nhan làm chủ hôn.

Luận về thứ bậc, ta và mấy vị ca ca đều phải gọi Chiết Nhan là bá phụ.

Nhưng lão ta xưa nay không chịu nhận già, kiên quyết cho là mình vẫn còn trẻ lắm, ai dám cả gan gọi lão là “ông”, lão liền hận người đó tới cả ngàn vạn năm.

Cho nên, chúng ta chỉ còn cách run sợ mà theo cha mẹ gọi tên lão mà thôi.

Tuy Chiết Nhan là một tay ủ rượu có nghề, nhưng lại không thích chè chén say sưa chốn yến tiệc.

“Bậc thượng thần thần bí rút khỏi tam giới, chẳng màng hồng trần, thú vui tao nhã, phẩm vị còn trang nhã hơn cả thú vui” chính là cách lão miêu tả bản thân.

Vì thế đối với những thiếp mời lão dự tiệc uống rượu chung vui của các thần tiên gửi tới, xưa nay lão chỉ cười để đấy mà thôi.

Chúng tiên mời lão chung vui, vốn cũng là bày tỏ ý làm thân với một vị thượng thần tuy không nhậm chức gì nhưng địa vị lại cao sang. Bên này lão ở hơi lâu thì bên kia các thần tiên cũng đặt điều, nói rằng vị thượng thần nhàn tản này chỉ có thể tôn kính chứ không thể gần gũi, cho nên, ý muốn mời lão tiếp cũng tan dần.

Chiết Nhan vui với sự thanh tịnh, một lòng vui thú điền viên giữa rừng hoa đào thắm sắc.

Đến bên bờ Đông Hải, ta bấm ngón tay tính giờ, bây giờ cách lúc khai tiệc đúng một ngày rưỡi.

Nhớ tới lời dặn dò của tam ca, ta bèn chuyển hướng đi về phía phủ đệ của Chiết Nhan, xin lão ta một vò Đào Hoa Túy. San hai bình gửi về cho tam ca, lại rót một bình, kèm theo viên dạ minh châu làm quà mừng gửi tới Đông Hải Thủy Quân, chỗ còn lại thì chôn dưới động Hồ Ly để từ từ thưởng thức.

Đây chính là lúc hoa đào nở rộ, rừng đào mười dặm nở đầy hoa, sắc hoa tươi thắm bao phủ núi rừng, hương thơm ngào ngạt.

Ta men theo con đường quen thuộc đi về phía rừng đào sâu hun hút, vừa nhìn đã thấy Chiết Nhan khoanh chân xếp bằng ngồi gặm đào, quả đào rất to, chỉ nháy mắt đã chỉ còn trơ cái hạt.

Chiết Nhan cười hì hì vẫy tay gọi ta: “Chẳng phải tiểu nha đầu nhà họ Bạch đây sao, đúng là càng lớn càng xinh đẹp. Qua đây!”. Lão vỗ vỗ vào khoảng đất trống bên cạnh mình, “Ngồi xuống đây nào, để cho ta ngắm kỹ xem sao”.

Thần tiên trong khắp cõi trời đất này, cũng chẳng có mấy người thân phận cao tới mức có thể gọi ta là tiểu nha đầu.

Ba tiếng “tiểu nha đầu” tự nhiên khiến ta có một ảo giác rằng mình hãy còn trẻ lắm, làm ta thích thú vô cùng.

Ta ngoan ngoãn nghe lời ngồi xuống, Chiết Nhan liền lau lau tay vào vạt áo của ta.

Ta đang suy nghĩ xem phải mở lời như thế nào mới có thể thuận lợi lấy được vò rượu đó thì đã nghe Chiết Nhan cười hì hì: “Ngươi ở Thanh Khâu mấy vạn năm, chuyến này đi quả thực rất hay”.

Ta ngẩn người ra một lúc, không rõ câu này của lão là ý gì, chỉ cười đáp lại: “Hoa đào ở đây nở đẹp quá, đẹp tuyệt”.

Lão càng cười khoái chí hơn: “Mấy hôm trước, Bắc Hải Thủy Quân có dẫn vợ đến đây ngắm hoa mấy ngày liền. Lần đầu tiên ta nhìn thấy tiểu nương tử của hắn, đúng là rất ngây thơ, đáng yêu”.

Lần này thì ta cười không nổi.

Tiểu nương tử của Bắc Hải Thủy Quân ấy còn gọi là Thiếu Tân, cái tên này là do ta đặt cho.

Cũng không nhớ rõ bao nhiêu năm về trước, ta và tứ ca đi chơi ở hồ Động Đình, trong đám cỏ lau cao bằng nửa người bỗng phát hiện ra một con mãng xà còn nhỏ bị hành hạ đến mức chỉ còn thở thoi thóp.

Ta nhìn thấy đáng thương, bèn xin tứ ca cho mang nó về Thanh Khâu.

Con mãng xà nhỏ khi ấy đã tu thành tinh, tuy rằng vẫn còn non nớt nhưng cũng đã tạm có thể thành hình người, đó chính là Thiếu Tân. Thiếu Tân dưỡng thương mất hai năm ở Thanh Khâu, sau khi thương thế đã khỏi, nói muốn báo đáp ơn của ta nên ở lại đó.

Khi đó cha, mẹ ta đã không còn ở Thanh Khâu, động Hồ Ly do tứ ca ta làm chủ, tứ ca sắp xếp cho nàng ta làm tỳ nữ chuyên quét dọn. Trước đó, động Hồ Ly không có một tỳ nữ nào, công việc quét dọn đều do ta làm.

Ta vui mừng vì được nhàn nhã, cả ngày rong chơi chẳng thèm về nhà, cứ qua qua lại lại nhà của đại ca, nhị ca, tam ca và Chiết Nhan suốt.

Ngày tháng trôi qua bình yên như thế cũng được hai năm, một ngày kia cha mẹ trở về Thanh Khâu, nói rằng đã đính ước hôn sự cho ta. Vị hôn phu tương lai chính là Bắc Hải Thủy Quân – Tang Tịch.

Khi đó, Tang Tịch vẫn là con trai thứ được sủng ái nhất của Thiên Quân, sống trên Cửu Trùng Thiên, còn chưa bị biếm phong đến Bắc Hải ngày nay.

Thiên Quân công bố chuyện đính ước của ta và Tang Tịch khắp bốn bể tám cõi, thần tiên các lộ không ai là không biết.

Những người biết tin, ai ai cũng đến nhà trò chuyện thăm hỏi, nhân thể chúc mừng đôi câu.

Tứ ca và ta không chịu nổi phiền phức, thế là dứt khoát thu dọn tay nải cùng trốn đến rừng đào của Chiết Nhan.

Chuyến trốn chạy này đã sinh chuyện.

Khi ta ăn đào no nê quay trở lại Thanh Khâu thì đã chẳng thấy Thiếu Tân đâu cả, trong động Hồ Ly đầy bụi chỉ còn lại một phong thư từ hôn của Tang Tịch. Trong thư nói rằng hắn với Thiếu Tân lâu ngày nảy sinh tình cảm, không thể không lấy Thiếu Tân, chỉ biết xin lỗi ta mà thôi, vân vân và vân vân.

Ta cho rằng đây chẳng phải là việc gì ghê gớm lắm. Một là, ta còn chưa bao giờ gặp mặt Tang Tịch, nói gì đến chuyện có tình cảm gì gì đó; hai là, thời gian Thiếu Tân sống cùng ta không dài, cho dù có tình cảm cũng khó có thể nói là sâu sắc; ba là, đến súc vật sống trong rừng còn được lựa chọn đối tượng tương xứng, chúng sinh bình đẳng, đâu có lý Tang Tịch bị tước đoạt mất quyền này.

Nhưng việc này lại om xòm tới tận Thiên Quân.

Nhưng lại không phải là ta làm um lên.

Nghe nói Tang Tịch đích thân dắt tay Thiếu Tân quỳ trước sân rồng của Thiên Quân, nói rằng muốn cho Thiếu Tân một danh phận.

Không lâu sau, chuyện này đã loan đi khắp nơi.

Người người đều nói: “Con gái nhà họ Bạch ở Thanh Khâu thật đáng thương, trước đây cứ tưởng rằng là mối lương duyên, không ngờ mới đính ước chưa được ba năm đã bị hôn phu vứt bỏ, sau này còn lấy được ai nữa đây?”.

Cũng có kẻ nói nhăng cuội: “Không biết ả mãng xà đó đẹp nghiêng nước nghiêng thành thế nào, mà còn có thể hơn được cả hồ ly trắng chín đuôi chim sa cá lặn?”.

Lúc ấy, cha, mẹ, đại ca, nhị ca, tam ca và Chiết Nhan mới biết rằng ta bị từ hôn.

Chiết Nhan lập tức lôi phụ mẫu ta lên Cửu Trùng Thiên để hỏi tội Thiên Quân.

Quá trình cụ thể ta cũng không được rõ. Chỉ biết rằng sau đó Tang Tịch bị thất sủng, Thiên Quân vội vã phong cho hắn ta chức Bắc Hải Thủy Quân, cũng có nghĩa là đày hắn đi Bắc Hải. Còn về hôn sự của hắn và Thiếu Tân, thì trước sau vẫn không công nhận.

Về chuyện này, chỉ có một lần duy nhất mẹ ta phát biểu cảm tưởng: “Thằng nhãi chết tiệt, thế là đã dễ dàng cho nó lắm rồi”.

Chiết Nhan ngược lại lại rất tốt bụng, nửa góp vui nửa oán trách, chỉ than một câu: “Vì một người con gái mà hủy hoại tiền đồ của mình, sao phải khổ thế?”.

Khi đó, ta còn nhỏ chưa hiểu chuyện, luôn cảm thấy nhân vật chính chính là Tang Tịch và Thiếu Tân không có quan hệ gì với ta, ta không hề bị thiệt thòi.

Sau này, Thiên Quân đích thân ban chỉ trước sân rồng. Thiên chỉ ấy đại ý nói, tuy ngôi thái tử vẫn chưa định, nhưng con gái của họ Bạch ở Thanh Khâu – Bạch Thiển đã được Thiên tộc lựa chọn làm con dâu, tương lai sau này sẽ là Thiên Hậu nương nương.

Nói một cách khác, nghĩa là, các con trai của ông ta, ai muốn kế ngôi Thiên Quân, thì không thể không cưới Bạch Thiển ở Thanh Khâu.

Rõ ràng là long ân, nhưng long ân này quả thực quá lớn. Mấy người con trai của Thiên Quân vì tránh bị hiềm nghi là tranh giành ngôi báu, nên cơ bản không qua lại với ta. Đương nhiên, ta cũng không bao giờ đi thăm bọn họ. Mà các thần tiên khác cũng nể mặt Thiên tộc, không dám mạo phạm Thiên tộc, mạo hiểm đến đặt sính lễ ở chỗ cha ta. Từ đó, ta hoàn toàn không có ai để mắt tới.

Ba trăm năm trước, Thiên Quân phong cho trưởng tôn là Dạ Hoa Quân làm thái tử, chuẩn bị kế ngôi hoàng đế.

Ta hoàn toàn không biết chút gì về tên Dạ Hoa này. Chỉ nghe nói sau khi Tang Tịch bị lưu đày, vì tư chất của mấy người con của Thiên Quân đều hết sức tầm thường, Thiên Quân sớm tối u sầu lo lắng. May mà ba năm sau đó, con trai lớn là Ương Thố sinh thêm một đứa cháu hết sức thông minh mẫn tuệ, khiến cho Thiên Quân vui mừng khôn xiết.

Đứa cháu này chính là Dạ Hoa.

Theo như thiên chỉ mà Thiên Quân ban bố năm nào, ta phải thành thân với tên Dạ Hoa Quân này. Về phía Dạ Hoa, nghe nói đã từng lấy một người tên là Tố Cẩm làm thứ phi, vô cùng sủng ái, còn sinh ra một tiểu thiên tôn, nên tự nhiên chẳng màng tới hôn sự với ta. Còn về phía ta, tuy không có ý trung nhân như hắn, nhưng hễ cứ nghĩ tới hắn ta sinh sau ta tới gần mười vạn năm, luận về thứ bậc còn phải gọi ta một tiếng cô cô, luận về tuổi tác phải gọi ta một tiếng lão tổ tông, thì chẳng thể cam tâm tình nguyện chủ động nhắc đến hôn sự này. Cứ dùng dằng mãi như thế cho đến tận bây giờ, đã trở thành trò cười cho khắp bốn bể tám cõi này.

Làm ra cơ sự này đều do Bắc Hải Thủy Quân, ta sao lại không thấy thiệt thòi, mà là quá thiệt thòi, thế nên cũng tự nhiên bắt đầu tránh mặt cái kẻ gây họa là hắn.

Ta cứ trăn trở mãi chuyện Chiết Nhan đặc biệt nhắc đến Bắc Hải Thủy Quân, tuyệt đối không phải muốn ta phải phiền muộn, mà là ném hòn gạch đi, kéo viên ngọc về, để dẫn ra những lời sau, cho nên ta phải vội vàng làm ra vẻ hứng thú, rửa tai cung kính lắng nghe.

Khóe miệng lão ta nhếch càng cao hơn: “Tiểu nương tử đó nghén dữ dội lắm, chưa đến mấy vạn năm mà đã sinh cho Bắc Hải Thủy Quân ba đứa con, đứa trong bụng bây giờ nghe nói là đứa thứ tư, có thể thấy mãng xà thực sự là mắn đẻ. Tiểu nương tử kia bị nghén cả ngày chỉ đòi ăn đào, vào lúc này, hoa đào nở khắp nơi nơi, nhưng nói đến đào, thì khắp gầm trời cuối đất, ngoài chỗ của ta ra thì không thể kiếm được ở đâu. Vì thế Bắc Hải Thủy Quân phải mặt dày đến gõ cửa nhà ta, hắn ta đã khẩn cầu như thế, ta cũng chẳng hẹp hòi gì mà không cho”.

Ta chẳng biết làm gì hơn, đành cúi đầu vân vê mấy nếp gấp trên váy. Đối với hành vi yêu hận không rõ ràng này của lão, ta có chút tức giận.

Lão ta lại cười hì hì, nói: “Xem ngươi kìa, mặt xanh lét cả rồi. Chỉ là mấy trái đào tránh sinh con thôi mà”.

Ta ngẩng phắt đầu lên, có lẽ động tác này hơi đột ngột, nên không cẩn thận va phải cằm lão đang hạ thấp xuống.

Lão không hề để bụng, lại chọc ta: “Nhìn xem, nghe nói cho đôi phu thê nhà người ta mấy trái đào tránh sinh con, chốc lát mà đã mềm lòng rồi sao? Nghe ta nói này, mấy trái đào tránh sinh con đó chẳng qua chỉ là giúp nhà Bắc Hải Thủy Quân tạm thời trong mấy vạn năm không thể sinh thêm đứa thứ năm mà thôi, chứ chẳng ảnh hưởng gì tới phúc đức nhà hắn ta, cũng chẳng tổn hại gì đến âm đức của ta”.

Thực ra, Bắc Hải Thủy Quân có thêm ngũ hoàng tử lúc nào cũng chẳng can hệ gì đến ta, mấy trái đào tránh sinh con đó ăn vào cũng chẳng thể làm chết người được. Năm đó, nếu không phải là hắn ta từ hôn, thì đâu gây ra một đống rắc rối này. Lần này Chiết Nhan đã dạy dỗ hắn một trận, thật ra ta cũng có chút tán thưởng lão. Nhưng Chiết Nhan cho rằng ta hay mềm lòng thì ta chẳng biết nói gì hơn, chỉ đành im lặng thừa nhận mà thôi. Lão lại vỗ về ta một chặp, đại ý nói rằng cả nhà Thiên Quân là bọn khốn kiếp, đến đời đời con cháu cũng chỉ là lũ khốn kiếp không hơn không kém.

Mắng xong, lão lại bắt đầu trêu chọc ta.

Mấy vạn năm nay chúng ta chưa gặp nhau, có lẽ lão cũng nhàn nhã đến phát điên, bao nhiêu chuyện vụn vặt, từ ống tre cho đến hạt đậu, đều đem ra kể với ta tuốt tuồn tuột.

Lúc đầu ta vẫn còn nhớ đến chuyện vò Đào Hoa Túy, nhưng chẳng mấy chốc mà ù hết cả đầu, quên béng mất việc phải xin vò rượu.

Đợi đến khi màn đêm gần buông xuống, vẫn là Chiết Nhan nhắc ta: “Tiểu tam có nhờ ta cất cho hắn hai bình rượu, đã chôn dưới cây tế tân trụi lá bên cạnh Bích Dao Trì ở phía sau núi, đêm nay ngươi nghỉ ở đó, nhân tiện đào rượu lên mang về cho tiểu tam, hai bình rượu này đừng có phung phí, cũng đừng uống trộm”.

Ta nhếch miệng: “Người cũng thật nhỏ mọn đấy”.

Lão xoa xoa mái tóc ta: “Thứ rượu ấy quả thực ngươi không uống được, nếu như muốn uống, ngày mai hãy đến hầm rượu của ta, mang được bao nhiêu thì ngươi cứ mang thỏa thích”.

Ta làm ra vẻ hết sức cảm tạ, nhưng trong lòng lại thầm quyết định, hai bình Đào Hoa Túy đó ta sẽ uống trộm, mà rượu trong hầm của lão ta cũng sẽ mang đi bằng hết.

Chương 2: Ba trăm năm sau, bỗng dưng trùng phùng

Căn nhà tranh mà tứ ca dựng cho ta lừng lững bên Bích Dao Trì. Khi đến tá túc ở phủ của Chiết Nhan, ta vẫn luôn ở đó một mình.

Khi rời khỏi rừng đào vào năm đó, căn nhà tranh này đã rất cũ kỹ, đến nay, trải qua mưa gió mấy trăm năm, nó vẫn có thể lừng lững ở đó, khiến ta vô cùng khâm phục.

Lấy ra viên dạ minh châu chiếu xung quanh, nhờ có Chiết Nhan để tâm, chăn đệm giường chiếu trong căn nhà đều đầy đủ cả, vì thế ta rất hài lòng.

Chiếc cuốc bằng đá dựng bên cạnh cửa chính là chiếc cuốc mà ta dùng để đào hố trồng cây đào năm nào. Giờ dùng nó vào việc đào hai bình Đào Hoa Túy lên, thật là vừa hay.

Đêm nay trăng trên Cửu Trùng Thiên sáng và tròn hiếm thấy, cây tế tân mà Chiết Nhan nói cực kỳ dễ tìm.

Ta làm điệu bộ vung chiếc cuốc đá lên bổ xuống chỗ đất thịt dưới gốc cây tế tân, thật may mắn, vừa nhìn đã thấy bình rượu bằng ngọc Đông Lĩnh nằm dưới lớp đất mềm, sắc xanh lóng lánh hắt lên mấy chiếc lá tế tân. Ta vui mừng vội vàng moi nó lên, vừa ôm lấy vừa vọt lên nóc nhà. Căn nhà run lên hai cái, cuối cùng vẫn đứng vững không bị sập.

Trên nóc nhà, gió đêm thổi lành lạnh, ta húng hắng mấy tiếng, mò mẫm mở miệng bình đã bị niêm phong kín. Trong giây lát, rừng đào mười dặm đẫm mùi thơm của rượu. Ta nhắm mắt hít một hơi thật sâu, lại càng bội phục tuyệt kỹ nấu rượu của Chiết Nhan hơn nữa.

Bình sinh ta ít làm những chuyện phong lưu, uống rượu cũng là một trong số đó. Uống rượu cũng cần phải đầy đủ thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Đêm nay sông dài trăng tròn, ấy chính là thiên thời; mười dặm rừng đào ở Đông Hải, ấy chính là địa lợi; trên mái nhà tranh ngoài ta ra, còn có mấy chú quạ đậu lại, miễn cưỡng cũng có thể gọi là nhân hòa. Ta cầm bình rượu, nhấm nháp mấy ngụm, sau khi chẹp chẹp mấy tiếng, lại cảm giác, mùi vị Đào Hoa Túy trong bình đây có chút gì không giống với hương vị ta từng được nếm. Nhưng lại nghĩ có lẽ vì quá lâu không được uống rượu của Chiết Nhan nấu, mơ hồ lẫn lộn mùi vị, nên cũng mặc kệ. Nhấp từng ngụm lại từng ngụm, tuy không có đồ nhắm nhưng trước cảnh trăng lạnh hồ biếc, cũng không đến nỗi nào.

Chẳng mấy chốc đã uống hết nửa bình. Gió thổi mơn man, hơi rượu ngà ngà lan tỏa, ta đã hơi mơ màng.

Màn đêm đen thẳm trước mắt tựa như một chiếc màn chụp lên, cơ thể bỗng bùng lên một ngọn lửa, thiêu đốt đến mức máu cũng sôi lên ùng ục. Ta lắc lắc đầu, run run tay xé toang vạt áo, toàn thân vã mồ hôi, như muốn bốc hơi, tựa như có ngàn vạn con giòi bọ bò trong xương tủy. Thần trí trở nên mê loạn, chẳng còn nổi một chút minh mẫn, chỉ là mang máng cảm thấy nó không giống với cơn say rượu thông thường. Cơn nóng này ép ta đến mức không còn đường lui, hoàn toàn không biết phải dùng bấm quyết (1) gì để nén nó xuống, hoặc là bất cứ thần chú nào cũng không thể nén nó xuống nổi.

Ta loạng choạng đứng dậy muốn buông mình nhảy xuống Bích Dao Trì cho mát, nhưng lại lảo đảo nhún một cái, từ mái nhà ngã thẳng xuống dưới đất.

Nhưng lạ một cái là cơ thể lại không có cảm giác đau đớn khi tiếp đất, chỉ cảm thấy trong nháy mắt ta đã bị một thứ man mát ôm lấy, ngã xuống nhưng lại mát đi rất nhiều.

Ta cố gắng mở to mắt, mơ hồ nhận ra trước mặt ta là một bóng người, toàn thân mặc đồ đen tuyền, nhưng đó không phải là Chiết Nhan.

Trời đất quay cuồng, ánh trăng bàng bạc chiếu tỏ mười dặm rừng đào sắc hoa tươi thắm, lá hoa mơn mởn, Bích Dao Trì ngay gần đó cũng bốc hơi mờ mịt, phút chốc biến thành một màn lửa trời ngùn ngụt.

Ta vội vàng nhắm mắt, cơ thể đã nóng tới mức phát đau, chỉ biết cố hết sức dựa vào nơi phát ra hơi lạnh đó, khi ngẩng đầu lên, má áp vào da ở cằm của hắn ta như chạm phải khối ngọc mát lạnh. Những ngón tay đã không còn nghe theo lời của ta, ta run run cởi đai áo của hắn, hắn bắt đầu đẩy ta. Ta vội vàng bám lấy vỗ về: “Đừng sợ, đừng sợ, ta chỉ muốn làm mát tay thôi”. Hắn càng cự tuyệt dữ dội hơn nữa.

Mười mấy vạn năm nay, ta chưa bao giờ dùng mê hồn thuật dụ dỗ kẻ nào, đêm nay lại không có cách nào khác. Khi im lặng cố gắng tập trung niệm lực để mở to mắt nhìn hắn, trong lòng ta cứ thấp thỏm không yên, không biết đã bao lâu không dùng tới phép thuật này, không biết bây giờ dùng có hiệu nghiệm hay không. Hắn rõ ràng tỏ vẻ hơi nghi hoặc, đôi mắt u ám khó lường, rồi chầm chậm ôm lấy ta.

Chim trĩ gáy lên ba hồi, ta mới từ từ tỉnh lại, láng máng cảm thấy đêm qua giống như một giấc mộng đẹp. Trong mơ, ta dáng vẻ phong lưu, cợt nhả một chàng thiếu niên con nhà lành. Ta cố nhớ lại kỹ hình dáng của chàng thiếu niên, nhưng chỉ nhớ được chiếc áo choàng đen tuyền và rừng đào mười dặm thắm sắc hoa.

Rừng đào của Chiết Nhan vốn cách Đông Hải không xa lắm. Ta cũng chẳng vội gì, đi tới hầm rượu phía sau núi lấy ba vò rượu cũ, lại đem nửa bình Đào Hoa Túy cất vào tay áo, rồi mới chào tạm biệt Chiết Nhan rời đi.

Lão ta lẩm bẩm dặn dò ta sau khi về phải nhớ bảo tứ ca qua giúp lão cày mấy mẫu ruộng xấu trước núi.

Hôm nay quả thực là đại cát, ta giơ tay lên kéo dải lụa thắt ngang mày xuống. Tiên khí chờn vờn lưng chừng trời Đông Hải, mây lành từng đóa từng đóa đơm bông, xem ra thần tiên các lộ đã tụ họp đông đủ.

Ta rút từ trong tay áo ra một dải lụa trắng rộng chừng bốn ngón tay, buộc thật chặt quanh mắt, chuẩn bị xuống nước.

Đông Hải cái gì cũng tốt, chỉ có điều Thủy Tinh cung lại quá sáng lóa, mà đôi mắt của ta, ba trăm năm trước đã không thể nhìn thấy những gì quá sáng.

Mẫu thân nói đó là bệnh bị mắc từ khi còn trong bụng mẹ.

Mẫu thân kể khi hoài thai ta, đúng là lúc Thiên Quân giáng nạn đại hồng thủy để trừng phạt dân chúng chín châu bốn bể tám cõi. Khi ấy mẫu thân vì ốm nghén, chỉ thích ăn quả hợp hư trên núi Hợp Hư, dường như đã coi nó là thức ăn chính. Trận đại hồng thủy đó vừa giáng xuống, núi Hợp Hư của Đại Hoang Đông Hải ngập trong mênh mông nước, đến ngọn cỏ cũng chẳng sống nổi. Mẫu thân chẳng có quả hợp hư để ăn, ăn gì cũng không trôi, cũng chẳng biết mùi vị là gì, cơ thể gầy yếu đi trông thấy. Sau khi sinh ra ta, cũng chỉ là một con tiểu hồ ly nhăn nhúm, lại mang theo tật lạ ở mắt. Tật lạ này đã ẩn mình trong cơ thể ta suốt mười mấy vạn năm, vốn chung sống hòa bình với ta, nào ngờ ba trăm năm trước do một lần bị thương hàn cho nên mới bộc phát. Cũng may mà phụ thân ta mượn được huyền quang dưới suối vàng tạo thành một dải lụa trắng che ánh sáng cho ta, đến những nơi có ánh sáng chói lọi ta có thể đeo nó lên, cũng không có gì quá vướng víu.

Ta nhúng nhúng tay xuống chỗ nước nông nhất, nước Đông Hải lạnh quá, ta rét run lên, vội vàng dùng tiên khí để hộ thân. Đột nhiên sau lưng có tiếng “tỷ tỷ, tỷ tỷ” gọi ta vang lên.

Ta ngẫm nghĩ phụ thân mẫu thân ta chỉ sinh hạ được năm huynh muội ta, sau ta nào có tiểu hồ ly nào đâu. Quay người lại, một bầy thiếu nữ tuổi xuân phơi phới đã đứng trước mặt ta, người nào người nấy phục sức gấm hoa, có lẽ là gia quyến của thần tiên lộ nào đó đi dự tiệc.

Tiểu cô nương áo tím dẫn đầu vẻ mặt có chút tức tối: “Công chúa nhà ta gọi ngươi, sao ngươi không thưa?”.

Ta ngây người ra giây lát, nhìn thiếu nữ áo trắng đứng giữa bảy, tám người đó, trâm cài trên đầu nhiều nhất, hạt trân châu đính trên mũi giầy gấm lớn nhất, liền quay sang gật gật đầu với nàng ta: “Cô nương gọi ta có việc gì?”.

Gò má trắng như ngọc của thiếu nữ áo trắng ửng hồng: “Lục Tụ nhìn thấy tiên khí quấn quít quanh người tỷ tỷ, nghĩ rằng tỷ tỷ cũng là thần tiên đi dự yến ở Đông Hải, đang muốn nhờ tỷ tỷ dẫn đường cho Lục Tụ, chẳng ngờ mắt của tỷ tỷ…”.

Thực ra dải lụa trắng băng quanh mắt cũng không ảnh hưởng tới việc ta nhìn các sự vật, huống hồ còn có Mê Cốc chỉ lối, dẫn đường chẳng qua cũng chỉ là chuyện nhỏ, bèn gật đầu đồng ý với nàng ta: “Ta đúng là đến dự yến, mắt ta không sao cả, mấy người hãy cứ theo sau ta”.

Đi dưới nước thực vô cùng vô vị, may mà đám thị nữ của công chúa Lục Tụ rất om xòm, họ cứ tưởng rằng mình đang nói rất khẽ, tiếc là tai của loài hồ ly ta lại rất thính, nên ta đã vô tình nghe được không ít chuyện hay.

Một người nói: “Đại công chúa ngỡ đã cắt đuôi chúng ta, để chúng ta không thể tới dự yến được, nàng ta sẽ có thể đứng đầu, nhưng chẳng ngờ rằng chúng ta vẫn có thể tìm đường đến, lúc nào tới nơi sẽ tố cáo nàng ta trước mặt Thủy Quân, để Thủy Quân trừng phạt nàng ta đóng cửa suy ngẫm mấy trăm năm ở Nam Hải, xem xem nàng ta còn dám coi thường người khác như thế này nữa không”.

Hóa ra là gia quyến của Nam Hải Thủy Quân.

Một người khác nói: “Đại công chúa đẹp thì có đẹp, nhưng vẫn còn kém xa công chúa, xin công chúa hãy an lòng, chỉ cần công chúa đến thì đại công chúa chẳng chiếm nổi ngôi đầu trong tiệc đầy tháng này đâu”.

Hóa ra là hai tỷ muội ghen ăn tức ở với nhau.

Một người lại nói: “Thiên hậu tuy đã được lập, nhưng Dạ Hoa Quân ắt hẳn chẳng ưng lão thái bà ở Thanh Khâu đó, công chúa có vẻ đẹp chim sa cá lặn như thế, lần này đến Đông Hải dự yến nếu như có thể tâm đầu ý hợp với Dạ Hoa Quân thì có thể coi là chuyện vui nhất từ khi Bàn Cổ khai thiên tới nay”.

Mãi lúc sau ta mới phản ứng lại, hóa ra “Lão thái bà ở Thanh Khâu” kia là nói ta, bỗng cảm thấy thời gian qua mau, thế sự đổi thay, thật là dở khóc dở cười.

Công chúa Lục Tụ đó hơi sẵng giọng: “Chớ nói bừa”, đám thị nữ liền ngoan ngoãn nghe lời, im bặt.

Đi khoảng chừng nửa tiếng, mới đến Thủy Tinh cung sâu ba ngàn trượng dưới đáy Đông Hải này.

Ta cực kỳ băn khoăn liệu ban nãy có phải đã chọn nhầm đường ở chỗ rẽ hay không, vì lâu đài cung điện nguy nga tráng lệ trước mặt hoàn toàn khác xa với những gì trong ký ức của ta, thực sự không hề dát chút thủy tinh sáng lóng lánh nào.

Công chúa Lục Tụ cũng trợn mắt há mồm ngây ra, chỉ vào bức tường cung điện màu xanh thẫm, hỏi ta: “Có phải là cỏ thanh hạnh phủ trên tường không?”.

Ta là loài thú chạy sống trên đất bằng, đương nhiên là kém hiểu biết về các loài thủy sinh, chỉ có thể gượng cười theo: “Hình như là thế”.

Sự thực đã chứng minh cành Mê Cốc mà lão Mê Cốc đưa cho ta có chất lượng cực kỳ đảm bảo, thứ đen thui này, quả thực chính là Thủy Tinh cung của Đông Hải Thủy Quân.

Hai cung nga đứng chờ bên cửa cung vừa nhìn thấy công chúa Lục Tụ vẫn đang ngây người liền vội vàng đón lấy thiệp mời của nàng ta, dọc đường rẽ hoa vạch liễu, dẫn tám người chúng ta đi vào trong.

Ta hơi bùi ngùi, chẳng ngờ Đông Hải Thủy Quân đời nay, phẩm vị cao quý, sao lại có sở thích quái lạ này. Suốt dọc đường, đáng lý ra Thủy Tinh cung phải lấp lánh rực rỡ, đằng này lại còn tối tăm hơn cả động Hồ Ly của phụ mẫu ta. May mà dọc đường có gắn vài viên dạ minh châu tỏa ra thứ ánh sáng dìu dịu, mới không làm ta vấp ngã.

Còn mấy canh giờ nữa mới khai yến, nhưng thần tiên các lộ đã tụ tập trong đại điện, cứ hai người một cặp. Nhớ lại năm xưa khi phụ thân ta mở tiệc mừng thọ, các tân khách tuy không vắng mặt nhưng không có ai là không sát giờ mới đến cả. Còn bây giờ, chỉ là tiệc mừng đầy tháng của con trai Đông Hải Thủy Quân mà bất luận là thần tiên lớn nhỏ đều ùn ùn kéo đến như vậy. Ngẫm lại thế đạo thực sự đã đổi thay, chúng tiên bây giờ đại để đều nhàn rỗi đến phát sợ.

Hai cung nga dẫn công chúa Lục Tụ đến trước mặt Đông Hải Thủy Quân.

Nét mặt của vị Đông Hải Thủy Quân đời nay cũng có vài phần phong thái giống tổ tiên của hắn ta.

Ta rớt lại sau cùng, liền lẩn vào đám thần tiên, quay người muốn kêu một nô tỳ dẫn ta đến nhà ngang để nghỉ ngơi một chút. Đi đường cả nửa ngày trời ta cũng thấm mệt, nhưng nào ngờ hết thảy sinh vật sống trong đại điện này đều đang ngây ngất ngắm nhìn công chúa Lục Tụ kia.

Khách quan mà nói thì dung mạo phong thái của Lục Tụ nếu ở giữa các vị thần thời viễn cổ thì hết sức bình thường, còn kém xa mấy vị tẩu tẩu của ta. Xem ra, thần tiên thời nay chẳng có mỹ nhân nào.

Ta không nhẫn tâm cắt ngang tâm trạng si mê ngơ ngẩn của họ, bèn tìm chỗ trống chuồn đi, định bụng tìm một chỗ nào đó đánh một giấc, đợi đến lúc khai tiệc sẽ đến tặng lễ vật, ăn tiệc rồi sớm chuồn về.

Rẽ vòng vèo hồi lâu mà vẫn không tìm được một nơi thích hợp, đúng là làm người ta tức chết đi.

Đương lúc chuẩn bị quay về đại điện thì ta bỗng nhận ra mình không tìm được phương hướng. Tìm trong tay áo mới phát hiện nhánh Mê Cốc đã không còn. Hay rồi đây, dựa vào bản lĩnh nhận đường của ta thì đừng nói là khai yến, trước khi yến tiệc kết thúc mà có thể kịp quay về là đã phải tạ ơn trời đất lắm rồi. Cũng chẳng còn cách nào khác, chỉ còn cách đi bừa tìm đường mà thôi.

Thế nên ta đã vào nhầm hậu hoa viên của nhà Đông Hải Thủy Quân.

Không thể không nói rằng, tòa hậu hoa viên này phối hợp hết sức hài hòa với phong cách của cả tòa cung điện, khắp nơi một màu xanh mượt, sáng rực long lanh, thực có dáng dấp của một mê cung xinh đẹp. Từ khi ta lạc vào đây đã hơn một canh giờ mà vẫn không tìm nổi đường ra.

Hóa phép thổi bay cái khu vườn quỷ quái này cũng là một ý hay, nhưng làm vậy thật là thất đức. Nghĩ thế, lòng ta dâng trào một cảm giác thê lương vô hạn. Khi sự thê lương lên đến cực điểm bỗng thấy sáng lòng.

Nhặt dưới đất một cành cây không biết tên, nhắm mắt lại, ném nó đi, cành cây rơi xuống, chỉ về con đường phía bên trái. Ta phủi phủi tay, hết sức hài lòng rẽ sang bên phải.

Sự thực đã chứng minh hành động vứt cành cây để chỉ đường của ta là hết sức sáng suốt.

Một canh giờ trước đó, ta còn đi tới đi lui trong khu vườn đó, chớ nói là người, đến muỗi cũng chẳng gặp một con. Nhưng lần này chỉ đi có chừng trăm bước, đã gặp ngay một cục bột sống.

Cục bột đó trắng bóc, trên đầu còn có hai cái sừng nhỏ, mặc một chiếc áo bào gấm màu xanh thẫm, chui ra từ một bụi san hô màu xanh cao gấp đôi người nó, nếu như không chú ý thì sẽ tưởng nó với bụi san hô kia là một.

Nhìn giống như con trai của một vị thần tiên nào đó.

Ta thấy nó cúi đầu nhổ những cây cỏ thanh hạnh trên bụi san hô thì lấy làm thú vị, bèn bước tới hỏi: “Cục bột nhỏ, ngươi đang làm gì đó?”.

Nó không hề ngẩng đầu lên: “Nhổ cỏ đó, phụ quân bảo san hô sống dưới đám cỏ này chính là thứ đẹp nhất ở đáy biển Đông Hải, ta chưa từng nhìn thấy nên muốn nhổ lên xem sao”.

Phụ quân, hóa ra là một tiểu thế tử của Thiên tộc.

Ta thấy dáng vẻ nhổ cỏ của nó rất vất vả, không kìm được muốn giúp một tay, bèn lấy chiếc quạt từ trong tay áo giơ ra trước mặt nó, quan tâm nói: “Dùng cái quạt này, quạt khẽ một cái, đám cỏ thanh hạnh sẽ bay hết, san hô sẽ ra ngay”.

Tay trái nó vẫn dứt dứt mấy cọng cỏ, tay phải ngoan ngoãn nghe lời đón lấy chiếc quạt trong tay ta, cực kỳ tùy ý quạt một cái. Trong nháy mắt, cuồng phong nổi giữa đất bằng làm nghiêng ngả cả Thủy Tinh cung. Nước biển sâu thẳm vọt lên hơn chục trượng, tung bọt trắng xóa. Chỉ mất chút xíu công phu mà tòa Thủy Tinh cung của Đông Hải Thủy Quân u ám tối tăm là thế bỗng được thay diện mạo mới, tất cả chỉ có thể dùng hai chữ “sáng lòa” để miêu tả.

Ta hơi sững sờ.

Chiếc quạt Phá Vân đó có thể phát huy uy lực lớn như vậy thì ắt hẳn người dùng quạt phải có tiên lực cao đến nhường nào. Ta thực không ngờ cục bột nhỏ này lại lợi hại như thế, chỉ phẩy khẽ một cái, mà đã làm đảo lộn phong cách của toàn bộ Thủy Tinh cung, đúng là có lỗi với Đông Hải Thủy Quân.

Cục bột nhỏ ngã nhào ra đất, trợn mắt há mồm, mắt trân trân nhìn ta, lắp bắp: “Có phải ta gây họa rồi không?”.

Ta quay đầu lại, khó khăn lắm mới có thể gật đầu với nó: “Gây họa e rằng không phải chỉ có mình ngươi, chiếc quạt đó hình như là do ta đưa cho ngươi…”.

Trong khoảnh khắc, hai mắt của cục bột nhỏ bỗng nhiên mở to. Ta ngẫm nghĩ, có lẽ là do dải lụa trắng che kín ba phần tư khuôn mặt của ta đã làm cho nó sợ hãi rồi chăng.

Ta đoán không trúng mở đầu, lại càng đoán sai kết cục. Chỉ thấy cục bột nhỏ nhào đến ôm lấy chân ta như một cơn gió, miệng gào to: “Mẫu thân…”.

Ta ngây ra.

Nó cứ ôm cứng lấy chân ta, kêu lên thống thiết như xé gan xé phổi, vừa chân thành thề thốt lại vừa trách móc ta: “Mẫu thân, mẫu thân, cớ sao người nỡ vứt bỏ A Ly và phụ quân…” nhân thể bôi nước mắt nước mũi tèm lem vào một góc váy của ta.

Ta bị nó kêu cho đến mức phát hoảng, đang định lục lại ký ức để giúp nó, xem xem trong suốt mười mấy vạn năm bãi bể nương dâu có đúng là ta đã thực sự vứt bỏ con trai bao giờ không, thì sau lưng bỗng vang lên một giọng nói thật trầm, thật khẽ: “Tố… Tố?”.

Cục bột nhỏ ngẩng phắt đầu lên, gọi một tiếng “phụ quân” bằng chất giọng hết sức non nớt, nhưng vẫn ôm chặt lấy chân ta.

Ta bị nó lôi xềnh xệch, mệt đến nỗi không quay nổi người. Cũng lại vì hơn nó không biết bao nhiêu đời nên ngại ngùng không dám cúi người xuống gỡ những ngón tay đang bám chặt của nó ra, chỉ có cách đứng đờ tại chỗ mà thôi.

Kẻ được gọi là phụ quân đó rảo bước tiến đến trước mặt ta.

Vì khoảng cách thực sự quá gần, ta lại cúi đầu, lọt vào tầm mắt ta chỉ có một đôi ủng màu đen và một vạt trường bào đen tuyền có hoa văn thêu chìm.

Hắn thở dài một tiếng: “Tố Tố”.

Hai tiếng “Tố Tố” ấy, rõ ràng là gọi thượng thần ta đây.

Tứ ca thường nói ta hay đãng trí, nhưng ta vẫn nhớ chuyện của mười mấy vạn năm nay, có người từng gọi ta là Tiểu Ngũ, có người gọi ta là A Âm, cũng có người gọi ta là Thập Thất, đương nhiên hầu hết mọi người gọi ta là cô cô, nhưng chưa từng có ai gọi ta là Tố Tố.

Đúng lúc cục bột nhỏ đưa hai tay dụi dụi mắt, ta vội vàng lui về phía sau một bước, ngẩng đầu lên mỉm cười: “E rằng tiên hữu mắt kém đã nhận lầm người”.

Ta nói xong nhưng hắn vẫn chẳng có phản ứng gì, ta càng kinh ngạc hơn. Ly ly nguyên thượng thảo (2), xuân miên bất giác hiểu(3), khuôn mặt phụ thân của cục bột nhỏ kia thực sự quá giống với ân sư truyền nghiệp của ta – Mặc Uyên.

Nhưng rốt cuộc ta vẫn chưa đến nỗi nhận nhầm hắn là Mặc Uyên.

Bảy vạn năm về trước xảy ra đại loạn của Quỷ tộc, sông dài dậy sóng, lửa đỏ ngút trời, Mặc Uyên đã nhốt Quỷ Quân Kình Thương trong chuông Đông Hoàng bên bờ Nhược Thủy, còn mình thì tu vi (4) cạn kiệt, hồn bay phách tán. Ta liều mạng ôm lấy thân thể của người quay về Thanh Khâu, đặt trong động Viêm Hoa, mỗi tháng đều trích một bát máu tim của mình để nuôi dưỡng.

Mặc Uyên là con trưởng của Phụ Thần, là thượng thần cai quản âm nhạc và chiến tranh của chốn nhân gian, ta chưa bao giờ tin rằng sẽ có một ngày người có thể chết đi, cho dù đến bây giờ, ta vẫn không tin. Cho nên ta chỉ âm thầm chờ đợi, mỗi tháng lấy một bát máu tim để nuôi người, vì sẽ có một ngày, người sẽ nửa cười nửa không, khẽ gọi ta một tiếng “Tiểu Thập Thất”.

Nghĩ đến đó, ta không khỏi thoáng đau lòng.

Nhưng tình cảnh trước mắt dường như không thích hợp đau lòng, thương cảm. Chính là ứng nghiệm với câu nói này, sau kinh ngạc tất sẽ càng kinh ngạc hơn.

Ta còn chưa định thần trở lại thì phụ thân của cục bột nhỏ đã phất tay áo gỡ dải lụa trắng băng mắt ta xuống, theo phản xạ ta nhắm nghiền hai mắt lại. Hắn đưa tay lên khẽ áp vào trán ta.

Cục bột nhỏ đứng một bên run run gào lên: “Đồ háo sắc, đồ háo sắc”(5).

Bao nhiêu năm nay tình tính ta vốn rất hòa nhã, ngay cả Hồng hồ ly là Phượng Cửu năm xưa từng nhổ sạch cỏ linh chi trước động của ta để nấu món Phật trèo tường ta còn không thèm so đo với nó. Nhưng lúc này, gân xanh trên trán ta đang giật giật dưới bàn tay người đó.

“Hỗn xược”, bao năm nay chưa từng sử dụng câu nói này, bây giờ ôn lại, quả nhiên có chút lạ lẫm.

Cục bột nhỏ chạy tới kéo kéo tà váy ta, khiếp sợ kêu lên: “Mẫu thân giận rồi sao?”.

Phụ thân cục bột nhỏ hồi lâu không có động tĩnh gì. Lại rất lâu sau, cuối cùng lấy dải lụa trắng băng lại mắt cho ta, rồi mới nói: “Đúng thế, đúng là ta nhận nhầm người, nàng ấy chưa bao giờ có dáng vẻ ngoài hung hăng trong nhút nhát như nàng, cũng không có dung mạo khuynh thành như nàng. Vừa nãy ta đã mạo phạm rồi”.

Ở khoảng cách gần như thế này ta mới nhìn rõ, trên ống tay, vạt áo cẩm bào đen tuyền của hắn, đều in hoa văn rồng cùng một màu.

Tuy mấy vạn năm nay chưa từng ra khỏi Thanh Khâu, các lễ nghi cơ bản của thần tiên ta vẫn còn nhớ sơ sơ, ngoài gia tộc của Thiên Quân ra, trên là Cùng Bích, dưới là Hoàng Tuyền, cho dù là thần tiên phương nào, tiêu dao tới đâu cũng chẳng ai dám thêu hoa văn rồng trên áo bào. Lại nhìn lại cục bột nhỏ đang được bế trên tay hắn, ta thầm nhủ, thanh niên mặc áo bào gấm màu đen tuyền này, có lẽ chính là người cháu trưởng được Thiên Quân yêu mến – Dạ Hoa Quân.

Đáng tiếc cho dáng vẻ như cây ngọc trước gió ấy, tuổi tác trẻ trung, nhưng rốt cuộc lại phải chịu thành thân với lão thái bà là ta đây, đúng là phải khiến cho người ta nắm tay mà than thở, đúng là ông trời bất công, quả thực quá bất công.

Vì mối quan hệ này, ta luôn cảm thấy có lỗi với hắn ta. Cho nên trước mắt là ta bị mạo phạm, nhưng vì nghĩ rằng hắn chính là Dạ Hoa Quân, nên trong lòng đã nảy sinh một ảo giác rằng ta đã mạo phạm hắn, chỉ có cách cười trừ: “Tiên hữu khách sáo quá”.

Hắn nhìn ta một cái, ánh mắt lạnh lùng thâm trầm.

Ta bước sang bên cạnh một bước, nhường đường cho hắn. Cục bột nhỏ vẫn quệt mũi gọi ta là mẫu thân.

Ta cho rằng dù sớm muộn gì ta cũng sẽ làm mẹ kế của nó, nên chỉ mỉm cười mà tự nhiên tiếp nhận.

Dạ Hoa nắm chặt tay cục bột nhỏ, mau chóng biến mất sau một ngã rẽ.

Cho đến bây giờ, ta mới chợt nhớ ra, thả cho cha con hắn đi rồi, vậy ai sẽ là người dẫn ta ra khỏi vườn hoa đây?

Vội vàng đuổi theo, nhưng đến bóng người cũng chẳng thấy tăm hơi.

Chú thích:

1. Bấm quyết: Hình thức thực hiện phép thuật, tay bấm độn, hoặc làm một tư thế nào đó, miệng đọc thần chú.

2. Ly Ly nguyên thượng thảo: Một câu thơ trong bài “Phú đắc cổ nguyên thảo tống biệt” của Bạch Cư Dị

3. Xuân miên bất giác hiểu: Một câu thơ trong bài “Xuân hiểu” của Mạnh Hạo Nhiên.

4. Tu vi: Chỉ tố chất, tu dưỡng và năng lực của một người. Ở đây chỉ công phu tu luyện của các bậc thần tiên, các yêu quái.

5. Nguyên văn là “Đăng Đồ Tử”: Đăng Đồ Tử là một đại phu người nước Sở, từng dèm pha Tống Ngọc là đồ háo sắc trước mặt vua Sở. Vua Sở cho gọi Tống Ngọc để hỏi đầu đuôi, Tống Ngọc đáp: “Không có chuyện đó, kẻ háo sắc không phải thần mà chính là Đăng Đồ Tử”. Tống Ngọc mới lý luận rằng: Ông có một cô gái hàng xóm vô cùng xinh đẹp, người người ước ao, nhưng hai người không làm điều gì trái lế, đến nhìn ngắm cô gái ấy cũng không dám. Nên không thể nói Tống Ngọc là háo sắc. Còn đại phu Đăng Đồ Tử, có người vợ rất xấu nhưng không hề chán ghét, cùng vợ sinh liền năm người con. Theo lý thì chính Đăng Đồ Tử mới là kẻ háo sắc. Sở Tương Vương nghe cũng có lý nên bỏ qua. Từ đó về sau, cụm từ “Đăng Đồ Tử” dùng để chỉ kẻ háo sắc. Người dịch dịch thoát ở đây để mạch văn thông suốt. (ND)

Chương 3: Thiếu phụ này rất bất hạnh

Đi tới lui ở chỗ rẽ mà cha con Dạ Hoa vừa biến mất, ta nhìn trái ngó phải, chợt phát hiện ở hướng bắc, có một cô gái ăn mặc trang nhã trang điểm đơn giản đang rảo bước về phía ta.

Ta nheo mắt nhìn hồi lâu, sung sướng phát hiện, ngày hôm nay chắc chắn là một ngày cực kỳ đặc sắc mà lại như mộng ảo.

Người con gái đó tuy bước đi vội vã, tuy bụng rất to nhưng tư thế vẫn rất nhẹ nhàng uyển chuyển. Ta lấy chiếc quạt Phá Vân nâng lên nâng xuống, suy nghĩ xem nếu như quạt từ trái qua phải một cái, liệu có thể quạt thẳng nàng ta từ Đông Hải đến Bắc Hải hay không. Nhưng vừa liếc thấy chiếc bụng to đó, cuối cùng lại mềm lòng cất chiếc quạt đi.

Đến trước mặt ta, nàng ta quỳ phục xuống.

Ta nghiêng người bước qua một bên, không muốn nhận một lạy kia, nàng ta lại đi bằng đầu gối qua với dáng vẻ vô cùng thống thiết đau khổ.

Ta đành phải dừng lại.

Nàng ta nhìn ta, mắt đẫm lệ, bề ngoài chẳng có gì thay đổi, khuôn mặt tròn trĩnh trông càng bầu bĩnh, mềm mại hơn năm vạn năm trước rất nhiều. Hình như những người đang mang thai đều béo lên như thế.

Ta ngẫm nghĩ mãi, thần tiên đời nay rốt cuộc coi mình hạc xương mai là đẹp hay coi béo tròn mũm mĩm mới là đẹp, nghĩ mãi mà không ra, cho nên chỉ còn cách tự nhắc nhở mình chớ nhắc đến chuyện thể hình, chớ nhắc đến chuyện thể hình, để tránh nói ra điều gì làm mất thể diện.

Mấy vạn năm chưa gặp, tuy rằng ta vẫn còn ôm chút oán hờn với nàng ta, nhưng rốt cuộc vẫn là bậc trưởng bối, nàng ta lại hành lễ chu toàn, ta cũng không thể để mất phong độ được.

Đôi mắt nàng ta vẫn sáng lấp lánh như sao, mắt ầng ậc nước ngẩng lên nhìn ta, làm ta lạnh buốt cả sống lưng, rồi mới đưa tay gạt lệ mà nghẹn ngào: “Cô cô”.

Cuối cùng ta cũng không kìm được, đành mở miệng: “Thiếu Tân à, sao ngươi lại béo như thế này?”.

Nàng ta ngây ra, gò má bỗng đỏ ửng, tay phải vỗ nhè nhẹ lên cái bụng đang nhô cao, có chút gì đó bối rối, ngập ngừng đáp: “Thiếu Tân, Thiếu Tân…”.

Ngập ngừng hồi lâu, đại để cũng hiểu là những lời vừa rồi của ta cũng chỉ là màn chào hỏi mà thôi, chứ không phải thực sự muốn hỏi nàng ta vì sao lại béo thế, lại vội vàng vàng phủ phục thi hành đại lễ với ta, nói: “Vừa nãy, vừa nãy, có một trận cuồng phong từ hoa viên này khiến đất bay, nước chảy ngược dòng, Thiếu Tân, Thiếu Tân nghĩ có lẽ là do quạt Phá Vân, có lẽ là cô cô, nên vội vàng chạy tới xem sao, quả nhiên, quả nhiên…”. Vừa nói nước mắt đã lưng tròng.

Ta không biết vì sao nàng ta lại rơi nước mắt, có điều cũng không thấy ghét.

Quạt Phá Vân từng là món đồ chơi mà ta cho nàng ta, khi đó vết thương của nàng ta mới lành, luôn có cảm giác không được an toàn, ta bèn cho nàng ta quạt Phá Vân, còn dặn dò: “Nếu như có kẻ dám bắt nạt ngươi, hãy lấy chiếc quạt này ra quạt hắn, chỉ cần quạt một cái là hắn sẽ bay ra khỏi Thanh Khâu”. Tuy rằng chưa bao giờ thực sự dùng tới, nhưng nàng ta vẫn coi chiếc quạt là bảo bối, lúc nào cũng mang theo bên mình, nhưng khi đi khỏi động Hồ Ly, nàng ta đã bỏ nó lại.

Thực lòng mà nói, loài mãng xà phàm có thể tu thành nữ nhân thì không thể xinh đẹp mê hồn. Nhưng Thiếu Tân là ngoại lệ, có lẽ vì ngay từ khi còn nhỏ đã bị ức hiếp quá nhiều, cho dù đến Thanh Khâu dưỡng khỏi vết thương thì nàng ta vẫn chỉ là con chim sợ cành cây cong. Khi đó, phóng tầm mắt khắp Thanh Khâu, ngoài ta và tứ ca ra, chẳng có ai có thể lại gần nàng ta. Đến lão Mê Cốc có mấy vạn thiếu nữ mê đắm chủ động chào hỏi nàng ta, nàng ta cũng trốn tránh.

Cho đến một ngày, mối tình của tiểu mãng xà âm thầm hé nở, nàng thêu một chiếc túi thơm để tặng tứ ca ta, gửi gắm mối tâm tình trong đó. Nhưng đáng tiếc là cái tên đầu gỗ đó lại đem túi thơm tặng lại cho Chiết Nhan, sau khi ra về còn tìm riêng Thiếu Tân, hớn hở khoe rằng Chiết Nhan rất thích hoa văn của chiếc túi thơm đó, nhưng màu sắc lại không đúng ý của lão ta, có thể giúp lão ta thêu một chiếc túi mầu ngó sen, hoa sen được không? Vành mắt Thiếu Tân liền đỏ lên.

Từ đó về sau, Thiếu Tân lại càng cẩn thận, yếu đuối hơn nữa.

Tiếp sau đó, là nàng ta cùng Tang Tịch trốn đi, Tang Tịch từ hôn với ta.

Thực ra đến giờ ta vẫn không hiểu, tiểu mãng xà luôn khiếp sợ năm đó sao lại không có chút phòng bị nào với Tang Tịch, cuối cùng còn cùng hắn trốn đi.

Tứ ca nói: “Điều này vẫn còn phải nghĩ sao, đến nửa phần là Tang Tịch nhìn thấy Thiếu Tân xinh đẹp trẻ trung, nhất thời mê đắm tâm loạn, nên mới lấy gậy đánh cho Thiếu Tân ngất đi, cho vào bao tải gai rồi vác lên vai chạy đi”.

Khi đó tứ ca đang cùng Chiết Nhan soạn một cuốn sách, tên là “Thiên mở đầu khảo chứng về tình sử các vị thần viễn cổ”. Lúc đó huynh ấy đang viết tới phần có chủ đề là những tình yêu bắt đầu từ việc cướp người bắt đi.

Ta ngẫm nghĩ một hồi, suy cho cùng đây cũng là suy luận rút ra từ nền tảng chuyên ngành, nên cũng cho là đúng.

Cảnh ấy tình ấy, ta vốn có thể phẩy tay áo mà đi, nhưng chỉ cần nhìn thấy dáng vẻ đáng thương của Thiếu Tân là lại mềm lòng. Bên cạnh vừa hay có một chiếc ghế đá, ta hít một hơi thật sâu, ngồi xuống: “Mấy vạn năm ta chưa ra khỏi Thanh Khâu, lại chẳng ngờ lần này có thể gặp được cố nhân. Không có chuyện thì chẳng đến điện Tam Bảo, Thiếu Tân, ngươi đã biết ta không muốn gặp ngươi, lại cứ quỳ trước mặt ta, ắt là có điều muốn cầu xin ta, ta với người chủ tớ ở cùng nhau, ngày ngươi xuất giá ta cũng không chuẩn bị chút gì làm của hồi môn, lần này vừa hay để bổ sung. Ta bằng lòng thực hiện một ước muốn cho ngươi, nói đi, ngươi muốn gì?”.

Nàng ta chỉ đờ đẫn nhìn ta: “Thiếu Tân đoán cô cô sẽ giận, nhưng, nhưng tại sao cô cô không muốn gặp Thiếu Tân?”.

Ta sửng sốt vô cùng, sau khi sửng sốt lại thoáng nghĩ, ở hoàn cảnh của ta lúc này, không thể vui vẻ mà gặp nàng ta, nhưng thực tình cũng có thể tha tội. Nhưng mà, làm thế nào để có thể nói ra một cách vừa hàm súc, vừa nhã nhặn rằng ta không muốn gặp nàng ta thực ra là do giận lây người khác, đó cũng lại là một vấn đề.

Còn chưa đợi được câu trả lời của ta, nàng ta lại lê gối đi lên hai bước, vội vàng nói: “Cô cô chưa bao giờ gặp Tang Tịch, cô cô cũng nói là sẽ không thích Tang Tịch, cô cô và Tang Tịch có thành hôn cũng sẽ không vui vẻ gì. Tang Tịch thích Thiếu Tân, Thiếu Tân cũng thích Tang Tịch, cô cô mất đi Tang Tịch thì vẫn còn có thể có được người tốt hơn, Dạ Hoa Quân chẳng phải tốt hơn Tang Tịch trăm lần, nghìn lần sao? Dạ Hoa Quân còn là Thiên Quân tương lai. Nhưng Thiếu Tân, Thiếu Tân mất đi Tang Tịch, thì, thì chẳng còn gì hết. Thiếu Tân ngỡ rằng, Thiếu Tân ngỡ rằng cô cô là vị thần tiên thấu hiểu đại nghĩa, cô cô sẽ giận Thiếu Tân vì không nói câu nào mà đã tự ý rời khỏi Thanh Khâu, chứ tuyệt đối, tuyệt đối không giận chuyện Thiếu Tân và Tang Tịch thành hôn. Cô cô, cô cô không phải luôn hy vọng Thiếu Tân có thể đường đường chính chính sống trên đời sao?”.

Mấy vạn năm không gặp, tiểu mãng xà năm nào đã trở nên mồm mép như vậy rồi. Tạo hóa thật thần kỳ, thời gian còn thần kỳ hơn cả tạo hóa.

Ta lật lại quạt Phá Vân, tẩn mẩn sờ vào mặt quạt, rồi hỏi nàng ta: “Thiếu Tân, ngươi hận những kẻ đồng tộc ức hiếp ngươi trong bụi lau năm xưa chứ?”.

Nàng ta nửa nghi hoặc nửa hoang mang, cuối cùng vẫn gật đầu.

“Ngươi cũng biết rằng, thực ra trong số họ có một số người, không hẳn muốn ức hiếp ngươi, chỉ là nếu như họ đưa tay ra bảo vệ, che chắn cho ngươi, thì họ cũng sẽ bị ức hiếp, cho nên họ chỉ còn cách theo những kẻ mạnh nhất đi ức hiếp kẻ yếu nhất là ngươi?”.

Nàng ta lại gật đầu.

Ta chống má nhìn nàng ta: “Ngươi có thể tha thứ cho những kẻ bị ép phải ức hiếp ngươi không?”.

Nàng ta cắn răng, lắc đầu.

Vòng vo một hồi như vậy, cũng coi như đã diễn tả được những suy nghĩ trong lòng, ta cảm thấy cực kỳ vui vẻ và an lòng, đến ngữ khí cũng nhẹ nhàng đi mấy phần: “Đã như vậy, Thiếu Tân, ngẫm người mà suy ra mình, ta không muốn gặp ngươi, thực ra cũng là chuyện hợp tình hợp lý mà thôi. Ta là một nữ thần, phải tu luyện mười mấy vạn năm mới lên đến bậc thượng thần, cho thấy rằng tính cách và nhận thức thấp đến mức thảm hại, thực sự không thể coi là thần tiên thấu hiểu đại nghĩa, ngươi đã quá khen rồi”.

Nàng ta bỗng mở to mắt nhìn ta.

Một mỹ nhân như vậy, ta nhất thiết phải làm cho nàng ta kinh hãi như thế, bản thượng thần đang làm điều ác đây, làm điều đại ác đó mà…

Nhưng khi ta cúi đầu nhìn xuống chân mình thì cũng không khỏi mở to mắt.

Cục bột nhỏ vốn đã chịu rời khỏi hoa viên bỗng không biết từ đâu chui ra đang khẽ nắm lấy chân váy ta, trên khuôn mặt trắng bóc là vẻ mặt cực kỳ không đồng tình: “Sao mẫu thân lại nói mình không phải là một vị thần tiên thấu hiểu đại nghĩa, mẫu thân chính là vị thần tiên thấu hiểu đại nghĩa nhất gầm trời cuối đất này”.

Ta im lặng hồi lâu, thực sự chẳng biết làm thế nào, hỏi nó: “Ngươi là Thổ Hành Tôn (6) hả?”.

Nó ngẩng đầu nhìn cây san hô phía sau lưng ta mà bĩu môi.

Trong bóng râm của cây san hô, Dạ Hoa bước ra, vẻ mặt khác xa khi nãy, khóe môi còn khẽ mỉm cười, chậm rãi nói: “Dạ Hoa không biết, cô nương đây chính là thượng thần Bạch Thiển của Thanh Khâu”.

Ta choáng váng, hai tiếng “cô nương” cất lên làm toàn thân ta nổi hết da gà. Còn hắn ta vẫn điềm nhiên như không.

Ta vỗ vỗ lên trán: “Lão thân không thiên vị bên nào, lớn hơn Dạ Hoa Quân chín vạn tuổi, Dạ Hoa Quân cũng nên theo thân phận mà gọi lão thân một tiếng cô cô đi”.

Hắn nửa cười nửa không: “A Ly gọi nàng là mẫu thân, ta lại gọi nàng là cô cô, ầy, Thiển Thiển, đây là đạo lý gì vậy?”.

Nghe thấy hai tiếng “Thiển Thiển (7)”, ta lại càng choáng hơn.

Thiếu Tân nhìn bọn ta, vẫn im lặng không lên tiếng.

Hoàn cảnh này khiến ta hơi bối rối. Đã mấy vạn năm nay ta chưa từng có thứ cảm xúc này, giờ đây đã được đích thân nếm trải, bỗng thấy cảm động mơ hồ một cách không đúng lúc.

Ta thở dài một tiếng chuyển chủ đề: “Ngươi nói lý lẽ với ta, vậy cha con ngươi trốn sau cây san hô đó nghe bao nhiêu chuyện riêng tư, rốt cuộc là có lý lẽ gì?”.

Người lớn không có phản ứng gì, kẻ nhỏ thì lập tức tụt từ đầu gối ta xuống, vội vàng chỉ vào con đường nhỏ phía sau cây san hô biện hộ: “Con và phụ quân không cố ý nghe trộm, phụ quân nói mẫu thân đang đuổi theo chúng con, cho nên mới từ con đường bên kia rẽ sang. Đi tới gần mới nhìn thấy vị phu nhân này và mẫu thân đang nói chuyện, chúng con đành phải tránh đi”.

Nó nhìn ta nơm nớp: “Mẫu thân, người đuổi theo bọn con, có phải vì không nỡ rời xa A Ly, muốn cùng A Ly và phụ quân về Thiên Cung phải không?”.

Ta cảm thấy suy luận này của nó quả thực quá phi thực tế, đang định lắc đầu, thì kẻ làm phụ quân kia lại gật đầu chắc như đinh đóng cột: “Đúng thế, mẫu thân đúng là không nỡ rời A Ly”.

Cục bột nhỏ vui mừng reo lên một tiếng, hoan hỉ nhìn ta, ánh mắt lấp lánh: “Mẫu thân, vậy khi nào chúng ta quay về Thiên Cung?”.

Dạ Hoa đáp thay: “Ngày mai sẽ quay về”.

Cục bột nhỏ lại vui mừng reo lên tiếng nữa, tiếp tục hoan hỉ nhìn ta, mắt càng sáng lấp lánh hơn: “Mẫu thân, phải về nhà thôi, đã lâu như vậy người chưa về nhà, có phải cảm thấy rất vui không?”.

Lần này Dạ Hoa lại không tiếp lời nữa.

Ta nghe thấy mình cười khan “ha ha” hai tiếng, nói: “Rất vui”.

Trước sau ta chẳng có nổi cơ hội để giải thích rõ, vừa nãy ta vội càng đuổi theo, là do chỉ muốn họ nhân tiện dẫn ta ra khỏi khu vườn quỷ quái này. Nháy mắt đã ra thế này, tuy rằng rối lung tung beng nhưng khác đường mà vẫn cùng một đích.

Từ khi Dạ Hoa xuất hiện, Thiếu Tân vẫn câm lặng quỳ dưới đất, trong ánh mắt ngước nhìn Dạ Hoa thi thoảng xuất hiện những tia phẫn nộ, bất bình.

Năm đó nếu như Tang Tịch không từ hôn, thì thái tử Thiên Quân ngày nay chắc chắn không đến lượt Dạ Hoa. Nhưng nhân quả nhân quả, Tang Tịch gieo nhân nào, thì sẽ gặt quả ấy. Ta chẳng qua lửa cháy đổ thêm dầu, trên cái quả lớn đó của hắn, góp thêm một chút giận dữ vô hại mà thôi, coi như là tu dưỡng tốt vậy.

Lúc sắp đi, ta đặt lại chiếc quạt Phá Vân vào tay Thiếu Tân, nói với nàng ta: “Ta chỉ cho ngươi một ước muốn, trở về suy nghĩ thật kỹ rốt cuộc muốn xin ta điều gì, nghĩ xong thì tới Thanh Khâu tìm ta, có chiếc quạt này Mê Cốc sẽ không cản ngươi nữa”.

Cục bột nhỏ nhìn chiếc quạt đó đầy vẻ tiếc nuối, mắt hau háu, nói: “Con cũng muốn”.

Ta xoa xoa đầu nó: “Vẫn còn là trẻ con, mang đồ vật có tính sát thương làm gì”. Rồi tiện tay lấy một viên kẹo từ trong tay áo ra, nhét vào miệng nó.

Cảm giác về phương hướng của Dạ Hoa quả thực rất tốt, điều này khiến ta vô cùng kinh ngạc.

Đến lối ra của hoa viên, ta âm thầm tính toán, cùng Dạ Hoa xuất hiện trong yến tiệc của Đông Hải chắc chắn không phải là cách làm thông minh, cho nên mới vẫy tay áo mà từ biệt hắn ta. Cục bột nhỏ lập tức diễn bộ dạng đau lòng còn hơn cả chết. Ta cực kỳ khó xử, chỉ còn cách làm trái lòng mình mà an ủi nó: “Bây giờ thực sự ta có chút chuyện cần phải làm, ngày mai nhất định sẽ đến gặp cha con ngươi”.

Cục bột nhỏ cũng hơi hơi hiểu lý lẽ, tuy vẫn không vui nhưng miệng vẫn méo xệch, ngoắc ngoắc tay với ta.

Dạ Hoa đứng bên cạnh cười nói: “Thiển Thiển không phải nàng sợ cùng hai cha con ta vào dự yến sẽ bị đàm tiếu gì đó chứ?”.

Ta hơi chột dạ, cười ha ha: “Dạ Hoa Quân cả nghĩ rồi”.

Hắn cười càng lúc càng tươi, dáng vẻ này có vài phần giống với phong thái của Mặc Uyên năm xưa.

Ta bị nụ cười ấy làm cho ngơ ngẩn một hồi, khi phản ứng lại được thì hắn đã nắm tay ta, khẽ nói: “Hóa ra Thiển Thiển cũng biết, ta và nàng vốn có hôn ước, thực sự thì đâu cần tránh hiềm nghi gì”.

Đôi tay hắn thon dài, đẹp đẽ, chẳng ngại ngần nắm lấy tay trái của ta, dáng vẻ dịu dàng, cử chỉ phóng khoáng. Thần thái của hắn giờ đây không hề giống với vị thần quân lạnh lùng khi gỡ dải băng trắng của ta xuống.

Trong lòng ta cảm xúc lẫn lộn, nghĩ rằng thế đạo ngày nay, thanh niên nam nữ đã có hôn ước đại để đều đùa cợt như thế, cớ sao đến trường hợp của bản thượng thần ta lại đặc biệt đến vậy. Tuy cũng đã làm ra chuyện phong lưu như thế này, nhưng cứ nghĩ đến khi ta sống trên cõi đời chín vạn năm thì hắn mới chỉ từ trong bụng mẹ chui ra, thực sự không khỏi có cảm giác, ta cùng hắn thân mật chính là đang phạm tội. Nhưng nếu rút vội tay ra thì chứng tỏ rằng ta không đủ độ lượng. Suy nghĩ tới lui, ta giơ tay phải lên chạm vào tóc hắn, tình sâu ý nặng than rằng: “Năm xưa khi ta và nhị thúc của ngươi đính hôn, ngươi hãy còn chưa ra đời, nháy mắt thôi, cũng đã lớn như thế này, đúng là bóng câu qua cửa, bãi bể nương dâu, năm tháng đúng thực là không tha ai cả”.

Hắn ngây người ra, ta thuận thế thu hai tay về, lại gật đầu với hắn một cái nữa, rồi cứ thế quay người bước đi.

Nào ngờ rằng nơi nơi trong cuộc sống đều có niềm vui bất ngờ, ta mới đi ba bước, Đông Hải Thủy Quân lẫm liệt uy nghi vừa nãy còn ở trong đại điện đã chầm chậm từ trên trời hạ xuống, tựa như một chiếc cột gỗ màu tím hồng, cắm sừng sững trước mặt ta, quát một tiếng “dừng bước”.

Hai tiếng “dừng bước” của hắn ta quả thực hết sức vô duyên vô cớ, con đường duy nhất đã bị hắn ta đứng chặn mất, đừng nói là bản thượng thần đang hóa thành hình người, dù có hóa thành con muỗi thì cũng khó mà len qua nổi.

Ta lùi về phía sau hai bước, thốt lên khen ngợi tự đáy lòng: “Thân pháp Thủy Quân giỏi lắm, bước thêm hai bước là lão thân bị ngươi chèn chết rồi”.

Gương mặt vuông chữ điền của hắn đỏ rực như san hô, vái Dạ Hoa một cái, lại cung kính hỏi han cục bột nhỏ hai câu, rồi mới quay người nhìn ta, khuôn mặt đậm vẻ sương gió, đôi mắt hổ rưng rưng nước mắt: “Không biết bản quân đắc tội với vị thần tiên nào, mà trong ngày vui của bản quân, vị đó đã thổi bay mất hoa viên của bản quân”.

Giây phút đó ta toát mồ hôi, hóa ra đã bị bại lộ.

Dạ Hoa đứng bên cạnh nhìn buồn bã, không ngừng đưa tay lên vuốt vuốt mái đầu óng mượt như tơ của cục bột nhỏ. Thực ra, cùng lắm ta chỉ được coi là tòng phạm, nhưng sau khi cục bột nhỏ gọi ta một tiếng mẫu thân, ta không thể khai ra nó được. Chuyện xấu hổ này chỉ có thể tự ta chịu mà thôi. Nhưng ta thực sự tò mò, rốt cuộc sao hắn ta có thể phát hiện phong cách thiết kế của khu vườn là do ta làm xáo trộn? Im lặng một hồi cuối cùng vẫn không nhịn được, ta bèn hỏi hắn.

Đông Hải Thủy Quân tức tới nỗi phùng mồm trợn mắt, tay chỉ vào ta, người run lên một hồi, lát sau bình tĩnh lại mới nói: “Ngươi, ngươi, ngươi thực quá vô lại, san hô tinh trong vườn nhà ta tận mắt nhìn thấy, trận cuồng phong vừa nãy là do một tiểu tiên mặc áo màu xanh lục gây nên, ngươi muốn chối là chối được sao?”.

Ta cúi đầu nhìn lại chiếc áo màu xanh đang khoác trên mình, lại ngẩng đầu nhìn cục bột nhỏ mặc áo màu xanh sẫm đang nắm tay Dạ Hoa, bất giác hiểu ra. Hai chữ tiểu tiên mà san hô tinh kia nhắc đến, e rằng Đông Hải Thủy Quân đã hiểu nhầm thành nghĩa khác. Một bên nói tướng mạo, còn một bên lại hiểu thành phẩm cấp. Cục bột nhỏ là con trưởng của Dạ Hoa, cháu của Thiên Quân, phẩm cấp đương nhiên rất cao. Mà dáng vẻ của ta lúc này quả thực không ra dáng một thượng thần. Đông Hải Thủy Quân muốn chỉ hươu làm ngựa (8), ngang ngược bất chấp mạng người, âu cũng có thể lượng thứ được.

Việc này vốn là do ta sai. Đông Hải Thủy Quân khó khăn lắm mới sinh được một đứa con trai, mở tiệc đầy tháng ăn mừng, tuy rằng ta nhận được thiệp hồng do hắn gửi đến mời làm khách, nhưng lại đem vận xui đến cho nhà người ta. Hắn ta tưởng rằng ta cố chối tội, ta lại không hề muốn chối, nhưng kẻ không biết thì không có tội, ta tuyệt đối không thiếu hiểu biết như hắn.

Đông Hải Thủy Quân đã không còn thể nhẫn nại hơn, vành mắt chực rách ra.

Ta nhớ kỹ lại mỗi lần Hồng hồ ly Phượng Cửu khai tội đều diễn bộ dạng phục tùng, liền bắt chước y như vậy, bèn cúi đầu cụp mắt, nói: “Thủy Quân dạy rất phải. Tiểu tiên hàng ngày canh giữ rừng đào mười dặm, lần đầu ra ngoài đã gây nên cơ sự này, làm mất hứng của Thủy Quân, cũng làm mất thể diện của thượng thần Chiết Nhan, tiểu tiên xấu hổ vô cùng, xin Thủy Quân hãy trừng phạt thật nặng”.

Dạ Hoa khẽ liếc nhìn ta một cái, sóng mắt dập dềnh.

Ta nghĩ rằng nếu như phải mất mặt, thì làm Chiết Nhan mất mặt vẫn còn hơn làm cha mẹ ta mất mặt.

Năm xưa, khi ta và tứ ca còn nhỏ dại, vẫn chưa hiểu chuyện, khi làm loạn bên ngoài vẫn thường mượn oai của Chiết Nhan. Nếu như làm chuyện gì tồi tệ đi chăng nữa, thì cùng lắm Chiết Nhan cũng chỉ mỉm cười, còn nếu như đến tai cha mẹ ta, thì chắc chắn đám lông hồ ly của chúng ta sẽ bị nhổ hết.

Đông Hải Thủy Quân sững sờ nhìn ta: “Vậy vị thượng thần ở rừng đào mười dặm không phải là, không phải là…”.

Hắn ta nín thở nghiêm mặt, vẻ mặt hết sức nghiêm trang nhã nhặn, rốt cuộc cũng nể vì Chiết Nhan. Thế nên ta cảm thấy, tên Thủy Quân mặt vuông chằn chặn này thực ra vẫn là một kẻ thực thà.

Mà người thật thà đều là bảo bối. Ta móc viên dạ minh châu to bằng trái bí ngô non ra, lại lấy kèm một bình rượu ủ đã lâu đặt vào tay hắn ta, thở dài, nói: “Thủy Quân còn chưa tin? Việc này cũng chẳng thể trách được Thủy Quân. Quân thượng nhà ta quả thực mấy vạn năm rồi chưa từng tiếp đãi vị tiên khách nào. Lần này là nhờ thượng thần Bạch Thiển của nước Thanh Khâu đến làm khách ở rừng đào, chẳng may mang bệnh, vì đã nhận thiếp của Thủy Quân trước đó, lại không muốn thất hứa với Thủy Quân, nên mới phái tiểu tiên tới Đông Hải. Đây là Thập Nguyệt châu, chính là quà chúc mừng của thượng thần Bạch Thiển; còn đây là rượu hoa đào do chính quân thượng nhà ta cất được, quân thượng còn dặn dùng nó để chúc mừng Thủy Quân. Nhưng chẳng ngờ lần này tiểu tiên lại gây ra họa lớn, thực sự, thực sự…”.

Ta muốn sụt sùi khóc lóc, nước mắt còn chưa kịp dồn đến khoang mắt thì gã Đông Hải Thủy Quân đó đã vội vàng khuyên nhủ: “Tiên sứ đường xa tới đây, không nghênh đón chu đáo là sơ xuất của tiểu thần, đó chẳng qua chỉ là một khu vườn, thế này cũng coi như sáng sủa hơn một chút, tiên sứ cứ tùy ý đến điện trước, cùng nhau cạn một ly nhé”.

Ta từ chối cả trăm lần, thì hắn nhiệt tình cả nghìn lần.

Dạ Hoa bước qua, cực kỳ tự nhiên nắm lấy tay ta nói: “Chẳng qua chỉ là uống một ly rượu, tiên sứ quá khách sáo làm gì”.

Trán ta toát mồ hôi, chỉ vào cánh tay phải bị Dạ Hoa tóm rất chặt, nói với Thủy Quân: “Kỳ thực, tiểu tiên lại là nam giả nữ”.

Đông Hải Thủy Quân trợn mắt há mồm, mãi lâu sau mới ngắc ngứ nói: “Thực là mối tình đoạn tụ (9) sâu sắc”.

Cứ tưởng rằng nói là đàn ông với đàn ông sẽ có thể tránh được hiềm nghi, nào ngờ thần tiên ngày nay cũng hiểu biết rộng đến vậy, lần này bản thượng thần ta quả thực có nhảy xuống sông Hoàng Hà cũng không rửa hết tiếng nhơ.

Chú thích:

6. Thổ hành tôn: Một nhân vật trong “Phong thần diễn nghĩa”, là đại đệ tử của Cù Lưu – Tôn – thần tiên phái Ngọc Hư.Thổ Hành Tôn thân hình nhỏ bé, bản lĩnh cao cường, nhờ thuật độn thổ mà được phong làm thần (ND).

7. Trong văn hóa xưng hô của người Trung Quốc, chỉ có người cực kỳ thân thiết hoặc người yêu mới được gọi láy tên. Ở đây Dạ Hoa gọi Bạch Thiển thân mật như vậy mới khiến Bạch Thiển vừa sửng sốt lại vừa ngại ngùng. (ND)

8. Chỉ hươu làm ngựa: xuất xứ từ Sử ký, Tần Thủy Hoàng bản kỷ. Tương truyền Triệu Cao mưu đồ giết vua soán vị, để thử xem trong quần thần có vị đại thần nào sẽ theo hắn ta, bèn dắt một con hươu đến trước mặt Tần Nhị Thế, nói rằng là ngựa. Tần Nhị Thế không tin, Triệu Cao bèn hỏi các đại thần. Các đại thần không dám trái ý Triệu Cao đều nói là ngựa, còn ai dám trái ý Triệu Cao đều nói là hươu. Sau này, những đại thần nói là hươu đều bị Triệu Cao hại chết. Người ta dùng thành ngữ “chỉ hươu làm ngựa” để hình dung một người không phân biệt phải trái, đen trắng lẫn lộn (ND).

9. “Đoạn tụ” có nghĩa là cắt tay áo, bắt nguồn từ câu chuyện về Đổng Hiền thời Tây Hán. Đổng Hiền vốn được Hán Ai Đế sủng ái, phong làm thái tử xá nhân. Có một lần, Đổng Hiền gối đầu lên tay áo của Hán Ai Đế ngủ, hoàng đế không lỡ đánh thức Đổng Hiền, bèn cắt tay áo của mình để đứng dậy. Người đời sau dùng từ “đoạn tụ” – cắt tay áo để chỉ những mối tình đồng giới (ND).

Đông Hải Thủy Quân đi trước dẫn đường, cục bột nhỏ một mình run run đi giữa, Dạ Hoa nắm tay ta đi sau cùng.

Chẳng qua ta chỉ nói dối một câu, câu nói dối này chủ yếu là để bảo vệ cục bột nhỏ, hắn có thể mắt nhắm mắt mở cho qua, vậy mà lại đối đầu với ta, quả thực là làm người ta phát điên lên.

Ta cũng chẳng thèm giữ phong thái của bậc thượng thần, dứt khoát dùng pháp thuật để tách ra khỏi hắn. Hắn mỉm cười một cái, cũng dùng pháp thuật để chặn ta lại.

Suốt dọc đường ta và hắn đấu lẫn nhau, hắn ỷ thế nên chẳng thèm kiêng dè, còn ta thì chốc chốc lại dè chừng động tĩnh của Đông Hải Thủy Quân phía trước nên phân tâm, đến cuối cùng vẫn là thảm bại.

Trước đó không lâu tứ ca từng nói với ta rằng, thế đạo ngày nay thực sự kém xa thời các thần tiên thượng cổ năm nào, chúng tiên chỉ biết tiêu dao tự tại cả ngày, tiên thuật chẳng thịnh, đạo phong suy đồi, thực khiến người ta đau lòng khôn xiết. Chẳng ngờ đạo pháp của Dạ Hoa lại tinh thâm đến mức này, đúng là “tiên thuật chẳng thịnh” ông nhà nó, “đạo phong suy đồi” con bà nó ấy chứ.

Đông Hải Thủy Quân quay đầu lại, bồi thêm một nụ cười, hai mắt vẫn nheo nheo nhìn ta và Dạ Hoa tay trong tay: “Quân thượng, tiên sứ, phía trước đã là đại điện rồi”.

Cục bột nhỏ reo lên một tiếng, khéo léo chạy đến nắm lấy cánh tay còn trống của ta, ra điệu bộ trang trọng uy nghiêm cháu trai của Thiên Quân.

Nếu đặt vào vị trí của ta hiện giờ là vị thứ phi đang ở tại Thiên Cung của Dạ Hoa thì xếp hàng như vậy quá hợp tình hợp lý, không có gì là quá đáng cả.

Ngày hôm nay, khi bái biệt Chiết Nhan, đáng nhẽ nên bảo lão bói cho ta một quẻ. Có lẽ hôm nay chính là ngày xung khắc với ngày sinh tháng đẻ của ta.

Cánh cửa bằng vàng bằng ngọc đó đã hiện ra trước mắt, đầu của thượng thần ta lúc này có chút nhói đau.

Thần tiên trong đại điên đều mỏi mắt chờ khai yến, Dạ Hoa vừa lộ diện, họ bèn quỳ sụp xuống thành hai hàng, mở một lối đi ở giữa, đi thẳng tới vị trí của chủ nhân. Đợi ba người chúng ta an vị, hô vang một tiếng, rồi đều nhập tiệc. Bây giờ mới bắt đầu khai yến.

Vị thần tiên ngồi gần chúng ta đi qua mời rượu. Mời Dạ Hoa trước rồi mới đến mời ta, nói: “Thật may mắn lần này được diện kiến Tố Cẩm nương nương, đúng là vinh hạnh của tiểu thần…”.

Dạ Hoa ngồi bên cạnh nâng chén, nhưng bộ dạng như đang đùa giỡn. Cái vai mà ta phải sắm mới lúng túng ngại ngùng làm sao.

Đông Hải Thủy Quân mặt mày trắng bệch, cố ra hiệu cho vị thần tiên tự coi mình may mắn kia.

Ta thực sự không thể chịu được nữa, bèn cười hì hì với ông ta, nói rằng: “Tiểu tiên thực ra chỉ là muội muội bị lạc đã nhiều năm của Dạ Hoa Quân, nay làm việc ở chỗ thượng thần Chiết Nhan”.

Động tác uống rượu của Dạ Hoa khẽ khựng lại, rượu trong chén sánh ra ngoài mấy giọt.

Đông Hải Thủy Quân nhìn ta hoang mang.

Vị thần tiên đến dâng rượu đó lúc này trông như nuốt phải con nhặng chết, đứng cầm chén rượu đã rót đầy tiến không được mà thoái cũng chẳng xong, mãi hồi lâu mới lắp bắp: “Tiểu thần mắt kém, xin tự phạt một ly, tự phạt một ly”.

Ta cười hiền từ, đương nhiên chẳng coi là thật, cũng uống cùng ông ta một chén.

Phía dưới tiệc tùng nhộn nhịp, hồ ly ta vốn tai rất thính, trong tiếng đưa cốc chạm chén, đã loáng thoáng nghe thấy lời bàn tán: “Hôm nay chưa được gặp cô cô, đáng tiếc quá đi mất, nhưng lại được thấy tiên sứ này của thượng thần Chiết Nhan, cũng không đến nỗi ấm ức. Các vị xem, hôm nay cô cô không đến, liệu có phải là do biết Dạ Hoa Quân và Bắc Hải Thủy Quân cùng đến dự yến, vì thế…”.

Một người nói: “Lời này của tiên hữu không phải không có lý, lần này cô cô thất hẹn, thượng thần Chiết Nhan lại phái một tiên sứ đến dự yến, trong này chắc có ẩn tình chi đây. Các vị nên biết rằng, tính khí thượng thần Chiết Nhan cổ quái, lần này có lẽ trách Đông Hải Thủy Quân chưa bao giờ gửi thiếp cho ông ấy”.

Một người khác gật dù: “Có lý có lý, lạ là vị tiên sứ này của thượng thần Chiết Nhan lại là muội muội của Dạ Hoa”.

Lại có người nói: “Ta vẫn nghi ngờ vị tiên sứ này có thực là muội muội của Dạ Hoa Quân hay không? Ta đã nhậm chức ở Thiên Cung bao năm nay chưa từng nghe thấy Dạ Hoa Quân có muội muội”.

Lại một người nữa nói: “Vừa nãy tiên hữu chẳng nhìn thấy sao, Dạ Hoa Quân nắm tay tiên sứ đó thôi. Xem ra chuyện huynh muội cũng có vài phần đáng tin”.

Ta nghĩ, nếu lúc này Đông Hải Thủy Quân tuyên bố tiệc tan, thì đám thần tiên này sẽ vui tới mức khoa chân múa tay mất, sau đó sẽ tìm một nơi yên tĩnh thanh vắng để bàn tán sôi nổi một phen. Nhưng bây giờ họ lại phải khổ sở ngồi trên bục cao nhẫn nhịn, chỉ thi thoảng mới ghé tai thì thầm được một hai câu, hẳn là rất khó chịu, khổ sở biết bao.

Ta thở dài hai cái, rồi tự uống một chén. Không ngờ Dạ Hoa lại nhăn mày: “Tửu lượng nàng vẫn cao như thế, cẩn thận uống nhiều quá lại say”.

Ta cực kỳ coi thường, loại rượu này của Đông Hải Thủy Quân tuy cũng có thể coi là quỳnh tương ngọc dịch, nhưng nếu đem so với rượu do Chiết Nhan cất thì chẳng qua cũng chỉ là nước lã mà thôi. Cũng chẳng buồn đếm xỉa tới hắn ta, dù gì cũng chẳng còn thể diện, chỉ hận số phận bản thượng thần ta chẳng ra gì, hôn ước đã buộc ta và hắn thành một đôi.

Tiệc đến giữa chừng, ta cảm thấy tẻ nhạt vô cùng, chỉ muốn mau mau ăn xong bữa cơm này, để về động Hồ Ly đánh một giấc.

Đúng lúc đó, Đông Hải Thủy Quân vỗ tay ba cái “bộp bộp bộp”.

Ta cố gắng tỏ ra vui vẻ, thì nhìn thấy một bầy vũ nữ thướt tha bước vào điện, trên tay người nào người nấy đều cầm một chiếc quạt lụa, ăn mặc mát mẻ vô cùng. Trong lòng ta rất hiếu kỳ, lần này chẳng là mừng thọ Đông Hải Thủy Quân, chỉ là tiệc đầy tháng của một đứa trẻ sao còn cần ca vũ trợ hứng làm gì?

Tiếng nhạc dập dìu vang lên. Ta cứ việc với lấy bình rượu gần nhất.

Năm xưa có lần may mắn bị Quỷ Quân Kình Thương bắt trói đến cung Đại Tử Minh của hắn giam mấy ngày. Đám vũ nữ ca nương ở cung Đại Tử Minh, thanh lệ có, mà tao nhã có, diễm lệ ngời ngời cũng có. Bất đắc dĩ phải giả bộ ân cần với họ dăm ba ngày, trong cõi bốn bể tám cõi chẳng có vũ nữ nào có thể làm vừa lòng ta.

Liếc sang nhìn Dạ Hoa bên cạnh, hắn vẫn dửng dưng như không.

Cục bột nhỏ chợt than thở: “A, là vị tỷ tỷ này”.

Nhìn theo ánh mắt nó, ta nhìn về phía giữa điện, giữa bầy ca nương mặc áo trắng trông như những cánh sen trắng muốt là một thiếu nữ mặc áo vàng. Thoạt nhìn thì thiếu nữ đó không có điểm gì đặc biệt, nhưng nhìn dung mạo và dáng vẻ có vài phần giống với Đông Hải Thủy Quân.

Ta khó cưỡng được quay lại nhìn Đông Hải Thủy Quân mấy cái.

Đông Hải Thủy Quân ho một tiếng, bối rối cười nói: “Chính là xá muội”. Rồi lại tiến lên trước một bước đến bên cạnh cục bột nhỏ, “Tiểu thiên tôn biết xá muội ư?”.

Cục bột nhỏ nhìn ta một cái, ấp a ấp úng: “Có biết, có biết”. Rồi lại lập tức xua tay kiên định lập trường, “nhưng bản tiên tôn không quen nàng ấy”. Nói xong lại liếc trộm phụ quân nó một cái.

Vị xá muội đó của Đông Hải Thủy Quân lúc ấy đang ngước mắt ngóng nhìn Dạ Hoa Quân đang ngồi bên cạnh ta, ánh mắt tha thiết mà câm nín, bi thương lại xen lẫn vui mừng.

Dạ Hoa vẫn nâng chén rượu không hề cử động, chớp mắt lại biến thành một vị thần quân lạnh lùng như lần đầu ta gặp.

Đây chẳng phải giống như lời bài hát sao? Hoa rơi cố ý, nước chảy vô tình? Thiếu nữ đa sầu đa cảm gặp phải lang quân lạnh lùng, thiếp sẵn lòng làm dây leo quanh cây, cớ sao lòng chàng sắt đá, thiếp nào có tội tình gì?

Ta hài lòng gật đầu, vẫn là một màn kịch hay, tự mình rót một chén rượu. Đang lúc cao hứng nhất thì tiếng nhạc bỗng bặt thinh, vị xá muội đó của Đông Hải Thủy Quân hướng về phía Dạ Hoa lạy một cái, rồi cùng với đám vũ nữ nhẹ nhàng rút lui.

Dạ Hoa quay đầu sang nhìn ta, nửa cười nửa không: “Sao tiên sứ lại có vẻ thất vọng như vậy?”.

Ta sờ sờ lên da mặt, cười ha ha một tiếng: “Vậy sao?”.

Lại hơn một canh giờ trôi qua, vừa hay tiệc tan, ai về nơi của người ấy, Dạ Hoa lại đẩy cục bột nhỏ vào lòng ta: “A Ly do nàng chăm nom trước đã, ta đi chút việc rồi sẽ về”.

Thần tiên các lộ vừa hay chắp tay cáo biệt, còn một mình ta đứng ngơ ngác, hắn thì đến bóng cũng chẳng thấy tăm hơi.

Sự tỉnh táo do bị mấy chuyện phiền phức này ép trong suốt mấy canh giờ đột nhiên tắt ngóm, ngực ta toát mồ hôi lạnh, hắn không phải tính toán đến mấy lời nói với cục bột nhỏ của ta chứ, chẳng nhẽ thực sự kéo ta lên Thiên Cung sao?

Nghĩ đến đây, cục bột nhỏ mềm mềm trong tay ta ngay lập tức biến thành một củ khoai lang nóng phỏng tay.

Ta vội vội vàng vàng chạy ra đại điện. Lúc này đây, mau mau tìm ra cha của cục bột nhỏ để đem trả lại nó mới là việc làm đúng đắn nhất.

Hỏi mấy tùy tùng, nhưng chẳng một ai nhìn thấy Dạ Hoa Quân. Ta chỉ còn cách rẽ mấy khúc quành, hỏi xem xá muội của Đông Hải Thủy Quân nay đã bay về chốn nào.

Dáng vẻ vội vàng ban nãy của Dạ Hoa, giữa sự thờ ơ ẩn hiện sự thân thiết, giữa sự xa cách hàm chứa sự thân tình, với thần thái ấy, dựa theo kinh nghiệm trăng gió mà ta đã từng thấy suốt mười mấy vạn năm qua, thì chắc chắn là đi gặp giai nhân rồi.

Một tiểu tùy tùng chỉ về phía xa xa, đó là hướng hậu hoa viên của Thủy Tinh cung Đông Hải.

Ta kéo cục bột nhỏ đứng ở cửa hoa viên, hết sức sụt sùi.

Nên biết rằng bản thượng thần tuổi tuy đã cao, nhưng thực ra lại chẳng có cảm giác gì về phương hướng, đi vào thì dễ, nhưng lại không biết có thể ra hay không, nên tốt nhất là đứng ở cổng chờ.

Cục bột nhỏ lại không chịu, giơ nắm đấm nhỏ làm bộ dạng hung hãn: “Mẫu thân không chịu đi vào chia uyên rẽ thúy, phụ quân sẽ bị cái cô công chúa Mậu Thanh đó cướp mất đấy”. Rồi lại ôm trán làm bộ đau khổ: “Tự cổ chí kim hậu hoa viên chính là nơi thị phi, tại nơi đây biết bao tài tử đã bị giai nhân mê hoặc đến nỗi bỏ lỡ tiền đồ, chịu khổ cả đời”.

Ta choáng váng trong chốc lát, rồi lắp bắp hỏi nó: “Cái, cái, cái này là ai dạy ngươi?”.

Cục bột nhỏ ngây ra: “Ba trăm năm trước, một ngày nọ có một tiểu tiên mới thăng thiên tên là Thành Ngọc, Thiên Quân tổ gia gia phong cho hắn hiệu là Nguyên Quân, chính là do hắn nói cho con”.

Ngừng lại một lát, vò mái đầu, nó hoang mang hỏi tiếp: “Lẽ nào không phải như thế?”.

Ta thầm nghĩ trong giây lát, cảm thấy những lời vị Thành Ngọc Nguyên Quân này nói thực sự chẳng sai, một người giỏi như vậy, sau này nhất định phải kết giao mới được.

Cục bột nhỏ dứt khoát kéo tay áo ta, bướng bỉnh lôi ta đi vào trong vườn hoa. Nó nhỏ bé là vậy mà ta cũng không phản kháng nổi, chỉ đành khuyên bảo: “Phụ quân con thanh xuân tráng kiện, còn Mậu Thanh kia, công chúa Mậu Thanh kia cũng là thiếu nữ đương thì, trai gái đương xuân nhớ nhung nhau cũng là lẽ thường tình, hai người họ đã kết uyên ương, ta và con lại muốn đi chia uyên rẽ thúy, vô duyên vô cớ phá vỡ nhân duyên của người ta, thực sự là tạo nghiệt. Con và công chúa Mậu Thanh đó cũng không phải là thâm thù đại hận không thể hóa giải, cớ sao phải phá hoại nhân duyên của nàng ấy mới cam lòng?”.

Có lẽ câu sau cùng của ta quá nặng nề, cục bột nhỏ miệng liền méo xệch, ta vội vàng an ủi nó, nào là thơm, nào là ôm, nó mới bình tĩnh lại, nghẹn giọng nói: “Nàng ta tuy từng cứu con một lần, nhưng con cũng đã cảm tạ nàng ta tử tế, thế mà nàng ta lại tự cho rằng từ đó về sau đã có vị trí khác trước mặt phụ quân, mỗi lần phụ quân dẫn con đến tiểu trang của mẫu thân ở núi Tuấn Tật, nàng ta lại đến đó quấy nhiễu, thật là đáng ghét!”.

Ta không nhịn nổi bèn dạy dỗ nó hai câu: “Ơn cứu mạng sâu như bể, chỉ nói một câu cảm ơn là xong sao?”.

Nếu như nói một câu cảm tạ mà có thể an lòng thì nay ta đã tiêu dao không biết bao lần, chỉ cần nhớ đến tình cảm hòa hợp viên mãn khi ta và người ấy làm thầy trò, hẳn sẽ không nhiều tiếc nuối như thế này.

Cục bột nhỏ tự kiểm điểm trong giây lát ngắn ngủi, rồi lại lập tức giậm chân, nói: “Nàng ta không chịu an phận, rõ ràng biết phụ quân đã có thê thất mà lại cứ bám lấy phụ quân. Nàng ta ở phòng của mẫu thân, dùng đồ nấu bếp của mẫu thân, còn đến cướp phu quân của mẫu thân”.

Ta nhìn lên trời xanh, chợt nghĩ đến khuôn mặt giống Mặc Uyên như in như tạc của Dạ Hoa, trong lòng cảm khái vô cùng.

Điều này cũng chẳng trách nổi nàng Mậu Thanh đó, bản thượng thần nhìn khuôn mặt ấy đã mấy vạn năm, đến nay mới có thể giữ nghiêm được. Một cô gái bình thường mà có thể nghiêm túc giữ đúng thân phận trước khuôn mặt đó, thực sự là có chút khó khăn. Còn như núi Tuấn Tật ở Đông Hoang trở thành tài sản của Tố Cẩm từ lúc nào thì ta cũng có đôi chút nghi hoặc, bèn hỏi một câu, cục bột nhỏ liền nói tất tần tật ra.

Nó nói năng lung tung lộn xộn, ta nghe câu được câu chăng nhưng cũng hiểu được đại khái.

Hóa ra mẫu thân của cục bột nhỏ này không phải là thứ phi Tố Cẩm của Dạ Hoa Quân, mà lại là một người phàm trần. Đến nay trong tẩm điện của cục bột nhỏ vẫn còn treo bức họa của người đó, áo xanh, dải lụa trắng băng ngang mặt, chính là hình dáng của ta lúc này. Ba trăm năm trước, không biết vì duyên cớ gì, người phàm trần đó sinh hạ ra cục bột nhỏ rồi gieo mình xuống Tru Tiên đài. Ta đã từng nghe qua về Tru Tiên đài đó, thần tiên nhảy xuống thì mất sạch tu vi, người phàm nhảy xuống thì chắc chắn là ba hồn bảy phách tiêu tan bằng sạch.

Cục bột nhỏ chưa hề biết đến điều này.

Người phàm trần đó trước khi lên Thiên Cung đã từng sống ở núi Tuấn Tật. Dạ Hoa Quân phong ấn lại căn nhà năm xưa nàng ấy từng ở trên núi, mỗi năm đều dẫn cục bột nhỏ đến ở đó mười ngày nửa tháng.

Ta thực sự bội phục sự can đảm của Dạ Hoa Quân, những chuyện xưa ân oán tình thù chốn cung đình lại không giấu cục bột nhỏ dù một chút, chẳng nhẽ hắn không sợ tạo nên bóng đen tâm lý cho con trai hay sao?

Một ngày vào hơn một trăm năm trước, một mình cục bột nhỏ đang bắt thỏ chơi trong khu rừng trên núi, linh khí của nó đã dẫn dụ một con yêu xà. Con yêu xà chỉ biết đó là đạo đồng của một nhà nào đó, muốn dùng tiên khí hộ thân của cục bột nhỏ để tẩm bổ, chuẩn bị ăn nó. May mà công chúa Đông Hải là Mậu Thanh dự hội Đạp Thanh trên núi Tuấn Tật bắt gặp nên đã cứu nó, theo sự chỉ dẫn của nó đã đưa nó về căn nhà nhỏ trên núi. Căn nhà đó vì đã bị phong ấn, nên người ngoài không nhìn thấy được, nhưng cục bột nhỏ vì cảm cái ơn cứu mạng của ân nhân là công chúa Mậu Thanh, nên đã để lộ thân phận, dẫn nàng ấy vào nhà uống trà. Uống trà xong, khi công chúa Mậu Thanh chuẩn bị cáo từ thì đột nhiên Dạ Hoa Quân trở về, trong khoảnh khắc ấy, nàng công chúa Mậu Thanh đã trúng phải tiếng sét ái tình với Dạ Hoa Quân. Dạ Hoa không muốn nợ ân tình với công chúa Đông Hải, bèn cho nàng công chúa này một ước nguyện. Một trăm mười mấy năm nay, Mậu Thanh dường như luôn trú tại Tuấn Tật ở Đông Hoang, hễ cha con Dạ Hoa đến, nàng ta bèn giặt quần áo, nấu cơm, làm bánh cho hai người. Một công chúa lại chịu làm những công việc của nô bộc, Dạ Hoa cảm thấy không ổn, nhưng nàng công chúa ấy lại im lặng cúi đầu, dáng vẻ xấu hổ vô cùng: “Đây chính là tâm nguyện của thiếp, xin quân thượng tác thành cho thiếp”. Dạ Hoa cũng không còn cách nào khác, chỉ có thể để mặc nàng ta.

Đương nhiên ở trên chỉ là những lời kể phiến diện của cục bột nhỏ. Xem ra Dạ Hoa Quân cũng là một kẻ đa tình, rất khó nói là chưa từng động lòng trước một người thấu hiểu lòng người như công chúa Đông Hải.

Bất giác ta cảm thấy trống rỗng, Dạ Hoa sống tới giờ cũng chưa đến năm vạn tuổi mà đã gây nhiều nợ tình đến vậy, thực là một nhân tài.

Khi bản thượng thần năm vạn tuổi thì vẫn đang còn làm gì?

Thần sắc cục bột nhỏ hết sức phức tạp, nhìn ta muốn nói gì đó rồi lại thôi.

Ta nghiêm nghị nói: “Là đàn ông thì không được tỏ ra ấp a ấp úng, hễ không chú ý là co rúm lại như thế, có gì muốn nói cứ thoải mái mà nói ra đi”.

Nó nước mắt vòng quanh chỉ chỉ vào ta: “Dáng vẻ hờ hững của mẫu thân, liệu có phải là trong lòng đã có người khác, không cần A Ly và phụ quân nữa không?”.

Ta sững người câm nín. Tuy Dạ Hoa và ta đã có hôn ước, nhưng chẳng qua mới chỉ là lần đầu quen biết, thực sự khó mà nói là hờ hững hay không hờ hững”.

Cục bột nhỏ lại lùi về phía sau hai bước, tay bưng mặt, điệu bộ bi thương, nói: “Cha sắp lấy mẹ kế, mẹ sắp lấy dượng, thân phận A Ly quả thực đúng với tên gọi, quả nhiên chẳng được nếm trải cảnh đoàn viên, sẽ phải một mình cô độc, cha mẹ đều không cần A Ly, A Ly đành sống một mình mà thôi”.

Ta bị tiếng gào khóc của nó làm cho kinh hãi tâm can.

Mẫu thân của nó năm nào đã vứt lại con trai, gieo mình xuống Tru Tiên đài, nó tuy tuổi còn nhỏ nhưng tất nhiên trong lòng sẽ chất chứa những tâm tư như thế. Bây giờ kết vào tim phổi, e là sẽ không tốt.

Ta vội vàng tươi cười ôm lấy nó: “Ta đã là mẫu thân của con thì tuyệt đối sẽ không bỏ con”.

Nó lại trách móc ta: “Nhưng người không cần phụ quân. Người không cần phụ quân, mà phụ quân lại sắp lấy cô Mậu Thanh đó, phụ quân mà lấy cô Mậu Thanh đó thì sẽ sinh ra một đứa con khác rồi sẽ không cần A Ly nữa”.

Nói đoạn nước mắt lại tuôn như mưa. Ta thấy thật đau đầu, để không làm nó thất vọng chỉ còn cách giả bộ ngọt ngào, cắn răng cắn lợi mà nói với nó rằng: “Phụ quân của con là tim là gan của ta, là mật ngọt bảo bối của ta, sao ta có thể rời xa người ấy”.

Nói xong tự mình cũng thấy phát run.

Cục bột nhỏ cực kỳ hài lòng, ôm lấy chân ta tiếp tục lôi ta đi vào trong hoa viên.

Ta chẳng còn cách nào, đành để cho nó lôi đi, lòng thầm mong Dạ Hoa Quân lần này đừng có trong hoa viên, ta đỡ phải diễn trò chia uyên rẽ thúy.

Còn nếu như không may, bản thượng thần đã sớm biết lần này hắn đi gặp gỡ giai nhân, Dạ Hoa Quân kia, hôm nay ta phá hoại nhân duyên của ngươi thì chẳng qua cũng chỉ muốn con trai ngươi được vui vẻ, ngươi chớ nên trách ta.

Đi vòng qua cổng chào đã thấy trong mái đình tinh xảo phía không xa, một người đàn ông mặc áo bào đen tuyền, im lặng khoanh tay đứng, đó chính là Dạ Hoa. Thiếu nữ áo vàng ngồi bên cạnh cũng chính là công chúa Mậu Thanh.

Bản thượng thần đâu có đoán nhầm, hắn quả nhiên là tới đây gặp giai nhân.

Cục bột nhỏ giật giật tay áo ta: “Mẫu thân, người mau ra sân đi”.

Nó háo hức muốn diễn kịch đây. Đầu ta tê buốt, suy nghĩ xem phải khai màn như thế nào mới hay.

Trong những người ta quen thì chỉ có đại ca Bạch Huyền là người có nhiều nợ hoa đào nhất.

Mỗi lần đại tẩu xử lý những đóa hoa đào đó của đại ca đều dùng thủ đoạn gì nhỉ?

Ta cố nhớ lại một lượt.

Đầu tiên là ánh mắt, ánh mắt phải thật lạnh lùng, dò xét đóa hoa đào đó từ trên xuống dưới, nhìn mỹ nhân như nhìn một cây cải thảo.

Tiếp đó là giọng nói, giọng nói phải lấp lửng, đối với chủ sự phải nói câu này: “Người lần này ta thấy rất tốt, nếu như phu quân thực sự thích thì sẽ thu nhận nàng ta, ta cũng có thêm một muội muội nữa”.

Đó đều là lấy lùi để tiến.

Đại ca tuy nhiều lần “gặp dịp góp vui” (10) nhưng đối với đại tẩu thì vẫn một lòng không đổi, không thể không có đại tẩu, nên chiêu này vô cùng hiệu nghiệm. So sánh như thế, tình cảnh của ta và đại tẩu lại có chút khác biệt.

Ta đắn đo hồi lâu, cục bột nhỏ đã vội vàng bước lên mấy bước, quỳ xuống trước mặt phụ quân nó, nói: “Hài nhi bái kiến phụ quân”.

Dạ Hoa khẽ nheo mắt, lướt qua cục bột nhỏ rồi nhìn thẳng vào ta. Ta chỉ còn cách mặt dày bước tới, thi lễ qua loa rồi kéo cục bột nhỏ từ dưới đất đứng dậy, phủi phủi bụi bám trên đầu gối nó, lại ôm lấy nó tìm chỗ ngồi xuống cạnh mỹ nhân.

Ánh mắt của Dạ Hoa phía sau lưng ta thật dữ dội khiến toàn bộ động tác của ta trở nên ngượng ngập, khó coi.

Công chúa Mậu Thanh đó chủ động lên tiếng: “Tỷ tỷ là…”.

Ta cố gắng làm ra vẻ “ngoài cười nụ trong khóc thầm”, xoa xoa khuôn mặt của cục bột nhỏ: “Đứa trẻ này gọi ta là mẫu thân”.

Nàng ta dường như bị sét đánh trúng.

Trong lòng ta vô cùng xấu hổ. Công chúa Mậu Thanh này dáng dấp cũng không đến nỗi, tuy còn kém xa công chúa Lục Tụ của Nam Hải nhưng cũng có thể coi là một mỹ nhân. Nàng ấy với ta không thù không oán, lần này ta làm vậy thực là không phải đạo.

Lòng ta hết sức xót thương nhưng ngoài mặt vẫn phải diễn hết vai này, tiếp tục “ngoài cười nụ trong khóc thầm” nói: “Quang cảnh hiện giờ mây đen ngợp trời, tiếng gió hắt hiu, thật khiến người ta không khỏi nảy sinh thi hứng. Muội muội nói xem có phải như thế không?”.

Còn Dạ Hoa thì dứt khoát khoanh tay dựa cột đình đứng bên cạnh nghe ta nói hươu nói vượn.

Cục bột nhỏ chẳng hiểu gì hết, cứ đờ đẫn quay đầu sang nhìn ta. Ta cụng đầu vào trán nó cười nói: “Trời cao xanh xanh, đồng nội mênh mang, một cành hồng hạnh muốn vượt tường”. Rồi lại nhìn công chúa Mậu Thanh, nói: “Muội muội, có đúng với cảnh này không?”.

Nàng ta cũng ngây ra, phút chốc hai hàng lệ nóng hổi từ khóe mắt trào ra, “phịch” một tiếng đã quỳ xuống trước mặt ta: “Nương nương bớt giận, Mậu Thanh, Mậu Thanh không biết là nương nương phượng giá, Mậu Thanh vạn lần chẳng dám làm muội muội của nương nương. Mậu Thanh chỉ là thầm ngưỡng mộ quân thượng, chứ không hề dám mong mỏi quân thượng ban cho Mậu Thanh điều chi. Lần này huynh trưởng sắp gả Mậu Thanh cho Tây Hải, nhị vương tử của Tây Hải đó lại là, lại là con nhà quyền quý nhưng hư hỏng. Vì ngày thành hôn đến gần, Mậu Thanh chẳng còn cách nào khác, biết được quân thượng mang theo tiểu thiên tôn đến Đông Hải dự tiệc, nên mới bày ra hạ sách ca múa để được gặp mặt. Mậu Thanh chỉ nguyện đời đời kiếp kiếp được làm nữ tỳ theo hầu quân thượng, tuyệt đối không có ý khác, xin nương nương tác thành cho”.

Hóa ra là như vậy, thương tâm biết bao, làm lay động lòng người biết bao, ta cơ hồ nước mắt tuôn rơi lã chã. Vốn nghĩ rằng Thiên Cung rộng lớn như thế, nên để cho nàng ta một góc nào đây, rồi lại nghĩ đây thực ra vẫn là chuyện nhà của Dạ Hoa Quân. Nếu nàng ta không phải một tấm tình sâu nghĩa nặng chẳng thẹn với trời đất như thế thì đòn hờn ghen này của ta sẽ chẳng ngại ngần mà giáng xuống. Còn giờ đây thực sự là chẳng thể làm nổi. Chuyện tình yêu vốn chẳng thể viện tới đạo đức, đúng sai mà phân định, cục bột nhỏ vẫn còn bé thơ, sau này có thể dốc lòng dạy bảo chứ ta quyết không thể giúp vua Trụ làm điều bạo ngược như thế này. Nghĩ đến đây bèn không kìm nổi thở dài một tiếng, ôm lấy cục bột nhỏ toan bỏ đi.

Cục bột nhỏ ra vẻ ấm ức níu chặt lấy mỹ nhân, nói: “Mẫu thân, người vừa mới nói phụ quân là tâm can của người, là mật ngọt bảo bối của lòng người. Người khác đến cướp phụ quân, người lại để mặc nàng ta cướp đi, người nói lời mà không giữ lấy lời”.

Ta tự gây phiền phức, choáng váng vô cùng.

Dạ Hoa nửa cười nửa không, tiến lên phía trước chặn đường đi của ta, nắm lấy một lọn tóc của ta, từ tốn nói: “Ta là tâm can của nàng?”.

Ta cười khan hai tiếng ha ha, lùi lại phía sau một bước.

Hắn lại bước tới gần một bước: “Ta là bảo bối của nàng?”.

Ta cười càng khô khốc hơn, lại lùi ra sau hai bước.

Hắn dứt khoát dồn ta kẹt cứng trong một góc đình: “Mật ngọt bảo bối của nàng?”.

Lần này đến cười khan ta cũng không cười nổi, khóe miệng đắng ngắt, bản thượng thần lần này tạo nên oan nghiệt gì đây?

Ta nhắm chặt mắt lòng cương quyết: “Ngại chết đi được, chàng chẳng phải sớm biết rồi sao, sao lại lừa người ta phải nói ra, đúng là xấu chết đi được”.

Cục bột trong lòng ta khẽ rung rung, Dạ Hoa phía trước cũng khẽ rung rung.

Nhân lúc bọn họ còn đang đờ đẫn ta đẩy cục bột nhỏ về phía mỹ nhân rồi vứt bỏ lớp áo giáp, lủi đi thật mau.

Bản thượng thần lần này thực quá khổ sở.

Chú thích:

10. Ý chỉ gặp ai có tình ý với mình thì vẫn đáp lại (ND).

Chương 5: Cung Đại Tử Minh có rất nhiều hoa cỏ lạ

Vì đánh mất nhành cây Mê Cốc, lại thêm đêm càng lúc càng đen, có thể đi ra khỏi Đông Hải đã là may lắm rồi, vì thế, ta chỉ mong ngóng trời sáng để còn gấp rút về Thanh Khâu.

Nhưng Đông Hải bốn bề là những con đường nước. Từ khi chào đời đến giờ, khi vẫn còn là một con hồ ly, ta đã sống trên mặt đất, bây giờ nhìn bốn con đường này đều thấy giống hệt nhau, không có gì khác biệt. Vì thế lên khỏi mặt nước ta mới phát hiện mình đã nhầm phương hướng, đã nhầm con đường phía bắc thành phía đông.

Giờ trước mắt trăng sáng vằng vặc treo giữa bầu trời. Ta ngồi trên một tảng đá ngầm ở bờ bắc của Đông Hải, thực sự có chút buồn bực.

Đi ngược về đường cũ, từ Đông Hải bơi về cố nhiên không khó, nhưng nếu lại gặp phải Dạ Hoa Quân, xét về mặt thể diện thì thực không hay lắm. Đêm nay cũng chỉ có thể ngồi ở bờ bắc này mà qua một đêm, sớm ngày mai sẽ tính sau.

Chốn nhân gian vào tháng tư hoa cỏ thơm đã hết, ban ngày vẫn ấm áp, nhưng ban đêm lại vô cùng lạnh lẽo. Xiêm y mặc trên người rất mỏng manh, hơi trắng từ biển bốc lên nghi ngút khiến ta liên tục hắt hơi, cuối cùng vẫn nhảy khỏi tảng đá, cắm đầu chạy thẳng vào khu rừng bên cạnh.

Khu rừng này không bì được với khu rừng chỗ Chiết Nhan. Cây cối cao vút mà chập chùng, xòe từng tầng, từng tầng lá, chắn gió rất tốt. Đã chắn gió rất tốt thì chắn sáng tự nhiên cũng không tồi. Tuy là vầng trăng giữa trời đang tỏa sáng nhưng giữa rừng, giơ bàn tay lên vẫn chẳng nhìn thấy năm ngón. Ta gỡ dải lụa trắng băng mắt xuống, nhìn kỹ cảnh vật, rồi lấy từ ống tay áo ra một viên dạ minh châu to bằng quả trứng bồ câu, định bụng tìm một chạc cây nằm qua một đêm trên đó.

Khu rừng này thực sự quá hỗn độn, tuy cũng là loài thú chạy, lại có dạ minh châu chiếu sáng, nhưng đôi mắt này của ta lại chẳng bằng đồng loại. Loạng choạng đi tới ngã ba, ta đã vô ý rơi vào một cái động lớn dưới chân.

Tứ ca cùng với Chiết Nhan viết sách, đã thu thập không ít câu chuyện hoang đường trong cõi bốn bể tám cõi.

Có lần nghe nói trong chúng tiên ở Đông Hoang có một ngọn núi cô độc tên là Diễm Không, dưới chân núi có dựng một cái cổng chào, dưới cổng chào có một cái động không đáy, ở đó có một yêu nghiệt xinh đẹp sinh sống. Yêu nghiệt đó tuy rằng xinh đẹp tuyệt vời nhưng cũng là một yêu tinh tốt, có điều lại yêu một người phàm trần tu chân, mà người đó lại một lòng muốn thành tiên, rốt cuộc làm chuyện bại hoại, sau này đã làm hủy hoại đạo hạnh tu hành, cũng liên lụy tới tính mạng của tất cả mọi người trên núi, cũng coi như là một bài học.

Còn bây giờ cái động lớn mà ta lọt xuống tuy có hơi sâu, nhưng quyết không thể coi là động không đáy ở núi Diễm Không đó. Nhưng cho dù như thế, dưới động cũng chưa chắc đã có một yêu nghiệt xinh đẹp mà si tình sinh sống. Nếu như có thể gặp thì cứ gặp, ta sẽ điểm hóa cho nàng ta, tặng cho tứ ca, để trông nom vật cưỡi của huynh ấy tên là Tất Phương điểu, cũng coi như ra khỏi Thanh Khâu lại làm được một chuyến thiện duyên.

Nghĩ đến đó, ta cũng an lòng mà mạnh dạn đi xuống phía dưới động. Mới đầu thực sự có chút khó chịu, ngã xuống đến nửa giờ vẫn không thể lấy lại được tư thế thăng bằng, coi như là ngã rất có trật tự.

Nửa tuần hương trôi đi, hai chân ta cũng coi như đã chạm đất thực.

Cảnh vật trước mắt trở nên rõ ràng rộng mở. Trên vòm trời tạo ra bằng pháp thuật là trăng sao sáng vằng vặc, phía dưới là một dòng suối chảy róc rách, trên nước còn dựng một tòa thảo đình, so với động Hồ Ly của cha mẹ ta nơi đây có phần rộng rãi hơn một chút.

Trong tòa thảo đình kia có một đôi nam nữ đang diễn trò uyên ương đạp nhau.

Ta vốn muốn tìm một yêu nghiệt còn chưa làm điều ác để điểm hóa, nào ngờ lại bắt gặp cảnh người ta vui thú khuê phòng, thực sự xấu hổ chết đi được.

Người đàn ông đó vì quay lưng về phía ta nên ta không nhìn rõ tướng mạo. Nửa khuôn mặt của người con gái đang vùi trong bờ vai của người đàn ông, mày mắt cũng khá được, chỉ là nhìn thấy ta từ trong động tối om rơi xuống, khó tránh khỏi có chút hoảng hốt.

Ta mỉm cười thân thiện với nàng ta để trấn an. Nàng ta lại trừng mắt nhìn ta, khiến ta cảm thấy ngại ngùng. Vì hai người họ là một đôi ôm ôm ấp ấp, người đàn ông đó có lẽ cảm nhận được sự khác thường liền quay đầu lại nhìn.

Cách một nửa hồ nước lớn, ánh mắt đó lại khiến ta có cảm giác như giữa trời mùa hạ nóng nực lại đi đốt mỡ lợn nóng bỏng tay, vừa ngấy lại vừa kinh.

Một số chuyện đã nhiều năm nay cố ý quên đi, lúc này lại lũ lượt tràn về. Hai hàng lông mày hắn ta nhíu chặt lại, nhìn chằm chằm vào ta, hồi lâu mới nói: “A Âm”.

Ta cụp mắt xuống, nghiêm túc nói: “Hóa ra là Ly Kính Quỷ Quân, lão thân và Quỷ Quân sớm đã ân đoạn nghĩa tuyệt, hai chữ A Âm thực sự không nên, vẫn là cảm phiền Quỷ Quân gọi ta bằng cái danh hão lão thân đi”.

Hắn ta im lặng, còn người con gái trong lòng run lên hai cái.

Ta thực sự không kiên nhẫn nổi. Nhưng mấy năm gần đây đám thần tiên hậu bối và quỷ tộc cư xử cũng không tồi, không thể vì ân oán của riêng ta mà hủy hoại tình hữu nghị khó khăn lắm mới xây dựng được. Suy nghĩ rất lung như vậy, sắc mặt tuyệt đối không thể làm ra vẻ lạnh lùng được.

Hắn thở dài: “A Âm, nàng trốn ta đã bảy vạn năm, nay vẫn định trốn tiếp ư?”. Lời lẽ hết sức chân thành, dường như không được gặp ta thì thật hối tiếc, thực khiến cho người ta sụt sùi thương cảm.

Ta rất tò mò, rõ ràng quan hệ của chúng ta đã là cá chết lưới rách đến mức gặp nhau chẳng thà đừng gặp, vậy sao hắn có thể nói ra những lời như thể tri kỷ của nhau vậy?

Lại thêm nói ta trốn hắn, đúng là oan tày trời, tuy rằng nói thời gian sống quá dài thì cũng khó mà quên được. Ta day day huyệt Thái Dương nhớ lại một hồi những chuyện xưa, nhưng vẫn cảm thấy, bảy vạn năm nay ta với hắn chưa từng gặp mặt, tuyệt đối không phải là ta chủ tâm trốn hắn, mà là duyên phận chưa tới mà thôi.

Bảy vạn năm nói dài cũng không dài, nói ngắn cũng chẳng ngắn, Đông Hoang đã xảy ra chuyện bãi bể biến nương dâu tới hơn hai chục lần là hết cỡ.

Một ngày nào đó bảy vạn năm trước, tiền Quỷ Quân là Kình Thương ra ngoài săn bắn, ưng ý cửu sư huynh Lệnh Vũ bèn trói lại đem về cung Đại Tử Minh, định lập làm nam hậu. Vì khi đó ta ở cùng với Lệnh Vũ nên cũng nhân tiện bị trói đi.

Khi ta năm vạn tuổi đã bái Mặc Uyên học nghệ. Mặc Uyên không thu nhận nữ đệ tử, mẹ ta phải dùng pháp thuật biến ta thành đàn ông, và lấy bừa một cái tên là Tư Âm (11).

Khi đó, ai ai cũng biết Mặc Uyên có đồ đệ thứ mười bảy là Tư Âm, là một vị thần quân dùng một chiếc quạt lụa làm pháp khí, là tiểu đồ đệ được thượng thần Mặc Uyên yêu quý nhất. Tuyệt đối chẳng có ai dám nghi ngờ Tư Âm này vốn là một nữ thần quân.

Ta và Lệnh Vũ tuy cùng bị bắt trói, nhưng vì ta chỉ là tiện thể bị bắt nên tự nhiên cũng được thả lỏng một chút. Vì thế ngoài cơm ba bữa ra, còn được đi lại xung quanh, chỉ cần không ra khỏi cung Đại Tử Minh là được.

Sau này mỗi khi ta nhớ lại, bữa cơm trưa vào ngày thứ ba ở cung Đại Tử Minh lúc đó, có lẽ là mình không nên ăn bát thịt kho đó. Nếu như ta không ăn bát thịt kho đó thì ngày nay bốn bể tám cõi chắc gì đã có chuyện này.

Khi đó, vốn ta đã dùng xong bữa trưa, nhà bếp lại mang lên một bát thịt kho định mệnh đó, nói là buổi sáng Kình Thương săn được một con lợn rừng, cắt ra một cái chân giò lớn, nấu lấy hai bát, một bát đưa sang bên Lệnh Vũ, một bát thì nhân thể ban cho ta. Ta nhìn thấy bát thịt mềm thơm, màu sắc bắt mắt, bèn khách sáo ăn hết cả bát.

Nên biết rằng trước đó ta đã ăn hết bữa trưa, bát thịt kho này coi như là bữa phụ. Cho nên sau khi ăn theo lệ là đi dạo, bèn không thể thiếu đi bộ nhiều hơn bình thường hai bước. Chính là hai bước đi thêm này đã khiến ta lần đầu gặp hoàng tử Ly Kính, tự nhiên thay đổi vận mệnh của bản thân.

Có câu “Đê dài ngàn dặm, sụt ở tổ mối”, cũng có câu “Vụ huyết án có nguồn cơn từ một cái bánh bao”, cho nên một bát thịt kho đã đưa đường đời ta đến chỗ gồ ghề mấp mô không gì bì được, cũng như đó chẳng phải là chuyện hoang đường. Nay nếu quay đầu nhìn lại, bản thượng thần khó tránh khỏi thở dài cảm khái một tiếng, đau lòng vô hạn.

Ta vẫn nhớ ngày hôm đó trời trong xanh lộng gió, vầng thái dương chiếu sáng xa xa, xuyên qua làn mây mù màu trắng xám bao vây, cung Đại Tử Minh giống như một quả trứng bồ câu treo lơ lửng giữa bầu trời.

Một cung nga bầu bạn nói với ta rằng, trong ngự hoa viên có một cây sen Hàn Nguyệt rất hiếm có, bây giờ đương lúc nở hoa, thần quân nếu như vẫn cảm thấy chướng bụng khó tiêu thì có thể đi qua đó xem xem.

Rồi lại chỉ đường cho ta. Ta phe phẩy chiếc quạt lụa suốt dọc đường đi, oanh yến ríu rít, hoa thắm liễu xanh. Vì khả năng nhận biết đường đi rất kém, hồi lâu ta vẫn chưa tìm thấy đóa sen hiếm có đó. May mà trong ngự hoa viên này tuy là nước nông núi giả, nhưng để tâm thưởng ngoạn thì cũng khá thú vị.

Ta đang vui vẻ thì đột nhiên có một chàng thiếu niên từ đâu nhảy ra, vạt áo buông lơi, mái tóc thả xõa, ánh mắt mơ màng, trên vai còn dính vài cánh hoa. Tuy điệu bộ giống như vừa ngủ dậy nhưng chẳng giấu nổi phong thái khuynh quốc khuynh thành.

Ta đoán rằng có lẽ đây là một vị phu nhân của tên Quỷ Quân đoạn tụ kia, bèn gật đầu qua loa với hắn một cái. Hắn ngây ra, cũng không đáp lễ, thần trí hình như vẫn chưa tỉnh táo. Ta cũng không thèm so đo với kẻ còn ngái ngủ, thi lễ xong liền tiếp tục dạo quanh vườn. Lúc đi ngang qua hắn, hắn lại kéo tay áo của ta, thần sắc trịnh trọng mà nghi hoặc: “Màu sắc chiếc áo của ngươi rất kỳ lạ, nhưng nhìn cũng rất đẹp, may ở đâu đó?”.

Ta nhất thời không phản ứng lại được, mắt đờ ra nhìn hắn, không thốt nổi lên lời.

Chiếc áo này màu tím bạc, vì mấy ngày rồi toàn ngày mặc đêm giặt nên màu sắc cũng nhạt đi đôi chút so với khi mới khoác lên mình, nhưng vẫn có thể chấp nhận được, thực sự cũng đâu được coi là kỳ lạ gì. Trước khi Kình Thương trói ta và Lệnh Vũ lại cũng chưa từng chào hỏi qua, coi như là sự kiện đột ngột phát sinh, ta cũng không kịp chuẩn bị áo xống để mặc thay, vào cung Đại Tử Minh này, trước sau chỉ có mỗi một bộ này. Quần áo mà bọn họ chuẩn bị cho ta mặc không quen, nên đành phải chăm giặt giũ một chút.

Thiếu niên trước mặt xoay ta một vòng dò xét, thành khẩn nói: “Ta chưa bao giờ nhìn thấy thứ gì có màu này, đang buồn bực vì chưa tìm được thứ gì thích hợp làm quà mừng chúc thọ phụ vương, đây đúng là một của hiếm. Tiểu huynh đệ coi như vị nể nhân tình, đổi cho ta bộ này nhé”. Nói xong bèn tóm lấy ta, làn da trắng tựa tuyết thoáng ửng hồng, vừa ngại ngùng vừa nhanh nhẹn lột áo của ta ra.

Tuy đã hóa thành hình dáng của đàn ông nhưng rốt cuộc thì ta vẫn là một nữ thần trong trắng thơ ngây. Gặp phải chuyện này, theo như truyền thống, nếu bất lực thì cũng phải phản kháng một phen.

Lúc đó, hai người chúng ta đang đứng bên cạnh đầm sen, gió lành đưa tới mùi hương hoa thơm ngát khiến người ta cảm thấy thư thái.

Lúc giằng co, tuy ta chưa dùng tới pháp thuật, chỉ dùng tay trần giằng qua kéo lại, đã đẩy cả hai người cùng tơi xuống đầm sen. Tai của quỷ tộc rất thính, vừa nghe thấy tiếng rơi tõm xuống nước bao người đã tới xem vui. Chuyện này quả thực mất mặt, hắn giơ tay ra hiệu với ta, ta ngầm đoán ý hắn là đừng có lên trên, bèn gật gật đầu, cùng hắn dựa lưng quỳ dưới nước.

Bọn ta buồn bực quỳ rồi lại quỳ, quỳ đến tận khi trời tối. Đoán chừng trên mặt nước đã chẳng còn ai, mới khụ khụ bò lên trên bờ.

Bởi vì duyên cớ cùng quỳ nửa ngày dưới nước, bọn ta bèn bỏ qua tị hiềm trước đây gọi nhau là huynh đệ, trao đổi danh thiếp với nhau.

Thiếu niên diễm lệ này thực sự có quan hệ với Quỷ Quân đoạn tụ đó, nhưng không phải là phu nhân của hắn, mà là người con thứ hai do hắn sinh ra, chính là Ly Kính.

Còn nhớ năm đó, ta ngạc nhiên ú ớ, hóa ra thân là một kẻ đoạn tụ, hắn cũng có thể có con trai.

Từ đó về sau, Ly Kính ngày ngày tới mời ta thưởng trà, chọi gà, uống rượu.

Ta lại chẳng có tinh thần. Vì theo thông tin mới nhận được, rằng Kình Thương cưỡng ép, rằng đã định tổ chức hôn lễ vào ngày mùng ba tháng sau, Lệnh Vũ dù chết cũng không chịu, đã ba lần đâm đầu vào cột bị cứu sống, bây giờ lại bắt đầu tuyệt thực.

Khi đó ta thân cô sức yếu, đừng nói là cứu Lệnh Vũ cùng chạy trốn khỏi cung Đại Tử Minh, chỉ một mình ta muốn trốn đi đã khó lắm rồi. Vì tin rằng sau khi Mặc Uyên khai quan sẽ đến cứu chúng ta, những ngày ta ở nơi này cũng không đến nỗi quá khó chịu. Cứ nghĩ Kình Thương một lòng yêu thương Lệnh Vũ thì tình cảnh của Lệnh Vũ cũng không đến nỗi đáng ngại lắm, nào ngờ đâu huynh ấy lại đày đọa bản thân khiến người khác phải phiền lòng.

Ta ngày cũng phiền mà đêm cũng phiền.

Ly Kính thấy thế thì không nhẫn nại được, tức giận chạy đến, nâng chén kính rượu rồi tợp một ngụm, nói: “Chuyện nhỏ như vậy, đệ lại thà chịu ngày ngày dáng vẻ buồn bực cũng không chịu nhờ huynh giúp đỡ, rõ ràng không coi huynh là huynh đệ, lại còn phải để huynh chạy đến hỏi đệ. Đệ không nhận ta là ca ca, còn ta cứ nhận đệ là đệ đệ. Ta đảm bảo trước ngày mùng ba tháng hai sẽ giúp đệ đưa hắn ta ra khỏi cung là được. Đệ nói gì với hắn ta, cũng nên viết cho kỹ, tối nay ta sẽ giúp đệ mang qua cho hắn ta yên lòng. Nghe nói ngày hôm qua hắn ta gieo mình xuống hồ một lần. Ta thực sự không hiểu nổi, thần tiên bây giờ yếu đuối như thế, nhảy xuống hồ cũng có thể chết đuối. Cũng lạ là phụ vương ta lại có thể coi đó là một chuyện lớn”.

Ta chẳng thể nói gì. Không muốn vì chuyện này mà làm phiền đến hắn ta, cũng vì nghĩ hắn ta và Kình Thương chung quy thì vẫn là cha con, mang thêm phiền toái cho hắn thì sẽ không hay. Hắn lại khăng khăng muốn giúp đỡ ta, ta chỉ còn cách nhận lấy mà thôi.

Vì thế ta lại nợ hắn một mối nhân tình, sau này cùng Ly Kính uống rượu, ta không khỏi càng dốc sức hơn nữa. Vốn ta sợ nhất là cùng người khác chơi nhã lệnh (12) khi uống rượu. Thuở thiếu thời, do quá ham chơi, suốt ngày chỉ cùng mấy vị sư huynh hồ đồ chơi mấy trò như chọi gà, đua chó, chơi bời chốn đô thị, làm mấy trò phong lưu, thi văn âm luật đại khái đều không am hiểu, mỗi khi chơi trò nhã lệnh, ta đều là kẻ bị phạt nhiều nhất trong cả bàn. Còn trò thông lệnh mới là trò ta giỏi nhất, cho dù là đổ xúc xắc hay rút thăm hoặc oẳn tù tì ta đều dễ dàng xứng danh là đệ nhất sư môn.

Lần này ta lại phải lấy lòng Ly Kính, cho nên chơi nhã lệnh hết sức vui vẻ, cho dù mở mồm nói lung tung cúi đầu uống rượu cũng được, chơi thông lệnh thì lại phải vò tai chống cằm. Ly Kính đương nhiên là rất vui.

Lên kế hoạch chu đáo tỉ mỉ, quyết định trong đêm mùng hai sẽ lén đưa Lệnh Vũ ra khỏi cung.

Như thế, quan hệ của hai người chúng ta luôn là một ngày ngàn dặm, mười ngày ngắn ngủi, đã vượt một vạn dặm, đến tới cảnh giới bàn luận chuyện hôn nhân.

Nhưng không phải là ta bàn chuyện hôn nhân với hắn, mà là muội muội của hắn – Yên Chi, chẳng hiểu vì sao lại “ngắm” ta.

Ta đã từng gặp muội muội Yên Chi này của Ly Kính một lần, ngoại hình không giống với hắn, đại để là giống mẫu thân, nhưng cũng là một giai nhân thanh tú.

Hắn vô cùng vui vẻ, chỉ nói rằng đã thân lại càng thêm thân, tuy rằng ta và hắn vốn đâu có thân gì nhau. Nhưng trong lòng ta thực sự buồn khổ. Nếu như ta sinh ra đã là đàn ông thì chẳng có gì phải phàn nàn cả, đây sẽ là chuyện tốt, nhưng rõ ràng lúc sinh ra ta chẳng phải là một con hồ ly đực. Ta nói với Ly Kính rằng ta là một kẻ thô lỗ, làm sao xứng với công chúa Yên Chi, hắn lại tưởng rằng ta xấu hổ, chỉ mỉm cười không bận tâm. Lòng ta buồn bực khổ sở biết bao.

Trong cung Đại Tử Minh, Lệnh Vũ đang khổ sở chống đỡ ở góc phía đông, ta cũng ở góc phía tây khổ sở chống đỡ, cũng coi như là cân bằng với nhau.

Một đêm nằm mơ, ta mơ thấy Lệnh Vũ thực sự gả cho gã Quỷ Quân đoạn tụ đó làm vương hậu, còn ta thực sự lấy Yên Chi. Ly Kính nhiệt tình, thân thiết kéo ta lại, chỉ vào Lệnh Vũ mà nói: “Âm đệ, mau gọi một tiếng mẫu hậu đi”. Lệnh Vũ lại kéo tay ta đặt lên bụng huynh ấy, trên đỉnh đầu tỏa vầng hào quang, nói với ta một cách cực kỳ hiền từ: “Sau mấy tháng nữa, mẫu hậu sẽ hạ sinh cho các con một tiểu đệ đệ, A Âm, con có thích hay không?”. Ta cứng đờ mặt, cười khan, đáp: “Thích ạ”.

Đến khi tỉnh lại, lớp áo lót đã ướt đẫm mồ hôi lạnh. Muốn xuống giường uống ngụm nước mát cho tỉnh táo, rẽ màn ra, lại nhìn thấy Ly Kính toàn thân mặc áo bào trắng, lặng lẽ đứng ở đầu giường, ánh mắt nhìn ta sáng lấp lánh.

Từ trên giường ta ngã lăn xuống đất.

Lúc đó đã là canh ba, ngoài cửa ánh trăng tuy chẳng đẹp chút nào nhưng cũng đủ chiếu sáng gian phòng nhỏ này.

Ta bò trên đất nghĩ, không có gì lạ, không có gì lạ, hắn ta có lẽ là mất ngủ, đến tìm ta giải khuây mà thôi.

Nhưng quả nhiên thấy hắn ta quỳ xuống, trầm ngâm hồi lâu mới lên tiếng: “A Âm, ta nói với đệ một bí mật, đệ có muốn nghe không?”.

Ta đắn đo, lúc này hắn ta vẫn chưa ngủ, lại chạy đến chỗ ta để nói với ta một bí mật, rõ ràng là rất đau khổ. Nếu như ta không nghe, thực sự không đáng làm huynh đệ của hắn, bèn ngậm ngùi gật đầu một cái.

Hắn thẹn thùng nói: “A Âm, ta thích đệ, muốn ngủ cùng đệ”.

Ta vừa lồm cồm bò dậy ngay lập tức đầu lại cắm xuống đất. Theo những gì ta biết, Ly Kính vì chán ghét hành vi đoạn tụ của cha hắn, những chuyện trăng hoa của hắn hết sức bình thường, trong tẩm điện có hàng tá mỹ nhân, người nào người ấy đều ngực nở eo thon chân dài. Lúc đó ta hóa thành đàn ông, nhưng mặt mũi vẫn không hề biến đổi, chỉ có phần ngực là phẳng lỳ. Nghe những lời này của hắn ta, đương nhiên là choáng váng hết sức.

Hắn tự cho rằng mình đã cởi lòng cởi dạ, coi như đã thỏa thuận xong với ta, bèn bước tới cởi xiêm y của ta. Ta sống chết túm lấy vạt áo phía trước, hắn giận dữ nói: “Đệ đã im lặng đồng ý, sao lại ngại ngùng làm gì?”.

Nên biết rằng bản thần quân khi đó chỉ không nói gì, chứ tuyệt đối không phải im lặng đồng ý, mà là choáng váng đó thôi.

Hắn giằng lấy xiêm y như lần đầu tiên gặp mặt, cũng chưa tới mười ngày lại giằng thêm một lần nữa. Tượng đất còn có tự trọng, huống đó lúc đó ta lớn nhỏ gì cũng đã có tiên vị, được phong làm thần quân.

Thực sự là không thể nhẫn nhịn hơn được nữa, một đao chém ra, làm hắn ngã lăn ra đất. Nào hay lực đánh ra quá mạnh, lại vừa hay chém trúng huyệt Thiên Trụ sau gáy, cơ duyên trùng hợp, hắn liền ngất đi, nằm nặng trịch trên bụng ta, từ đầu tới chân toàn hơi rượu.

Như thế, ta ngẫm nghĩ xem những hành vi vừa nãy của hắn đều là do say rượu làm càn, cho nên cũng không so đo tính toán gì nhiều nữa. Lại nghĩ hắn nằm trên đất sẽ bị lạnh, bèn ôm lấy chiếc chăn trên giường, “gói” bừa hắn lại, cuộn lại rồi đẩy hắn vào xó giường, còn mình thì trèo lên giường đi ngủ.

Sáng sớm hôm sau, vừa mở mắt ra ta đã nhìn thấy hắn đang bó mình trong cái chăn hôm qua một cách rất đáng thương, cúi mình bên cạnh mép giường của ta, vừa nhăn mày vừa xoa xoa má: “Sao huynh lại ngủ ở chỗ đệ?”.

Trống ngực ta đánh mấy hồi, ta chậm rãi nói: “Đêm qua huynh uống say quá, canh ba chạy đến phòng đệ, nói thích đệ, đòi ngủ cùng đệ nữa”.

Cánh tay đang gãi gãi lên mái tóc của hắn cứng đờ giữa khoảng không, sắc mặt lúc xanh lúc trắng, chiếc áo nhàu nát như cái tổ chim, giống như đánh một quả trứng gà trong bát canh. Mãi lâu sau, hắn mới lắp bắp nói: “Huynh, huynh không phải là đoạn tụ. Nếu, nếu huynh là người như thế, sao, sao có thể nói là sẽ gả muội muội cho đệ?”.

Ta khẽ túm vạt áo, vui vẻ nói: “Quả thực huynh không phải là đoạn tụ”

Nhưng chẳng ngờ động tác túm vạt áo này lại kích thích mạnh hắn.

Hắn giơ tay phải lên run run chỉ vào ta: “Đệ, đệ… như thế… rõ ràng, rõ ràng là sợ ta quấy rối đệ”.

Ta đờ người ra, nói mập mờ: “Quả thực đêm qua huynh cũng suýt chút nữa lột áo của đệ ra”.

Mấy ngày liền sau đó không gặp Ly Kính. Trước đó hầu như ngày nào hắn cũng đến quấy nhiễu ta, lần này lại mất tăm mất tích.

Thành thật mà nói, con người Ly Kính tuy có ồn ào một chút, nhưng rượu mà hắn đem đến lại rất ngon, lúc cùng hắn chọi gà, chọi dế cũng rất vui vẻ. Vì thế, mấy ngày không gặp ta rất nhớ hắn.

Công chúa Yên Chi mời ta cùng dạo chơi hậu hoa viên, vô tình có nhắc đến vị ca ca này của nàng ta, lúc đó ta mới biết mấy ngày nay đêm nào cũng hỏi hoa tìm liễu, vô cùng phóng đãng phong lưu.

Yên Chi tỉ mỉ dịu dàng, lo lắng hỏi ta: “Có phải thần quân và nhị ca ca xảy ra hiềm khích gì không? Trước đây hai người như chân với tay, ngày ngày bên nhau như hình với bóng cơ mà”.

Ta đưa tay lên sờ phía sau gáy, nghĩ lại một hồi, cho rằng ngoài việc đêm đó hắn say rượu giở trò càn quấy với ta bất thành ra, thì ta với hắn luôn luôn hòa thuận. Thêm vào đó, anh em như quần áo, thê thiếp như tay chân, hắn và tay chân của hắn làm chuyện đại sự lo người hương hỏa, có thêm quần áo quả thực quá thừa thãi. Chuyện phong tình trang nhã như ôm mỹ nhân trong lòng, mà bên cạnh lại có một tên đàn ông đứng cạnh nhìn chằm chằm vào mỹ nhân của hắn thì phong tình trang nhã cũng hơi quá. Đương nhiên ta không phải đàn ông, vì thế tuyệt đối không thèm nhìn trộm mỹ nhân trong lòng hắn, hắn cũng không biết rằng chắc chắn phải phòng bị một phen. Làm đàn ông không dễ, làm một người đàn ông có nhiều vợ lại càng không dễ, nghĩ tới đây, ta rất cảm thông với hắn.

Yên Chi nhìn ta chằm chằm muốn hỏi đến tận cùng. Ta đắn đo trong lòng một hồi, cảm thấy nói cho nàng ta nghe e sẽ không hay. Bối rối hồi lâu bèn tìm đại một lý do để lấp liếm cho qua.

Chẳng mấy chốc đã là mùng hai tháng hai.

Cung Đại Tử Minh đèn hoa rực rỡ, phần ăn của ta cũng được cải thiện không ít.

Sau khi nhận được phong thư của ta, vì được an ủi nên Lệnh Vũ cũng miễn cưỡng được coi là sống yên ổn. Đưa huynh ấy trốn khỏi cung lại là chuyện cực kỳ cơ mật, ngay cả trong thư ta cũng chưa từng nhắc đến. Cho nên ngày hôn lễ đến gần, huynh ấy khó tránh khỏi lo lắng, trong giờ Thìn buổi trưa huynh ấy đã làm liền một lúc nào là cắn lưỡi, uống thuốc độc, treo cổ, làm đi làm lại mấy lần liền.

Ta cũng đi đi lại lại trong nhà hơn mười vòng, xem chừng vẫn nên đi đến tẩm điện, thương lượng qua với Ly Kính xem xem có thể tiến hành kế hoạch trước một ngày hay không.

Đến trước tẩm điện của Ly Kính thì bị hai cung nga chặn lại, nói nhị hoàng tử đã cùng hai vị phu nhân đi săn bắn bên ngoài, không có trong cung. Ta đắn đo một hồi rồi đành để lại lời nhắn cho cung nga, đợi khi nhị hoàng tử trở về cung nhờ hai người họ thông báo một tiếng, nói là Tư Âm Thần Quân có món đồ chơi mới rất hay, muốn chơi cùng ngài.

Ta ngồi lỳ trong phòng cắn hạt dưa rất lâu, chưa đợi được Ly Kính nhưng lại đợi được sư phụ của ta – Mặc Uyên.

Dưới nách của Mặc Uyên có một bọc chăn, trong đó quấn kín một bóng người, dường như chính là vị cửu sư huynh tự sát bất thành – Lệnh Vũ của ta.

Một miếng vỏ hạt dưa mắc trong họng ta, làm ta ngạt thở đến mức mặt mày tím tái. Sư phụ nhíu mày nhìn ta dò xét một lượt, rồi đi tới vỗ vỗ ngực cho ta.

Ta nhổ ra được mảnh hạt dưa, nghĩ tới việc cuối cùng ngày hôm nay có thể trốn khỏi nơi này, không còn phải sợ hãi lo lắng cho sư huynh Lệnh Vũ nữa thì không khỏi cảm thấy vui mừng.

Sư phụ đặt Lệnh Vũ xuống rồi ôm ta một cái, ôm chặt hồi lâu mới thả ra, lãnh đạm nói: “Không sai, Lệnh Vũ gầy đi một chút, Tiểu Thập Thất lại béo lên một chút, coi như là chúng ta không bị thiệt thòi”.

Ta nở nụ cười nịnh bợ, bưng hạt dưa đưa đến trước mặt người: “Sư phụ, người ăn hạt dưa đi ạ”.

Cuộc chạy trốn đêm đó của chúng ta không hề thuận lợi.

Kình Thương tóm được ta và Lệnh Vũ, đương nhiên hắn ta cực kỳ yêu mến Lệnh Vũ nhưng Lệnh Vũ lại không chịu theo hắn, ấy chính là cưỡng ép. Mặc Uyên nể tình hữu nghị giữa Thần tộc và Quỷ tộc nên chẳng gây chuyện binh đao, chỉ âm thầm đột nhập cung Đại Tử Minh để cướp ta và Lệnh Vũ đi, coi như là đã giữ thể diện cho hắn ta. Hắn ta lại không biết phải trái điều động binh tướng chặn kín ở cửa cung, đòi bắt chúng ta, chẳng trách Mặc Uyên không nhẫn nhịn được nữa, đại khai sát giới.

Lệnh Vũ vì hôn mê suốt nên không trông thấy cảnh tượng đó. Ta nhìn cảnh máu chảy đầu rơi trước mặt mà lòng run sợ.

Mặc Uyên xưa nay bất bại, lúc ôm ta và Lệnh Vũ nhảy ra khỏi cửa cung, ta còn quay đầu lại nhìn, chỉ nhìn thấy Kình Thương cầm chiếc Phương Thiên họa kích, đứng ở giữa đống máu tanh màu đỏ sậm, đôi mắt như muốn rách toác ra.

Ta vẫn chưa nhìn thấy Ly Kính đâu.

Mặc Uyên ôm ta và Lệnh Vũ từ cung Đại Tử Minh chạy về gò Côn Luân, Lệnh Vũ vẫn hôn mê, vẫn im lìm như thế.

Ta mãi mãi không thể nào quên được đêm hôm đó, nhưng suốt đời này cũng không muốn nhớ lại.

Sau khi chạy về gò Côn Luân, Mặc Uyên giao Lệnh Vũ cho tứ sư huynh chăm sóc, còn mình vội vã dẫn ta đến phòng đan dược, giơ tay điểm huyệt ngủ của ta, rồi nhốt ta trong lò luyện đan của người.

Lúc ta mới tỉnh lại vẫn còn nghĩ tất là sự trừng phạt của Mặc Uyên, cảnh cáo ta đã không chăm sóc Lệnh Vũ tử tế, hại huynh ấy bị thương hơn nửa tháng, gầy đi mất một chút.

Bỗng nghe sấm long sét nổ.

Lúc đó mới ý thức được rằng, e rằng đây là thiên kiếp của ta. Mặc Uyên sắp xếp cho ta ở nơi đây là vì muốn ta tránh được thiên kiếp.

Tuy rằng ta sinh ra từ tiên thai, nhưng nếu muốn có chút tiền đồ, thì cũng phải dựa vào bản thân. Từ một thần tiên bình thường mà thăng lên làm thượng tiên, từ một thượng tiên được thăng lên thượng thần, ít nhất cũng mất bảy vạn năm, nhiều nhất thì cũng phải mười bốn vạn năm, phải trải qua hai kiếp số. Kinh qua được thì thọ ngang trời đất, không qua được thì tuyệt mệnh tại đây.

Khi đó, ta đã theo Mặc Uyên hai vạn năm. Theo lý mà nói, suy diễn thiên kiếp của bản thân diễn ra vào lúc nào, nơi nào, dùng phương thức nào để giáng xuống, lại tổng duyệt trước một số cách vượt qua thiên kiếp xem có ổn hay không là đều có thể được. Nhưng vì ta xưa nay rất ghét thuật suy diễn, cảm thấy những ấn già (13) này cực kỳ vô vị, mỗi giờ dạy của Mặc Uyên ta đều tích cực ngủ gà ngủ gật, thế nên học đã bao lâu cũng chỉ có thể tính được số mệnh của người phàm trần. Cho dù như thế, mười lần thì cũng có năm, sáu lần tính sai.

Ta rất hiểu rằng mình đạo mỏng duyên nông, dùng tu vi như thế này để trải qua thiên kiếp như thế kia thì đúng là giống như mổ bụng gà mà đòi lấy ra trứng vịt, thực sự là không thể.

May mà bảy vạn năm qua ta rong chơi ngày tháng tiêu dao tự tại, nên khoảnh khắc hồn tiêu phách tán ta cũng không lấy làm hối tiếc điều gì. Cho nên đối với thiên kiếp này ta cũng chỉ coi là bình thường, chỉ hiểu sơ sơ là giáng vào năm này, còn ngoài ra thì ta mù tịt.

Ta chui trong lò luyện đan, đợi qua một lúc mới đột nhiên nhớ ra, ta đang trốn trong căn phòng này, vậy phải tìm ai để thay thế ta? Nên biết rằng sở dĩ thiên kiếp được gọi là thiên kiếp, đương nhiên không thể giống như kiếp số bình thường, một khi đã giáng xuống thì chắc chắn phải ứng vào thân người thì mới coi như đã xong chuyện.

Tiếng sấm sét đì đùng làm đầu óc ta trở nên trống rỗng, thi triển mọi bản lĩnh để khoan lò chui ra, nhưng trước sau đều không thể. Đây là lần đầu tiên trong đời ta ý thức được rằng suốt hai vạn năm cầu học kia, ta đã sống hết sức khốn nạn.

Ngày hôm sau, đại sư huynh đến mở nắp lò, hết sức chân tình nói: “Thập Thất, hôm qua sư phụ đứng bên cạnh lò đỡ cho đệ trọn ba cú sét đánh, sau này đệ nên chịu khó học hỏi chút bản lĩnh đi. Lần sau được thăng làm thượng thần mà lại để sư phụ giúp đệ vượt qua thiên kiếp e là không được đâu”.

Mặc Uyên giúp ta chịu thiên kiếp, trước khi ta từ trong lò bò ra ngoài, người đã bế quan trị thương rồi.

Ta quỳ trước động của người ba ngày, nước mắt nước mũi tèm nhem, thành khẩn nói: “Sư phụ, có phải người bị thương quá nặng không? Thương thế của người có trị được không? Đệ tử thực sự là đồ khốn nạn, đã làm liên lụy đến người. Xin người chớ để lại mầm bệnh, nếu như người có chuyện gì không hay xảy ra, đệ tử chỉ có cách đem hầm bản thân ra làm canh bổ cho người ăn thôi”.

Đời này chỉ có một lần ta khóc đến mức dữ dội và thương tâm như thế.

Chú thích:

11. Nguyên văn là chữ 司 音, chữ 司 khi dùng với nghĩa là chức quan chủ quan một nơi, đơn vị thì đọc là Ti, còn khi dùng làm tên người, chỉ người thì đọc là Tư (ND).

12. Trong văn hóa của Trung Hoa, tửu lệnh là một thú vui trợ hứng trong các buổi tiệc rượu, thông thường có một người được cử ra làm lệnh quan, những người còn lại thì lần lượt thay phiên nhau đọc thơ từ, câu đối hoặc các trò chơi tương tự khác, nếu người nào làm trái lệnh hoặc không làm thì sẽ bị phạt uống rượu, cho nên còn có câu “hành lệnh ẩm tửu” – làm theo lệnh uống rượu. Căn cứ theo người chơi là văn nhân tài tử hay người bình thường mà tửu lệnh chia làm hai loại lớn: Nhã lệnh và Thông lệnh. Nhã lệnh thường là có những trò đọc thơ ca, đối câu, nhắc điển cố điển tích như tứ thư lệnh, hoa kỹ lệnh, Thi lệnh, lệnh câu đố, lệnh đối chứ, lệnh điển cố, lệnh tên người… Còn Thông lệnh thường gồm các trò như đổ xúc xắc, rút thăm, oẳn tù tì (ND).

13. Ấn già: Những tư thế tay bắt ấn để làm phép (ND).

Chương 6: Chuyện đã qua không nên quay đầu lại

Sau đó, ta rất cố gắng ngày ngày ở trong phòng tham khảo học hỏi các tiên thuật đạo pháp, lúc nhàn rỗi thì đọc thêm các điển tịch mà thần tiên đời trước để lại. Đại sư huynh rất thảnh thơi.

Học được phép thuật nào ta lại đến biểu diễn trước động của Mặc Uyên một lần. Người tuy rằng không biết nhưng ta lại cầu được yên lòng.

Một ngày nọ, khi ta đang ngồi dưới rừng đào phía sau núi để tọa thiền. Đại sư huynh sai một con hạc tiên tới thông báo, ta mau mau về tiền sảnh, có khách tới thăm.

Ta ngắt lấy một cành hoa đào. Cành hoa đào trong phòng Mặc Uyên đã có mấy dấu hoa tàn. Tuy gần đây người bế quan tu luyện, chưa từng ở trong phòng nhưng ta vẫn chăm chút cho nó, khi nào người xuất quan ở phòng đó cũng sẽ cảm thấy thoải mái dễ chịu.

Ta cầm cành hoa đào đi đến tiền sảnh.

Đi ngang qua đình trung, hai vị sư huynh Thập Tam, Thập Tứ đang ngồi dưới gốc táo đang cá cược xem vị khách kia là nam hay là nữ. Ta đoán là tứ ca Bạch Chân đến thăm hỏi, cho nên móc một viên dạ minh châu ra, cũng rụt rè tham gia đánh cược. Bước vào tiền sảnh lại chẳng ngờ, vị khách mà đại sư huynh nói đến lại chính là Ly Kính – nhị hoàng tử của Quỷ tộc đã lâu không gặp.

Lúc ấy, hắn nghiêm trang ngồi ngay trên chiếc ghế thái sư bằng gỗ lê, lim dim mắt uống trà. Nhìn thấy ta bước vào hắn thoáng ngây người.

Lấy máu Mặc Uyên để rửa cung Đại Tử Minh, ta suy diễn rất có logic, lần này Ly Kính đến đây chẳng phải hỏi tội lần trước sao? Hắn ta lại bước nhanh hai bước, rất nhiệt tình thân thiết ôm lấy hai tay ta: “A Âm, ta hiểu rồi, lần này ta sẽ cùng đệ ở cùng bay chung, gắn bó bên nhau”.

Cành hoa đào gãy “rắc” một tiếng rơi xuống đất.

Thập Tam sư huynh đứng ngoài cửa hét lên: “Trả tiền, trả tiền, là con gái đó”.

Ta rất hoang mang, ngẫm nghĩ hồi lâu, mới mở vạt áo cho hắn nhìn: “Đệ là đàn ông, huynh và các phu nhân ở tẩm điện của huynh ân ân ái ái, đâu phải là một kẻ đoạn tụ”.

Thực ra ta không phải là đàn ông, trái tim hồ ly to bằng bàn tay dưới lớp da thịt kia đâu có thô lỗ như bọn đàn ông, mà vẫn dịu dàng tinh tế như những cô gái bình thường. Nhưng vì ban đầu mẹ ta muốn đánh lừa Mặc Uyên, nên ta không tránh khỏi phải giữ hình dáng đàn ông này cho đến khi học thành tài, có thể thuận lợi ra khỏi sư môn.

Ly Kính nhìn chằm chằm vào bộ ngực bằng phẳng của ta, quẹt máu mũi nói: “Từ ngày huynh rời khỏi phòng của đệ, huynh đã suy nghĩ rất nhiều. Vì sợ rằng mình đúng là có tư tưởng kỳ quái như lời đệ nói, cho nên cả ngày quyến luyến hoa liễu, những mong, những mong sẽ dùng đàn bà để mê hoặc chính mình. Lúc đầu, lúc đầu cũng có chút hiệu quả, nhưng chẳng ngờ từ sau khi đệ ra đi, ta ngày nhớ đêm mong. A Âm”, hắn chẳng màng tới xung quanh mà tiến tới ôm chặt ta, chậm rãi nói: “Vì đệ, dù làm đoạn tụ một lần cũng đâu có gì đáng ngại?”.

Ta ngẩng lên nhìn gỗ hoa đào trên xà nhà, lại nghĩ kỹ một lượt, cảm thấy tình thế lúc này, sao mà khiến người ta kinh sợ đến vậy, sao mà khiến người ta ngậm ngùi biết bao.

Thập Tứ sư huynh cười ha ha: “Rốt cuộc là ai trả tiền cho ai?”.

Cho dù Ly Kính ngàn dặm xa xôi chạy tới Côn Luân để thổ lộ tâm tình với ta, nhưng đối với hắn, ta chằng hề có một chút tình cảm đoạn tụ nào, đành chỉ có thể khiến hắn thất vọng mà thôi.

Sắc trời dần tối, đường núi khó đi, ta giữ hắn ở lại trên núi một đêm. Đại sư huynh Nại Hà biết được có một kẻ đoạn tụ lên núi tìm ta, bèn tức giận đánh hắn, tống cổ ra khỏi cửa.

Ta vô cùng khâm phục sự can đảm của Ly Kính, bị đại sư huynh đánh một trận dã man như vậy cũng quyết không từ bỏ, cách dăm ba hôm lại sai vật cưỡi của hắn là Hỏa kỳ lân đem tới mấy bài thơ tình vừa đau thương vừa chua xót. Lúc đầu viết “Trên trời nguyện làm chim liền cánh, dưới đất nguyện làm cây liền cành”, dăm hôm sau lại “Tương tư muốn gặp nhau biết ngày nào, lúc này đêm nay khó vị tình”, vài hôm sau lại “Áo khăn dần lỏng cũng không hối hận, vì ai thương nhớ tấm thân hao gầy”.

Vì những trang giấy viết những bài thơ này rất dễ cháy, nên Thập Tam sư huynh vốn được phân công coi sóc chuyện bếp núc liền nhặt nhạnh từng trang từng trang, lấy làm mồi nhóm bếp. Ta cũng từng cố hết sức giữ gìn bảo vệ chúng, nhưng chỉ một câu của đại sư huynh Nại Hà: “Đệ suốt ngày ở trên núi không sản xuất, chỉ biết ngồi không đợi ăn cơm, lần này khó khăn lắm mới có chút giấy bỏ đi để đóng góp, vậy mà còn nhỏ mọn như thế” làm cho ta “tắt họng” ngay lập tức. Khi đó ta vẫn còn nhỏ, tuy ngày ngày cùng ở với cánh đàn ông, may mắn là vẫn còn chút tình cảm của thiếu nữ. Tuy rằng chưa từng đáp lại Ly Kính lời nào, nhưng hắn vẫn vô cùng nhẫn nại, ngày ngày sai Hỏa kỳ lân mang thư tới. Ta cũng hơi rung động vì hắn.

Một ngày kia, Hỏa kỳ lân đem tới hai câu thơ, rằng “Thiên trường địa cửu hữu thời tân, Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ” (Thiên trường địa cửu còn có lúc hết, Nhưng mối hận này đằng đẵng không bao giờ nguôi). Ta kinh sợ, tưởng rằng đó là di thư, hắn có vẻ giống như một người nghĩ quẩn, bèn tiện đường ngồi lên lưng Hỏa kỳ lân, âm thầm đi tới cung Đại Tử Minh để khuyên nhủ hắn. Hỏa kỳ lân lại đưa ta tới thẳng động phủ ở dưới chân núi.

Đó là một cái động tự nhiên, sau đó được thu dọn, sửa sang, Ly Kính đang nằm nghiêng trên chiếc sập bằng đá. Ta không biết hắn đã chết hay còn sống, chỉ cảm thấy trời như đã sụp xuống một nửa, bèn nhảy xuống khỏi Hỏa kỳ lân mà chạy tới lay hắn. Lay, lay, rồi lại lay, trước sau hắn vẫn không hề tỉnh lại. Ta không biết làm thế nào, đành phải lấy pháp khí ra, sấm rền chớp giật gió điên cuồng thổi qua, thử hết cách này tới cách khác, nhưng hắn vẫn không tỉnh. Hỏa kỳ lân thấy không ổn bèn nhắc ta: “Pháp khí này đánh bên người chỉ là gây tê, thượng tiên không ngại thì hãy kích thích vào tâm can mềm yếu của điện hạ, có lẽ điện hạ sẽ tỉnh lại”.

Cho nên ta liền nói câu nói đó.

“Huynh mau tỉnh đi mà, đệ nhận lời huynh là được chứ gì”.

Hắn quả nhiên mở choàng mắt, tuy rằng bị chiếc quạt lụa của ta đập cho tơi tả nhưng hắn vẫn cười, nói: “A Âm, nhận lời huynh rồi thì đệ không được hối hận đấy, đỡ huynh dậy nào, huynh bị pháp khí của đệ đánh cho xương cốt rụng rời rồi”.

Lúc đó ta mới biết đây chỉ là mưu kế.

Sau này đại ca mới nói cho ta hay, mưu kế trong chuyện gió trăng không được coi là mưu kế, chỉ là hứng thú mà thôi; còn hứng thú trong chuyện gió trăng cũng không được coi là hứng thú, chỉ là mưu kế mà thôi. Sau khi trải qua vết thương lòng, ta thấy nó cực kỳ có lý. Nhưng lúc đó thì vẫn chưa ngộ được chân lý.

Ly Kính đã đuổi hết những vị phu nhân trong tẩm điện của hắn, còn ta thì ở chung với hắn. Đương khi tháng tư giữa chốn nhân gian, hoa đào trên núi bắt đầu nở rộ. Ly Kính vì đã thành công nên không gửi những bài thơ sướt mướt đến nữa. Đại sư huynh cho rằng hắn đã không thể kiên nhẫn được nữa nên vô cùng vui vẻ, các bài luyện tập tu tiên của chúng ta cũng nhờ phúc ấy mà được giảm đi không ít, vì thế mọi người vừa tiêu dao lại vừa sung sướng.

Khi ấy, trong lòng Ly Kính vẫn có chút dè chừng với đại sư huynh, nên tuy rằng ở dưới chân núi nhưng cũng không lên núi nữa. Thế nên, mỗi ngày sau khi ta kết thúc bài luyện tập, đến trước động của Mặc Uyên báo cáo xong, liền thu dọn đồ đạc để xuống núi hẹn hò với hắn, ngày tháng trôi qua mệt mỏi muốn chết đi được.

Ly Kính quả không hổ là kẻ quen đường tìm hoa hỏi liễu, khiến người ta vui vẻ. Giờ đây vẫn còn nhớ, hắn từng tặng cho ta rất nhiều đồ chơi tinh xảo. Những thứ như dế tết bằng cỏ, sáo ngắn bằng trúc xanh, thứ nào cũng toàn tâm toàn ý làm thành, thực khiến người ta yêu thích. Cố nhiên có điều là không đáng mấy tiền, khiến người ta không khỏi tiếc nuối.

Có một lần hắn còn tặng ta một dây hoa dưa chuột. Lúc ở cung Đại Tử Minh, công chúa Yên Chi từng kể với ta rằng, vị ca ca này của nàng ta từ lúc nhỏ đã mắc một tật nhỏ, đó là không phân biệt được màu vàng hay màu tím. Hắn ta nhìn màu vàng hay màu tím đều giống như nhau, mà màu sắc này lại là một màu sắc kỳ dị mà người thường không thể nào lý giải nổi. Như thế, khi tặng ta hoa dưa chuột, chắc hẳn hắn coi đó là một loài hoa tuyệt thế. Ta cũng không thèm so đo với hắn, hoa dưa chuột tốt xấu gì cũng là một loài hoa. Cho nên ta ép khô nó lại, rồi kẹp vào trong một cuốn sách về đạo pháp, trân trọng cất đi.

Sau khi ta mắc phải vết thương lòng thì không còn muốn nhớ lại quãng thời gian ta và Ly Kính tâm hợp ý đầu với nhau năm đó nữa. Rõ ràng đã qua nhiều năm như thế, những tình tiết của quãng thời gian này ta cũng không còn nhớ rõ nữa.

Vậy thì hãy tiếp tục từ đoạn Huyền Nữ ra sân khấu đi.

Huyền Nữ là một muội muội nhỏ nhất của nhà đại tẩu Vị Thư ta. Khi đại tẩu được gả vào nhà ta, tẩu ấy vẫn là một đứa trẻ còn quấn trong tã lót. Vì cái năm đại tẩu xuất giá, nhà mẹ đẻ xảy ra một số chuyện, Huyền Nữ từ nhỏ đã được đại ca đại tẩu ta nuôi dạy, thường xuyên cùng chơi, cùng ở với ta. Huyền Nữ rất thích tướng mạo của ta, lúc còn nhỏ, cả ngày thường lèo nhèo bên tai ta rằng, muốn có được khuôn mặt giống ta như đúc. Ta bị nàng ta lèo nhèo suốt mấy trăm năm, thực là quá khổ sở, vì biết rằng Chiết Nhan có bản lĩnh dịch dung thay đổi khuôn mặt, có một năm nhân dịp sinh nhật nàng ta, ta bèn đặc biệt tới rừng đào mười dặm để vời Chiết Nhan, xin người làm phép thuật, biến nàng ta giống ta tới bảy, tám phần. Huyền Nữ được toại nguyện nên cực kỳ vui vẻ. Ta được thanh tịnh nên cũng vui vẻ vô cùng. Như thế mọi người đều vui vẻ.

Nhưng chẳng bao lâu sau thì phát hiện chuyện không hay. Không phải là phép thuật của Chiết Nhan chẳng ra gì mà là ở chỗ ta suốt ngày phải nhìn gương mặt gần giống hệt mình lượn qua lượn lại trước mắt, khó tránh khỏi choáng váng đau đầu, thế nên ta dần dần tránh xa Huyền Nữ, ngày ngày chơi bời cùng tứ ca.

Sau khi Huyền Nữ lớn lên, thành một cô nương, bèn quay về chỗ cha mẹ nàng ta. Ta và nàng ấy từ đó chẳng còn qua lại chi nữa.

Khi ta với Ly Kính đang bên nhau nồng thắm thì đại tẩu gửi thư đến nói rằng, mẹ của đại tẩu đang ép gả Huyền Nữ cho một tên mù, Huyền Nữ liền chạy một mạch đến động phủ của đại ca và đại tẩu. Nhưng động phủ của họ cũng không hẳn là an toàn, mẹ của đại tẩu trước sau gì cũng tìm đến. Cho nên tẩu ấy và đại ca ta bàn bạc với nhau tạm thời gửi Huyền Nữ tới chỗ của ta để lánh nạn.

Nhận được thư của đại tẩu, ta liền thu dọn phòng của mình một lượt, lại gửi cho đại sư huynh một lá thư, cho huynh ấy hay rằng có một tiên hữu sắp đến Côn Luân làm phiền mấy ngày. Gần đây tâm tình đại sư huynh rất vui vẻ, nghe nói vị tiên hữu này là nữ thì tâm tình càng vui vẻ hơn, rất mau mắn nhận lời.

Ba ngày sau, Huyền Nữ yểu điệu cưỡi một đám mây xám tiến vào gò Côn Luân.

Khi nàng ta nhìn thấy ta thì lặng đi trong giây lát.

Trong thư đại tẩu chưa nói cho Huyền Nữ biết rằng ta chính là Bạch Thiển, bạn chơi thuở thiếu thời của nàng ta, mà chỉ nói ta là một tiên hữu chơi với họ mà thôi.

Huyền Nữ ở lại gò Côn Luân. Dung mạo của nàng ta thực sự có đến chín phần giống ta. Đại sư huynh nhận xét rằng: “Nói nàng ta không phải là muội muội của đệ ta quả thực không tin được, hai người bọn đệ đứng cạnh nhau, chỉ khác có mỗi dáng vẻ yểu điệu”. Khi đó ta đương lúc gió xuân đắc ý, tự cho rằng mình không có dáng vẻ sầu thu thương xuân, luyến hoa tiếc nguyệt, quả thực có chút không có dáng vẻ yểu điệu.

Ta thấy Huyền Nữ cả ngày u uất sầu bi, khuôn mặt võ vàng, vốn có ý quan tâm thăm hỏi như chốn thân thích, lần sau xuống núi tìm Ly Kính liền dẫn nàng ta đi theo.

Lúc Ly Kính mới gặp Huyền Nữ thì ngây ra hồi lâu, khó khăn mới lắm trấn tĩnh, lại thốt ra một câu cực kỳ ngây ngô: “Ở đâu ra một Tư Âm nữ thế này?”.

Huyền Nữ liền cười “phì” một tiếng.

Ta thấy nàng ta cuối cùng đã vui vẻ lại nên cũng rất sung sướng. Hôm sau đi tìm Ly Kính cũng dẫn nàng ta đi theo.

Một ngày, khi ta đương leo trên cây táo ở đình trung để hái táo, định bụng khi mặt trời xuống núi sẽ mang đến động của Ly Kính mời hắn thưởng thức.

Đại sư huynh ào đến như cơn gió, ngồi yên dưới gốc cây, cắn răng mà nói với ta: “Lần trước huynh đánh kẻ đoạn tụ đến tìm đệ, đệ còn trách huynh ra tay quá nặng, còn huynh lại hận mình sao ngày đó mình không đánh chết hắn ta đi, không cho hắn dẫn đệ đi, hắn lại dẫn Huyền Nữ đi…”.

Ta một mình chật vật tụt xuống khỏi cây táo, miễn cưỡng ngẩng đầu lên nói: “Đại sư huynh, vừa nãy huynh nói gì?”.

Huynh ấy ngẩn ra, vội vàng dìu ta: “Mau mau xuống núi, nhìn từ xa cũng thấy tên đoạn tụ đang nắm tay Huyền Nữ đi dạo, dáng vẻ chan chứa tình cảm”.

“Ớ?” Huynh ấy lại dìu ta nửa bước, sau đó lại dừng lại, sờ cằm, nói: “Huyền Nữ là một nữ thần tiên, kẻ đoạn tụ đó lại là một tên đoạn tụ rất chân thành, sao bọn họ lại có thể thành đôi được nhỉ?”.

Ta như có sét đánh ngang tai, vùng khỏi tay huynh ấy, chạy như bay xuống núi.

Hỏa kỳ lân đang ngủ gà ngủ gật bên ngoài động.

Ta bắt quyết biến thành một con ngài, loạng choạng vỗ cánh bay vào trong động.

Trên chiếc sập đá có hai bóng người đang quấn lấy nhau.

Người con gái nằm phía dưới có khuôn mặt giống hệt ta, đang thở hổn hển.

Người đàn ông ở trên đưa tay rẽ mái tóc dài đen bóng, dịu dàng gọi: “Huyền Nữ, Huyền Nữ”.

Nhất thời lòng ta lạnh buốt, không trụ nổi, gió thổi qua động thổi ta rớt xuống đất, hóa thành hình người. May mà vẫn đứng vững, không đến nỗi mất đi phong độ của gò Côn Luân.

Ly Kính và Huyền Nữ cùng lúc quay đầu lại, sự hoảng loạn ấy quả thực không nằm ngoài dự liệu.

Ta vẫn còn nhớ mình cực kỳ bình tĩnh bước tới, quạt cho Ly Kính một cái, lúc định quạt Huyền Nữ liền bị Ly Kính giữ tay lại. Huyền Nữ ôm chăn rúc trong lòng hắn ta, gương mặt Ly Kính lúc xanh lúc trắng.

Ta với hắn giằng co một lúc, cuối cùng hắn cũng buông tay ra, nghiêm giọng nói: “A Âm, huynh xin lỗi đệ, rốt cuộc huynh vẫn không phải là một kẻ đoạn tụ”.

Ta giận quá cả cười: “Đây quả là cái cớ rất thông dụng, có phải đoạn tụ hay không thì chỉ cần ngươi nói là xong, tốt lắm, tốt lắm. Bây giờ thì ngươi định làm thế nào với ta?”.

Hắn trầm ngâm một hồi, nói: “Lúc đầu là do ta mê muội”.

Huyền Nữ nước mắt vòng quanh, nghẹn ngào nói: “Thượng tiên Tư Âm, xin người tác thành cho chúng ta, ta và Ly Kính tâm đầu ý hợp, hai người đều là đàn ông, rốt cuộc, rốt cuộc vẫn không phải là hợp lẽ”.

Nhưng đời này bà đây ghét nhất bốn chữ “tâm đầu ý hợp”.

Ta nghiêm nét mặt, lạnh lùng cười nói: “Thế cái gì mới là hợp lẽ, mới đầu làm loạn sau cùng vứt bỏ mới là hợp lẽ sao? Dụ dỗ người khác, phá hoại nhân duyên của người ta thì mới là hợp lẽ sao?”.

Khuôn mặt nàng ta trắng bệch, không nói nổi câu nào.

Lòng ta tan nát, vung tay áo thả bọn họ ra rồi đi. Với Ly Kính, thực sự đã hết rồi.

Khi ấy còn trẻ, xử lý sự tình chưa có kinh nghiệm biện bạch với họ về đạo lý hồi lâu, lãng phí rất nhiều nước bọt. Ta không hiểu rằng việc nên làm là mau rút đao chém loạn xạ, một đao lấy mạng hai người họ, để mình vui vẻ mới là hợp lẽ.

Ta lần đầu nếm trải tình yêu, đã gặp phải biến cố lớn đương nhiên sẽ đau lòng vô cùng. Hễ nghĩ tới Ly Kính và Huyền Nữ se chỉ luồn kim bắc cầu Hỷ Thước, kẻ ngốc nghếch vẫn là ta, chỉ biết đau lòng. Một mặt đau lòng vì thất tình, một mặt đau lòng vì đã gây nên đầu mối oan gia.

Những món đồ chơi không đáng tiền mà Ly Kính đem đến cho ta trước đây, đều trở thành tâm bệnh giày vò ta. Ta trằn trọc mất ngủ, đem bọn chúng ra đốt sạch, nhưng cũng khó mà gỡ ra được, chỉ có cách uống rượu. Cho nên ta say mèm một trận ba ngày dưới hầm rượu của gò Côn Luân.

Tỉnh dậy đã thấy mình đang dựa trong lòng sư phụ.

Mặc Uyên dựa lưng vào một vò rượu lớn, tay phải đang cầm một hồ lô rượu, tay trái giữ ta.

Nhìn thấy ta tỉnh lại, người chỉ nhăn mày, nhẹ nhàng nói: “Uống nhiều rượu như vậy, phải khóc được mới tốt, u uất kết tới tận tim phổi thì thật uổng cho chỗ rượu ngon này của ta”.

Cuối cùng ta ôm lấy chân người mà khóc một trận. Khóc xong, ngẩng đầu lên nhìn người: “Sư phụ, cuối cùng người đã xuất quan rồi, vết thương đã khỏi chưa? Có để lại thương tật gì không?”.

Người nhìn ta một cái, chỉ khẽ cười nói: “Vẫn còn tốt, không cần ninh ngươi làm canh tẩm bổ cho ta”.

Tình cảm của ta và Ly Kính khi ấy là một mối tư tình bí mật.

Các sư huynh đều cho rằng người ta yêu là Huyền Nữ, vì Huyền Nữ bị Ly Kính cướp đi nên mới sầu não, bi lụy như thế. Quả là rối tung rối mù.

Chỉ có sư phụ Mặc Uyên là nhìn rõ, xoa xoa tóc ta mà khẽ nói: “Đôi mắt của tên Ly Kính đó rất sáng, chỉ tiếc là ánh mắt không được đẹp”.

Sau khi Mặc Uyên xuất quan, liền nhận được thiếp mời của Đông Thần Huyền Minh.

Thượng thần Huyền Minh ở sâu phía bắc của Bắc Hoang, độc chiếm địa giới một vạn hai ngàn dặm của Thiên Bắc. Lần này sắp mở một pháp hội, đặc biệt sai sứ giả đến chờ dưới Côn Luân, cung kính mời Mặc Uyên đến đó đăng đàn giảng đạo.

Vì Mặc Uyên là con trưởng của Phụ Thần sáng thế, địa vị cao quý, đám thượng thần của bốn bể tám cõi mỗi khi khai hội pháp đạo đều khó tránh phải mời người.

Mặc Uyên cầm tấm thiếp liếc qua một cái, nói: “Giảng kinh dạy đạo thực lòng ta chẳng có hứng thú, nhưng ngọn núi mà Huyền Minh ở cũng có nhiều cảnh đẹp, Tiểu Thập Thất, ngươi cũng thu dọn cùng ta đi một chuyến”.

Ta liền vui vẻ đi về phòng gói tay nải.

Đại sư huynh đi theo vừa đi vừa nói, đến cổng còn nhắc nhở ta: “Trước đây sư phụ không dễ dàng nhận những thiếp mời tầm thường như thế này, lần này hẳn vì muốn đệ vui vẻ, mới dẫn đệ đi để giải tỏa tâm trạng, Thập Thất, sư huynh biết đệ trong lòng đau khổ, nhưng sư phụ cả ngày công việc bận rộn, giữa trăm ngàn bề bộn còn tranh thủ thời gian quan tâm đến đệ, quả thực rất lao lực. Đệ cũng lớn như vậy rồi, đương nhiên cần học cách làm thế nào để sư phụ khỏi bận tâm, đấy mới là đạo hiếu của kẻ làm đệ tử”.

Ta ấp úng gật đầu.

Ở Bắc Hoang bảy bảy bốn mươi chín ngày, phần lớn thời gian ta đều rất tiêu dao vui vẻ.

Những lúc Mặc Uyên không giảng kinh, thì ta lượn qua lượn lại ngắm núi non đồng bãi. Đến khi Mặc Uyên lên đài sen, thì ta trà trộn trong đám thần tiên tham dự, ngồi cắn hạt dưa, ngủ gà ngủ gật.

Mặc Uyên xưa nay chưa từng có hứng thú với đạo pháp, nhưng đã bàn luận thì cũng thao thao bất tuyệt, vì thế rất nhiều thần tiên đều đến tranh luận về đạo pháp với người, đại loại về luân hồi tịch diệt, nhân tâm khó lường… Mặc Uyên hết lần này đến lần khác đều thắng, thực sự khiến người ta phải sụt sùi.

Như thế, dường như ta đã vứt được chuyện Ly Kính ra khỏi đầu. Chỉ là mỗi khi đêm về, khó tránh khỏi một đôi lần mơ thấy ác mộng.

Hội đạo pháp của thượng thần Huyền Minh đã diễn ra hết sức viên mãn.

Hội đạo pháp đã kết thúc. Mặc Uyên dẫn ta đến Bắc Hoang chơi thêm ba ngày, mới thu dọn quay về Côn Luân.

Lúc đó bọn ta lại nghe thấy tin nhị hoàng tử của Quỷ tộc lấy vợ. Hôn lễ diễn ra hết sức thoải mái, Quỷ tộc chúc mừng liền chín ngày.

Cung Đại Tử Minh và gò Côn Luân sớm đã tuyệt giao, đương nhiên là sẽ không được gửi thiếp mời. Chỉ là trong thư của đại tẩu gửi đến có nói, mẹ tẩu ấy cực kỳ hài lòng với hôn sự này, Huyền Nữ may mà có ta coi sóc.

Bạch Thiển ta cũng chẳng phải là một kẻ nhỏ nhen. Ly Kính đã phụ bạc ta, chẳng qua cũng là tư tình nữ nhi, sau hàng nghìn hàng vạn năm trôi qua, cũng có một ngày ta hiểu ra, tương phùng cùng nâng chén cũng không phải là chuyện khó làm.

Chỉ cần không xảy ra một số chuyện sau này.

Cái đêm mà Mặc Uyên đến cứu ta và sư huynh Lệnh Vũ đã đánh cho Kình Thương bị thương không nhẹ. Tháng thứ ba sau đại hôn lễ của Ly Kính, Kình Thương đại để cũng trị khỏi thương thế, liền dựng lên cớ Mặc Uyên cướp vợ để khởi binh làm loạn.

Đây thực sự không phải là cái cớ có thể diện. Đừng nói là lúc Mặc Uyên tới cướp người, hắn vẫn còn chưa cùng sư huynh Lệnh Vũ bái đường, cho nên đương nhiên không thể coi là phu thê. Tuy cái danh nghĩa đó rất khiên cưỡng nhưng dù gì cũng thuyết phục được hàng vạn tướng sĩ của Quỷ tộc. Để biểu thị quyết tâm, Kình Thương còn chọn một người con gái trong Quỷ tộc cho Ly Kính, lại đánh cho người vợ mới cưới của Ly Kính là Huyền Nữ một trận tơi bời, máu me đầm đìa rồi đem vứt ở gò Côn Luân.

Đại sư huynh vốn là người có lòng dạ từ bi, lấy một chiếc chăn hoa bọc Huyền Nữ lại rồi bế vào trong.

Mặc Uyên cũng mắt nhắm mắt mở, coi như không thấy chuyện này.

Khi các Quỷ tướng tiến đến ranh giới của hai tộc chừng chưa đến ba mươi dặm, lão Thiên Quân ở Cửu Trùng Thiên phái hai mươi tám tiểu đồng đến thúc giục, Mặc Uyên lúc đó mới lấy bộ Huyền Tinh khôi giáp cất ở đáy rương đã lâu ra giũ cho hết bụi, lạnh nhạt nói: “Kình Thương đã coi ta là cái cớ để hưng binh, mà ta lại là chiến thần cũng không tránh khỏi phải đấu với hắn một trận. Tiểu Thập Thất, ngươi hãy kiểm tra qua bộ áo giáp này, cất đã lâu năm như vậy sợ rằng bị mối mọt cắn hỏng”.

Lão Thiên Quân vô cùng vui mừng, ban cho Mặc Uyên mười vạn thiên tướng cùng ba chén rượu bồ đào để đưa tiễn lúc xuất chinh. Mười bảy huynh đệ chúng ta đứng thành một hàng, ai cũng nhận chức dưới trướng của người.

Đó chính là trận chiến đầu tiên mà ta trải qua trong đời, từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, đằng đẵng suốt chín chín tám mươi mốt ngày.

Chín chín tám mươi mốt ngày chinh chiến liên miên, khói lửa ngút trời. Mặc Uyên là chiến thần bất bại, đáng nhẽ trận chiến này đã có thể kết thúc chóng vánh, nhưng khi quân của Quỷ tộc binh bại như núi đổ thì Huyền Nữ lại lén lút lấy trộm bản đồ trận pháp của quân Thiên tướng đưa cho Ly Kính, lúc đó mới biết Huyền Nữ bị đánh chỉ là khổ nhục kế, tiếc thay là đại sư huynh lại cứu Huyền Nữ, đường đường chính chính dẫn sói mắt trắng vào cổng núi Côn Luân.

Mặc Uyên đã hao tổn biết bao khí lực để cứu chữa, tổn thương nguyên thần. Nhân lúc Quỷ tộc còn chưa nghiền ngẫm tinh tường bảy bảy bốn mươi chín đạo trận pháp, Mặc Uyên dẫn các Thiên tướng tấn công gấp rút ở một đường khác, bao vây ba vạn tàn tướng của Quỷ tộc ở Nhược Thủy.

Khi đó ta còn rất xuẩn ngốc, không hề nghĩ rằng, cho dù Mặc Uyên có bản lĩnh siêu phàm thì đỡ thay ta ba cú sét cũng đâu phải là trò đùa, sao có thể trong thời gian ngắn ngủi mấy tháng là có thể hồi phục hoàn toàn?

Nếu lúc đó trong lòng ta còn đôi chút hoài nghi thì kết cục cuối cùng đã không như thế.

Nhưng sự phụ che giấu rất giỏi, luôn luôn che giấu rất giỏi.

Trận đánh cuối cùng, hai quân dàn trận bên hai bờ sông Nhược Thủy, mây đen cuồn cuộn giăng kín tầng không.

Ta ngỡ rằng trận này đến đây là kết thúc, sự tình cơ bản vô cùng đơn giản, hoặc là Quỷ tộc dâng thư hàng, hoặc là đợi đến lúc bị diệt tộc; chứ chẳng ngờ giữa đường Kình Thương lại sử dụng tới chuông Đông Hoàng. Đông Hoàng đã được thả ra, vạn kiếp thành tro, muôn cõi tiêu tan. Một thần khí thượng hạng, một thứ vũ khí sắc bén hàng đầu.

Kình Thương cười nói: “Chỉ cần ta còn là vua của Quỷ tộc, thì sẽ không đời nào quy hàng, trời đất dù có đổi vần, thì vẫn còn có thần tiên của tám cõi làm bạn với ta, ta cũng không lấy làm oan uổng”.

Khi đó ta lại rất vững dạ, vì nghĩ rằng tuy chuông Đông Hoàng là một đồ vật có thể hủy diệt trời đất, nhưng rốt cuộc nó vẫn là do Mặc Uyên làm ra, đương nhiên người sẽ có sức mạnh để hóa giải nó.

Ta không hề biết rằng khi đó Mặc Uyên đã cố gắng chống đỡ rồi. Tuy chuông Đông Hoàng là thần khí do người tạo ra, nhưng người cũng không có cách nào để chế ngự được nó. Như thế, muốn ngăn nộ khí của chuông Đông Hoàng chỉ có thể tìm một nguyên thần cực lớn để tế trong khi nó chưa hoàn toàn mở ra.

Trong nháy mắt, chuông Đông Hoàng trong tay Kình Thương đã biến thành khổng lồ, như một đóa sen đỏ trên thượng giới bốc lên rừng rực như lửa địa ngục.

Đến giờ ta vẫn còn nhớ cảnh tượng Mặc Uyên tay chống kiếm Hiên Viên dùng hết sức lao vào ôm lấy chuông Đông Hoàng. Bốn phía quanh chiếc chuông phát ra một thứ ánh sáng đỏ như máu chói lòa, chiếu xuyên qua cơ thể của người. Trong thứ ánh sáng càng lúc càng đỏ rực lên ấy, người đột nhiên quay đầu lại, khẽ nhếch khóe môi.

Sau đó, Thất sư huynh là người sở trường về đọc khẩu hình nói với ta rằng, trước lúc lâm chung, sư phụ chỉ nói hai tiếng, đó là: “Đợi ta”.

Mặc Uyên là chủ nhân của chuông Đông Hoàng, đương nhiên là người hiểu về chuông Đông Hoàng hơn ai hết. Trước khi bị chuông hấp thu hết tu vi, Mặc Uyên vẫn cố gắng kéo dài pháp thuật, liều mình đến khi hồn tiêu phách tán, sống chết bắt Kình Thương nhốt vào trong chuông Đông Hoàng. Như thế, cho dù là kẻ đầu tiên dám sử dụng thần khí của tám cõi thì Quỷ tộc cũng không thể có lợi đến nửa điểm.

Quỷ Quân đã bị giam, con trai cả của hắn vốn được phong làm tướng quân đã dẫn ba vạn tàn quân, run như cầy sấy trước mặt mười vạn Thiên Quân, vội vàng dâng thư hàng.

Tứ sư huynh nói, lúc đó ta ôm lấy Mặc Uyên toàn thân máu tươi đầm đìa, đôi mắt đỏ ngầu toàn tia máu, nhất quyết không chịu nhận thư hàng của đại hoàng tử của Quỷ tộc, mười ngón tay nắm chặt chiếc quạt trong tay, nghiến răng nghiến lợi quát, nếu không cứu được sư phụ thì sẽ phải đem hết người trong thiên hạ ra bồi táng, suýt chút nữa đã làm lỡ đại sự của Lão Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên.

Mấy vị sư huynh quá sốt ruột, đành phải đánh ngất ta, rồi đưa đi cùng với di thể của sư phụ về núi Côn Luân.

Tứ sư huynh cho rằng lúc đó ta thực sự đã biến thành thổ phỉ, còn ta thì chẳng có chút ấn tượng nào. Còn nhớ một đêm tỉnh dậy, ta thấy mình cùng nằm với Mặc Uyên trên một chiếc sập gỗ, hai tay ta níu chặt lấy mười ngón tay của người, còn người thì không thở.

Cái loạn Quỷ tộc đã kết thúc như thế. Nghe nói ngay sau đó cung Đại Tử Minh xảy ra một trận biến loạn, đại hoàng tử bị bắt giam, nhị hoàng tử Ly Kính thân khoác lam bào, đăng cơ vương vị. Ngày kế vị, hắn dâng đóa sen Hàn Nguyệt quý hiếm trong hoa viên lên Lão Thiên Quân làm cống phẩm.

Lão Thiên Quân sai mười tám vị thượng tiên hạ giới, nói là giúp mười bảy sư huynh đệ chúng ta lo liệu hậu sự cho Mặc Uyên. Ta đầu tóc bù xù, cũng chẳng biết lấy sức lực từ đâu mà cầm cây quạt đánh đuổi thẳng cổ mười tám tên thượng tiên này ra khỏi núi Côn Luân.

Thất sư huynh an ủi ta, nói: “Sư phụ tuy đã cưỡi hạc khuất núi, nhưng chính miệng người đã dặn chúng ta đợi người, nếu như có thể bảo quản tốt tiên thể của sư phụ, không chừng người sẽ quay trở lại thật chăng?”.

Ta như người chết đuối vớ được một cọng rơm.

Để bảo quản tiên thể của Mặc Uyên cũng không quá khó, tuy khắp bốn bể tám cõi mọi người đều không biết, nhưng loài hồ ly ở Thanh Khâu e rằng đều biết hết, máu từ trái tim Cửu Vỹ Bạch Hồ (cáo trắng chín đuôi) chính là loại thần dược tốt nhất. Vì thế, tìm một con Cửu Vĩ Bạch Hồ, mỗi ngày lấy một bát máu tim của nó, đem nuôi thân thể của Mặc Uyên là được rồi.

Vì Mặc Uyên là nam thần, nên phải tìm một con hồ ly cái, thì âm dương mới hài hòa. Vừa hay, ta chính là một con hồ ly cái. Hơn nữa lại là một con hồ ly cái có tu vi không tồi, thế nên ta tự mình lấy dao trích vào tim, lấy máu nuôi sống Mặc Uyên. Nhưng lúc đó thương thế của ta cũng rất trầm trọng, sau hai đêm liên tục lấy máu tim thì đã không thể gượng được nữa.

Đây thực sự cũng là một loại phép thuật, Mặc Uyên nhận máu của ta, đã dùng phép thuật này để bảo quản tiên thể của người thì phải luôn luôn dùng máu của ta, không thể đi tìm con hồ ly khác được.

Ta lo lắng khôn cùng, sầu não vô biên. Vừa hay lúc đó lại nghe nói Quỷ tộc có một quả hồn ngọc, nếu đặt nó vào trong miệng của Mặc Uyên thì thi thể sẽ mãi mãi không rữa nát. Chỉ có điều quả ngọc hồn đó là thánh vật của Quỷ tộc, rất khó lấy được.

Ta chẳng màng tới những gút mắc với Ly Kính, chỉ hy vọng hắn vẫn còn niệm chút tình bạn giữa ta và hắn buổi ban đầu, cho ta mượn quả hồn ngọc này. Tuy rằng Quỷ tộc của hắn chính là thủ phạm làm cho Mặc Uyên đến mức này, nhưng trên chiến trường ai đúng ai sai nào phân được rõ ràng.

Khi ấy ta là một kẻ chịu hạ mình như thế nào!

Trong cung Đại Tử Minh chói lọi, Ly Kính ngồi trên cao dò xét ta hồi lâu, sau khi lên ngôi Quỷ Quân, hắn thực sự đã uy nghiêm hơn trước rất nhiều.

Hắn thong thả nói với ta: “Quả hồn ngọc tuy là thánh vật của Quỷ tộc ta, dựa vào mối giao tình giữa bản quân và thượng tiên, thực sự cũng đáng cho thượng tiên mượn một phen, ngặt nỗi trong cung vừa có biến lớn, hồn ngọc cũng mất mấy ngày nay, thực lòng xin lỗi thượng tiên”.

Dường như giữa trời quang bỗng có sấm sét đánh trúng đầu ta, nhất thời đầu óc trống rỗng.

Loạng choạng bước ra khỏi cung Đại Tử Minh, lại gặp ngay Huyền Nữ ăn vận hoa lệ. Ả ta vờ cung kính cười nói: “Thượng tiên Tư Âm từ xa tới đây, sao không nghỉ ngơi rồi hãy đi, thượng tiên đi như thế này chẳng phải cung Đại Tử Minh của chúng ta tiếp đãi không được chu đáo sao?”.

Tuy ta vô cùng chán ghét ả ta, nhưng lúc đó cõi lòng tan nát, chẳng còn hơi sức đâu mà tranh cãi nên lượn vòng qua, tiếp tục đi đường ta. Ả ta lại chẳng biết tốt xấu, giơ một tay chắn ngang trước mặt ta, thỏ thẻ: “Lần này há chẳng phải thượng tiên tới cầu quả hồn ngọc sao?”. Trên bàn tay trắng ngọc ngà đó là một viên đá quý tỏa sáng lấp lánh.

Ta hoang mang ngẩng đầu nhìn ả ta. Ả ta cười hi hi: “Mấy ngày trước, quân thượng đã đem nó giao cho ta, để ta di lên những vết sẹo trên người. Trận đòn roi đó của Kình Thương quả thực không nhẹ, đến bây giờ vẫn còn để lại mấy vết sẹo. Ngươi biết đấy, con gái nhà người ta mà có sẹo trên người thì chẳng hay tý nào, đúng không?”.

Trên người con gái mà có vết sẹo, quả thực không hay. Ta ngẩng đầu nhìn trời cười khan ba tiếng, bèn dùng phép định thân, rồi cắp kẹp cứng Huyền Nữ dưới nách, sử dụng Chiết Phiến, đánh thẳng vào triều đường của Ly Kính, cầm tay phải của Huyền Nữ giơ ra trước mặt hắn ta.

Khuôn mặt tuyệt sắc của hắn ta lúc đó trắng bệch như tuyết, ngẩng đầu lên nhìn ta, miệng há ra nhưng chẳng nói được lời nào.

Ta ném Huyền Nữ vào trong lòng hắn, rồi lùi về phía sau đi tới cửa điện, cất tiếng cười bi thảm: “Việc mà cả đời Tư Âm này hối hận chính là đã đến cung Đại Tử Minh này để gặp Quỷ Quân Ly Kính ngươi. Hai vợ chồng lòng lang dạ sói các ngươi thật xứng đôi vừa lứa. Từ nay, Tư Âm ta không đội trời chung với cung Đại Tử Minh nhà ngươi”.

Khi đó ta tuổi trẻ bồng bột, không cướp lấy hồn ngọc, mà đi khỏi cung Đại Tử Minh.

Khi về đến Côn Luân, nhìn thấy sắc mặt nhợt nhạt của Mặc Uyên thì lại chẳng nghĩ ra được cách nào hay.

Chập choạng tối, ta lấy trộm một liều thuốc mê từ phòng luyện đan, trộn vào trong cơm của các vị sư huynh.

Đêm khuya, nhân lúc các sư huynh ngủ mê mệt, ta lén cõng Mặc Uyên rời khỏi Côn Luân, dọc đường tốc hành, đem người về Thanh Khâu.

Hướng chính bắc của Thanh Khâu có một ngọn núi nhỏ là Phong Di. Lưng chừng núi có một sơn động hội tụ linh khí, cha ta đặt tên cho nó là Viêm Hoa động. Ta đặt Mặc Uyên nằm trên chiếc giường băng. Vì lo lắng tự lấy máu của mình ra, ngộ nhỡ nếu chẳng có sức mà bưng đến để cho người uống thì sẽ không xong, nên ta dứt khoát nằm cạnh túc trực bên người.

Mặc Uyên thương tích đầy mình, đến mức ngày ngày uống máu của ta, cho đến khi vết thương khỏi hẳn thì mới giảm xuống còn một tháng một bát máu.

Ta thực sự không hiểu còn có thể lấy máu cho người uống mấy đêm nữa, mà chỉ nghĩ rằng nếu như ta chết đi thì người cũng không thể quay trở lại nữa. Hai người bọn ta chôn chung một chỗ, cũng có thể làm bạn giữa chốn u minh, nên đưa Mặc Uyên tới động Viêm Hoa. Động này vốn là ta tự chọn làm chỗ ẩn náu cho mình trước khi xảy ra thiên kiếp.

Cứ như thế đã bảy ngày trôi qua.

Ta cứ ngỡ rằng mình sẽ chẳng thể sống thêm được nữa. Khi mở mắt ra thì lại nhìn thấy mẹ với đôi mắt sưng đỏ.

Mẹ đã truyền cho ta một nửa tu vi của mình, ta mới có thể cứu lại tính mạng, cũng khôi phục luôn hình dáng con gái của mình.

Được thêm sự chăm sóc của mẹ, tuy lồng ngực ta ngày ngày vẫn trích một dao để lấy máu nuôi Mặc Uyên, nhưng cũng không còn quá đau đớn khổ sở nữa, chỉ còn điều vẫn chưa thể đi lại được.

Mẹ lo lắng ta buồn chán, nên cố ý mượn rất nhiều sách vở từ chỗ Chiết Nhan mang về động để cho ta tiêu khiển.

Nhờ thế ta mới biết, việc mang trộm Mặc Uyên từ núi Côn Luân về đây lúc đầu đã làm khó các thần quan biên soạn thiên sử. Họ phải viết một câu chuyện tuyên dương công đức của Mặc Uyên, nhưng viết đến đoạn cuối thì lại không biết phải khảo chứng về dấu tích tiên cốt của người ở đâu, nên đã để Mặc Uyên trở thành vị thần tiên duy nhất có sinh ra mà không có mất đi trong lịch sử của thần tiên, cũng không biết đã dẫn ra biết bao lời đồn thổi trong đám thần tiên hậu bối.

Sau này khi Chiết Nhan tới Thanh Khâu thăm ta cũng có nhắc tới sự việc này. Lão quấn tay áo lại, mỉm cười: “Bây giờ bốn biển tám cõi đương thật ồn ào, chuyện gì cũng có, trong phủ Tấn Văn có một tiểu tiên có tài viết lách đã phỏng đoán giữa ngươi và Mặc Uyên nảy sinh mối tình đoạn tụ, ngặt nỗi lại mang danh phận thầy trò, nên chẳng hợp với lễ. Thế nên Mặc Uyên mới cố tình giả vờ chết, để cùng ngươi vui vầy. Kể ra sự tình như vậy cũng khá là hợp lý cho nên ta mới qua đây xem thế nào”.

Ta dở khóc dở cười, Tấn Văn là thượng thần cai quản việc văn chương, nắm trong tay đại quyền chỉnh sửa lễ pháp của thần tộc. Đám thần tiên trong phủ của ông ta đều là những người chế định lễ pháp của thần tộc, tư tưởng lại “thoáng” như vậy thực sự khiến người ta phải ngưỡng mộ.

Nghe nói các sư huynh trên đỉnh Côn Luân đã tìm ta suốt mấy nghìn năm, nhưng chẳng ai ngờ thân ta là tiên nữ, mà còn là Bạch Thiển của nhà họ Bạch ở Thanh Khâu, đương nhiên tìm kiếm chẳng thể có kết quả nên đành thôi.

Cho đến nay, trong cuốn sử chính thống nhất trên Cửu Trùng Thiên vẫn còn ghi như thế này: “… Mùa thu năm sáu vạn ba nghìn lẻ tám mươi hai, niên hiệu Hạo Đức Quân, loạn Quỷ tộc chấm dứt, con trai đích của Phụ Thần Mặc Uyên cùng đệ tử thứ mười bảy Tư Âm cùng nhau quy ẩn, không thể tra ra tung tích…”.

Tóm lại không ghi chép về đoạn ta trộm lấy tiên thể của Mặc Uyên, vẫn còn chừa lại thể diện cho ta.

Sống quá lâu, hễ nhớ lại chuyện cũ là không thể nhớ hết.

Ly Kính đã chạy qua cầu tre, tới trước mặt ta, ta mới hốt hoảng nhớ ra mình vừa nhảy vào một động lớn, bắt gặp cảnh Quỷ Quân và một yêu nữ đang hẹn hò bí mật.

Hắn nắm chặt tay ta, thành khẩn nói: “A Âm, huynh tìm đệ đã bảy vạn năm rồi”.

Ta liếc nhìn yêu nữ đang đứng trong thảo đình, băn khoăn không hiểu. Chỉ nghe nói chủ nợ đuổi theo con nợ, chứ chưa hề nghe nói con nợ ngày ngày chạy tới chạy lui đến trước mặt chủ nợ, còn hết lần này đến lần khác nhắc người ta rằng “sao ngươi không đòi nợ ta”. Nhưng dù tính thế nào, giữa ta và Ly Kính thì hắn nợ ta khá nhiều.

Ta gỡ tay hắn ra, lùi về sau một bước. Hắn lại tiến lên trên một bước, nhìn thẳng vào ta mà nói: “Hình dáng đàn ông của đệ vốn rất đẹp, sao phải hóa trang thành con gái thế này. A Âm, có phải đệ vẫn còn oán huynh? Năm đó đệ nói sẽ không đội trời chung với cung Đại Tử Minh, đệ có biết huynh…”.

Ta phất phất tay áo, gượng cười: “Quỷ Quân không cần bận tâm, chẳng qua là lời nói lúc nóng giận, đến nay Quỷ tộc xứ xứ thanh bình, lão thân cũng chẳng sống uổng bao năm qua, cũng hiểu được chút đạo lý, tuyệt đối sẽ không tới quấy nhiễu sự thái bình của cung Đại Tử Minh. Ngài và ta nước sông không phạm nước giếng”.

Hắn ngẩn người ra, vội vàng nói: “A Âm, năm đó là huynh phụ đệ, vì đệ không phải là con gái, nên huynh, huynh… Bảy vạn năm đã trôi qua, bọn họ cũng đã nói với huynh, đệ đã, đệ đã… Huynh vẫn không tin, huynh đã nhớ đệ biết bao năm qua, A Âm”.

Ta bị mấy câu A Âm, A Âm của hắn làm cho quay cuồng đầu óc, sây xẩm mặt mày, giận dữ nói: “Ai nói ta không phải là con gái, ngươi mở to mắt ra mà nhìn, có tên đàn ông nào giống như ta không?”.

Bàn tay định nắm lấy tay ta của hắn ngưng lại giữa chừng không, hồi lâu sau mới nghẹn ngào: “Đệ là con gái? Vậy năm đó, năm đó nàng…”.

Ta bèn nghiêng người tránh: “Gia sư không thu nhận nữ đệ tử, gia mẫu mới biến ta thành đàn ông. Quỷ Quân đã nhắc lại chuyện năm đó, ta cũng sẽ nhắc lại chuyện năm đó. Năm đó, Quỷ Quân từ bỏ ta, chọn Huyền Nữ, bốn con kỳ lân tới rước ả vào cung Đại Tử Minh, tiệc cưới linh đình suốt chín ngày, là vì cưới hỏi đàng hoàng…”

Hắn xua tay ngắt lời ta: “Năm đó trong lòng nàng có buồn không? Tại sao không nới với ta rằng mình là con gái?”.

Ta bị hắn hỏi vặn như vậy, liền quên sạch những lời sắp nói khi nãy, ngắc ngứ một hồi cũng thành thật trả lời hắn: “Năm đó cũng buồn bã ghê gớm, nhưng giờ chẳng còn nhớ rõ nữa. Hơn nữa, ngươi yêu mến Huyền Nữ ắt hẳn vì tính nết của nàng ta, chẳng nhẽ lại chỉ vì khuôn mặt đó sao? Ta cùng ngươi đã chẳng còn dây dưa, có nhắc lại hay không cũng như nhau mà thôi”.

Hắn căn chặt môi.

Ta chỉ cảm thấy đêm nay mình vô cùng đen đủi, nhìn hắn không nói nổi nên lời, ta bèn vội vàng thi lễ, xoay mình bắt quyết cưỡi gió mà đi, nhân tiện cũng tàng hình, để tránh bị đeo đuổi.

Chỉ nghe thấy tiếng gọi A Âm thảng thốt sau lưng.

Nhưng thế gian nào còn A Âm nữa.

Tam ca, tam tẩu không ở trong phủ.

Đám tiên đồng ở lại trông phủ đang túm tụm quỳ trước cửa động chơi chọi dế. Tiên đồng đứng đầu là Vân Sinh nhìn thấy ta đến, bèn vẫy tay với ta, hớn hở nói: “Đã bao năm cô cô không tới chơi nhà, lần này quả thực không may, phu nhân vừa mới đi khỏi nhà, điện hạ ngày hôm qua cũng cưỡi Hổ trán trắng đi tìm phu nhân rồi. Nếu cô cô không chê, hãy để Vân Sinh tiếp đón người”.

Ta im lặng một lát, hai vợ chồng họ coi việc người đuổi người chạy là hứng thú lớn nhất trong đời, mấy vạn năm qua mà vẫn vui vẻ không biết mệt. Ta thực sự cũng cảm thấy hơi đói, bèn bảo Vân Sinh chuẩn bị mang mấy món lên. Ăn xong bữa sáng, tiện tay lấy hai chiếc bình, san rượu Đào Hoa Túy đưa cho nó, dặn dò cẩn thận, rồi vẫy mấy đám mây lành quay trở về Thanh Khâu.

Giữa đường đi qua Hạ Châu, nhớ đến mộ của Thiên Ngô cũng ở nơi này nên nhân thể đến thăm.

Thần tiên thời viễn cổ phần lớn là dung mạo xuất chúng, chỉ có Thiên Ngô là khác biệt. Dung mạo đã không xuất chúng thì được bù đắp về mặt số lượng, tức là có tới tám cái đầu người. Năm đó khi ta còn học nghệ trên đỉnh Côn Luân cũng khá thân thiết với hắn. Sau đó vì sao đó mà hắn chịu ứng kiếp của thần tiên thời viễn cổ, vùi thân trong sét lửa. Nghe chuyện hắn chịu ứng kiếp, ta hộc tốc từ Thanh Khâu chạy đến Hạ Châu, nhưng hắn đã chỉ còn một nắm xương trắng.

Vì chần chừ ở Hạ Châu mất nửa ngày, nên khi về tới Thanh Khâu đã là giữa trưa.

Hai chân ta chuẩn bị chạm đất thì nhìn thấy một người bé nhỏ vận đồ màu xanh thẫm trong động Hồ Ly của cha mẹ ta. Mê Cốc dáng vẻ tựa bảo mẫu, đứng bên cạnh, vô cùng bối rối: “Tiểu điện hạ, người chậm lại một chút đi, chậm lại chút đi”.

Ta đưa tay dụi dụi mắt.

Tên đó đã ngã “phịch” dưới chân ta, mắt rưng rưng lệ, nói với vẻ cực kỳ ấm ức: “Mẫu thân, người nói lời mà không giữ lời, rõ ràng hôm qua còn nói sẽ cùng cha con con về Thiên Cung”.

Mê Cốc cụp mắt nhìn xuống đất, thỉnh thoảng lại liếc xéo về phía ta, hẳn là có rất nhiều điều muốn hỏi.

Ta trừng mắt nhìn lão ta, xua xua ống tay áo, coi như cho phép.

Lão ta chắp hai tay: “Mê Cốc đáng muôn chết, cô cô sai Mê Cốc trông coi Thanh Khâu. Bản lĩnh của Mê Cốc có thể đối phó với các tiểu tiên, nhưng tiểu điện hạ của Thiên tộc giá lâm, sao lão có thể ngăn người lại được. Huống hồ cả thái tử điện hạ cũng đưa con trai của cô cô tới, biết thân phận của tiểu điện hạ, thì chỉ còn cách mời thái tử vào Thanh Khâu nhưng lại không được ý chỉ của cô cô, xin cô cô trách tội”.

Ta ngây người ra, Dạ Hoa Quân cũng tới sao? Không có lẽ hôm qua ta quậy một trận khi hắn gặp người đẹp, nên hôm nay cố ý tới đây hỏi tội ta chăng?”.

Hôm qua ta chạy đi rất vội, cũng không biết hắn và công chúa Mậu Thanh rốt cuộc thu dọn sân khấu thế nào. Nhưng cô Mậu Thanh đó luôn luôn nặng tình với hắn, cho dù đầu óc ta mụ mẫm bị con trai hắn xúi giục đi làm loạn một trận, nếu như hắn thật lòng muốn đến với nàng ta thì cũng không có gì khó. Lần này hắn chạy đến đây tìm ta tính sổ, thực quá nhỏ nhen. Mà ta chẳng kìm được cứ làu bàu.

Cục bột nhỏ ôm lấy tay phải của ta, ngẩng đầu lên bĩu môi nói: “Phụ quân nói mẫu thân không muốn về cùng là do không quen ở trên Thiên Cung. Chuyện đó chẳng vấn đề gì, con và phụ quân chuyển tới sống cùng mẫu thân là được. Chỉ cần có mẫu thân, A Ly ở đâu cũng thấy quen đó”.

Ta bị những lời của nó làm cho choáng váng, sắc mặt hẳn cực kỳ khó coi, nói: “Con nói, con ở cùng với ta sao? Phụ quân con cũng dọn tới ở cùng với ta ư?”.

Cục bột nhỏ ngây thơ, hoạt bát lại gật đầu.

Mê Cốc rất hiểu lòng người dìu ta, thì thầm bên tai: “Cô cô, cần bình tĩnh”.

Trước đó cũng có tiền lệ.

Nghe nói Thiên Quân ngày nay khi làm thái tử vốn rất phong lưu, Lão Thiên Quân đã sắp đặt cho biểu tỷ làm thái tử phi của Thiên Quân. Thiên Quân bất mãn, Lão Thiên Quân liền hạ chỉ giam lỏng Thiên Quân ở phủ của cô mẫu. Thiên Quân ở phủ cô mẫu một tháng, rốt cuộc đã nảy sinh tình cảm với biểu tỷ, khi trở về Thiên Cung đã thành đôi thành lứa. Thực là một câu chuyện đẹp.

Như thế, Dạ Hoa Quân đến tiểu trang Thanh Khâu của ta, là danh chính ngôn thuận, không ai có thể đuổi hắn đi.

Có điều lần này hắn giống như đến gây rắc rối cho ta, đừng nói đến chuyện vun đắp với chả không vun đắp tình cảm. Vì thế, bản thượng thần thực lo lắng lắm thay.

Nghe nói Dạ Hoa Quân giao cục bột nhỏ cho Mê Cốc rồi về Thiên Cung trước mà cực kỳ an tâm.

Đã là người kế vị Thiên Quân trong tương lai, cai quản thần tiên trong bốn biển tám cõi, đương nhiên hắn cũng phải sống chung với những chuyện lặt vặt trong việc cai quản đó. Hắn đã dự định sẽ tới tiểu trang của ta ở Thanh Khâu, xem ra đi về là để chuẩn bị một chút.

Cục bột nhỏ nhìn sắc trời, rồi lại đưa mắt nhìn ta: “Mẫu thân, A Ly hơi đói rồi”.

Động Hồ Ly đã mấy ngày không nổi lửa, ta quay mình hỏi Mê Cốc: “Chỗ ngươi còn đồ ăn không?”.

Mê Cốc ngại ngần đáp: “Không, chưa từng có”.

Ta thấy kỳ lạ bèn hỏi: “Gần đây chẳng phải Phượng Cửu nấu cơm, ngày ngày mang đến cho ngươi hay sao, chẳng nhẽ đã đuổi nàng ta về động phủ của cha mẹ rồi ư?”.

Thần sắc của Mê Cốc hết sức nặng nề: “Nửa năm trước, nàng ta nói phải xuống nhân gian một chuyến để báo ơn, đã sớm thu dọn đi rồi, có lẽ lâu nữa cũng không quay lại, trời mới biết có phải nàng ta đã bị tên ân nhân kia giữ lại hay không, chỉ sợ lần sau quay về, trong tay còn bồng theo một con tiểu hồ ly cũng nên”.

Ta gật đầu, hết “à” rồi “ừ”.

Cục bột nhỏ sợ là nhất thời không thể tìm thấy đồ ăn, đôi mắt đã rơm rớm.

Một, hai ngày ở bên nó, ta cũng hiểu sơ sơ tính cách của cục bột nhỏ. Tuy làm ra vẻ đáng thương, nhưng nó tuyệt đối sẽ không khóc, mà chỉ rưng rưng rớm lệ, khiến tim ta như bị cào cấu, hận bản thân không phải là con người, sao có thể ngược đãi nó như thế?

Tuy nhiên ta thực sự chưa bao giờ ngược đãi nó.

Mê Cốc bên cạnh đã không chịu đựng được, vội vàng kéo tay cục bột nhỏ, cười nói: “Ca ca sẽ dẫn người đi ăn, tiểu điện hạ có thích ăn quả tỳ bà không?”.

Mép ta giật giật, cục bột nhỏ bây giờ mới có hai, ba trăm tuổi, còn Mê Cốc năm nay đã gần mười ba vạn bảy nghìn tuổi, mà không ngại ngần nhận mình là ca ca của nó, thật không biết xấu hổ.

Ta theo đuôi họ đi đến khu chợ phía đông.

Đám tiểu tiên bán hoa quả nhìn thấy ta bèn dừng tay, cung kính gọi một tiếng “cô cô”, cực kỳ lễ phép.

Trong đó không ít kẻ tóc bạc như tơ, da nhăn nheo đồi mồi, đương nhiên so với ta, họ vẫn còn trẻ trung chán. Nhưng cục bột nhỏ thấy thế lại rất phật lòng, chạy tới trước mặt một Tùng thụ tiên (vốn là cây tùng tu luyện thành tiên) đang bán quả thông, chống nạnh, hỏi rất nghiêm túc: “Mẫu thân ta trẻ trung xinh đẹp là vậy, sao ngươi lại dám gọi mẫu thân ta già như thế?”.

Tùng thụ tiên đó há hốc mồm hồi lâu mới khép lại được: “Cô cô, từ lúc nào mà cô cô có thêm một đứa con thế?”.

Ta ngẩng đầu trông trời xanh, đáp: “Vừa có thêm hôm qua”.

Năm nay quả tỳ bà bội thu, quả được đựng trong những giỏ tre, chất từng hàng quanh giếng chợ, nhìn rất thích mắt, xem ra cục bột nhỏ rất thích thú.

Đám tiểu tiên trồng tỳ bà đứng sau những giỏ tre lại không tỏ vẻ thích thú như cục bột nhỏ. Đã là bội thu thì tỳ bà của bọn họ sẽ phải bán rẻ, sao mà vui nổi, âu cũng là hợp tình hợp lý.

Mê Cốc so sánh giá cả ba hàng, xem xét hồi lâu, rồi lại nếm thử, chỉ vào một giỏ tre màu xanh thẫm, nói với ta và cục bột nhỏ: “Chọn nửa giỏ của nhà này đi”.

Trình độ chọn hoa quả rau củ của Mê Cốc là do Phượng Cửu đích thân dạy cho, ta đương nhiên rất tin tưởng lão ta. Vì thế gật đầu, ngồi xuống trước giỏ tre, bắt đầu chọn lựa kỹ lưỡng.

Cục bột nhỏ chạy đến đối diện ta, hai cái chân nhỏ cũng bắt chước ta. Cũng vì người nó quá nhỏ, nên hễ ngồi xổm xuống là bị mấy giỏ tre che khuất, nó lại không chịu mà nhấp nhổm, kiễng chân lên đứng bên cạnh giỏ, cầm lấy một quả tỳ bà, giả bộ như đang xem xét thật lâu.

Đương lúc chọn lựa, thì có một cánh tay chen vào. Ta cứ ngỡ đó là tay của Mê Cốc, bèn đứng sang một bên nhường cho lão chọn. Nhưng chẳng ngờ lão vẫn tranh giành với ta, còn cướp lấy quả mà ta đã lựa về, đang cầm trong tay, ta cảm nhận có gì không đúng, bèn mới nhìn ngược lên ống tay áo màu đen – cha của cục bột nhỏ, Dạ Hoa Quân – lần này chắc đã chuẩn bị cẩn thận trên Cửu Trùng Thiên rồi mới tới, đang cúi lưng, cười tươi rói nhìn ta.

Khuôn mặt hắn tươi cười như thế, thực là rất nguy hiểm.

Ta ngẫm nghĩ, cảm thấy hắn đã tới Thanh Khâu nhà ta làm khách, tuy là khách không mời mà đến, nhưng Thanh Khâu nhà ta vốn là nơi trọng lễ nghĩa, đương nhiên sẽ không thèm tính toán với hắn, tất phải thể hiện phong độ của người làm chủ, nên ta cũng cười tươi rói với hắn: “Ây da, hóa ra là Dạ Hoa Quân, đã ăn chưa? Trưa nay chúng ta ăn quả tỳ bà, chưa ăn thì cùng ăn với chúng ta nhé!”.

Nụ cười trên gương mặt Dạ Hoa trở nên cứng đờ, rồi lăn qua lăn lại mấy quả trong lòng bàn tay với vẻ chán ghét, nói: “A Ly đang tuổi ăn tuổi lớn, nàng lại cho nó ăn thứ này?”.

Ta thuận tay nhéo nhéo má cục bột nhỏ, hỏi nó: “Con có thích ăn thứ này không?”.

Cục bột nhỏ chần chừ gật đầu, nói: “Thích ạ”.

Dạ Hoa Quân không còn gì để nói, vỗ trán nhìn ta chằm chằm một lúc, rồi giằng tay ta: “Gần đây có chỗ nào kiếm được chút rau thịt củ quả không?”.

Ta ngẩn ra, đã bị hắn ta kéo đi. Phía sau ta Mê Cốc bế cục bột nhỏ vội vàng gọi với: “Cô cô, nửa giỏ tỳ bà này có mua hay không?”.

Dạ Hoa đi rất nhanh, ta gật đầu lia lịa với hắn: “Mua, chọn lâu như vậy, không thể để người bên cạnh hưởng hết, sao lại không cần cơ chứ?”.

Chuyến đi chợ hôm nay quả thực rất thú vị.

Không lâu sau cả bốn chợ đông, tây, nam, bắc đều biết, một người đàn ông tuấn tú dẫn theo đứa con nhỏ đến ở trong phủ động của vua nước họ, mà đứa trẻ trắng trẻo mũm mĩm đó lại gọi cô cô của họ là mẫu thân, gọi người đàn ông đó là phụ quân.

Thanh Khâu thanh bình đã quá lâu, đến việc tứ ca bị mất vật cưỡi là Tất Phương điểu cũng đã đủ để đám tiên tử đàm tiếu suốt ba năm. Lần này tóm được chuyện của ta, bọn họ ắt thích thú khôn xiết. Một con sói xám đánh cá ở chợ bắc mang một giỏ cá đến đưa cho ta, cười ha ha: “Chỉ mấy con cá thôi mà, mấy con cá thôi mà, cô cô hấp lên, để tẩm bổ cơ thể”.

Dạ Hoa đón lấy giỏ cá, nhếch môi cười: “Chăm con đúng là không dễ dàng gì, cần phải tẩm bổ cho nàng ấy hơn nữa”.

Sói xám sờ lên mặt cười ngây ngô.

Ta thật quá bi thảm, tẩm bổ cái đầu ngươi ấy.

Đến khi về động Hồ Ly, cục bột nhỏ ăn quả tỳ bà đến mức no căng, Mê Cốc dáng vẻ rất hiền hậu cầm chổi quét dọn đám vỏ quả trên mặt đất.

Dạ Hoa tự rót cho mình một cốc trà lạnh, bảo ta: “Đi nấu cơm đi”.

Ta điềm nhiên liếc Mê Cốc một cái, cũng ngồi xuống rót một tách trà. Cục bột nhỏ ưỡn bụng, nắm lấy tay ta nũng nịu: “Mẫu thân à, con cũng muốn đi”. Ta tiện tay đưa tách trà cho nó uống.

Mê Cốc nhăn nhó ôm chổi đứng một bên: “Cô cô, người biết rõ là…”.

Lão không chịu vào nhà bếp. Dạ Hoa chống cắm nhìn ta hồi lâu, khẽ cười nói: “Ta thực sự không hiểu nàng, rõ ràng Thanh Khâu là đất tổ của cõi tiên, sao nàng cai trị lại giống hệt trần gian vậy. Đàn ông cày cấy, đàn bà dệt vải, chẳng có chút bóng dáng của tiên thuật đạo pháp gì cả”.

Hắn đã chẳng có chút tự giác của người đến làm khách, thì ta cũng chẳng cần giữ thể diện của người làm chủ, bèn lười nhác cười đáp: “Nếu như cái gì cũng dùng tiên thuật để giải quyết thì làm thần tiên cũng chẳng thú vị gì. Cứ như thế, họ sẽ cảm thấy nhàm chán, ta sẽ chọn thời cơ, tạo một chiến trường cho bọn họ, để họ đánh trận vui vẻ, tránh buồn chết đi được”.

Tách trà dội xuống mặt bàn cạch một tiếng. Hắn nửa cười nửa không, nói: “Thật là thú vị, nếu thực sự có lúc đó, có cần ta sai vài viên thiên tướng xuống giúp nàng không?”.

Ta đang định hỉ hả đáp lại một tiếng thì trong bếp đột nhiên vang lên một tiếng “xoảng”.

Mê Cốc đầu tóc rối bù mặt mày nhem nhuốc đứng ở cửa động, trên tay vẫn còn cầm một muỗng canh rất lớn, u oán nhìn ta.

Ta ớ ra một lúc, rồi quay người qua thương lượng với Dạ Hoa: “Dù sao cục bột nhỏ cũng đã ăn no, chúng ta là ba thần tiên đã thành niên, không cần ăn cũng chẳng sao, bữa này coi như đã xong nhé”. Rồi lại quay người, dõng dạc nói với Mê Cốc: “Mau đến phàm giới gọi Phượng Cửu về cho ta”.

Mê Cốc tay vẫn cầm muống canh, chắp tay: “Biết lấy lý do là gì đây?”.

Ta nghĩ một lát, thận trọng nói: “Vậy hãy nói Thanh Khâu xảy ra chuyện rất, rất lớn”.

Còn chưa dặn dò xong, ta đã bị Dạ Hoa kéo vào bếp: “Thêm củi, đốt lửa, nàng biết làm chứ?”.

Cục bột nhỏ sờ bụng, nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế dựa bằng tre nhìn chúng ta, rồi lật người, ngáy khò khò.

Ta thấy sự việc phát triển đến bước này thật quá thần kỳ. Ta và Dạ Hoa Quân quen nhau chưa tới hai ngày, chớp mắt, hắn đã vén tay áo, dáng vẻ ung dung đứng trước bếp nhà ta nấu cơm, thỉnh thoảng còn dặn dò ta mấy câu như “củi nhiều quá, bỏ bớt ra đi” hoặc “lửa nhỏ quá, cho thêm củi vào”…

Đột nhiên nhớ ra cục bột nhỏ nói mẫu thân nó là một người phàm trần ở trên núi Tuấn Tật ở Đông Hoang. Haizz, đại để Dạ Hoa Quân có được tay nghề cao như hiện nay không chừng cũng là do vị phu nhân trước của hắn bạc mệnh nhẩy xuống Tru Tiên đài.

Nhìn một tay hắn cầm muỗng canh, một tay cầm xẻng múa đến mức xuất quỷ nhập thần, ta khâm phục hết mức, từ tận đáy lòng thốt lên khen ngợi: “Phu nhân trước hẳn là một đầu bếp cừ khôi!”.

Hắn lại ngây người ra.

Lúc đó ta mới nhớ ra, vị phu nhân đó của hắn đã sớm hồn phách tiêu tan, bây giờ nhắc lại, e rằng lại chạm vào vết thương lòng của người ta?

Ngọn lửa reo tí tách dưới đáy nồi.

Ta nuốt nước miếng, im lặng nhét thêm củi vào trong lò.

Dạ Hoa đơm thức ăn lên, nhìn ta vẻ rất cổ quái, điềm nhiên nói: “Nàng ấy giống như nàng, khi ta nấu ăn cũng chỉ biết nhóm lửa thêm củi mà thôi”. Ta cười cười, cũng chẳng biết nói tiếp câu gì. Hắn quay người múc canh, khẽ giọng thì thầm một câu: “Không biết trước khi gặp ta, sống bằng cách gì trên mảnh đất cằn cỗi núi Tuấn Tật ấy nữa?”.

Vốn là hắn nói cho một mình nghe, nhưng cũng đã lọt vào hai tai ta, vô duyên vô cớ khiến ta cũng mủi lòng.

Dạ Hoa làm ba món mặn và một món canh.

Mê Cốc đã thu dọn sạch sẽ, ta bèn gọi lão đến cùng ăn.

Dạ Hoa lay cục bột nhỏ dậy, lại trút cho nó rất nhiều đồ ăn. Cục bột nhỏ chống má, thở hổn hển, nói: “Nếu phụ quân ép A Ly ăn nữa, con sẽ biến thành quả bóng da mất”.

Dạ Hoa thủng thẳng uống tiếp tách trà lạnh ban nãy, nói: “Ăn thành quả bóng da cũng tốt, lúc về Thiên Cung ta cũng không cần dẫn con cưỡi mây, mà chỉ cần đá con một cái, bay thẳng lên tới điện Khánh Vân của con”.

Cục bột nhỏ lập tức quỳ xuống chân ta, giả vờ khóc: “Hu hu hu, phụ quân là người xấu”.

Dạ Hoa buông tách trà, cầm bát lên múc canh cá, nửa cười nửa không nhìn cục bột nhỏ, nói: “Coi như con đã tìm được chỗ dựa”. Sau đó đẩy bát canh đầy đến trước mặt ta, cực kỳ dịu dàng nói: “Đây, Thiển Thiển, nàng phải tẩm bổ”.

Miếng cơm bị mắc lại trong họng, Mê Cốc cứ ho mãi không thôi.

Hai mắt ta hoe đỏ, nâng cục bột nhỏ đang gục trên đầu gối dậy, mỉm cười bưng bát canh trước mặt, nói: “Ngoan nào, mau ăn bát canh này đi”.

Tay nghề của Dạ Hoa cũng không tồi, tuy rằng ta không thích món canh cá lắm, ba món còn lại ta cũng vui vẻ thưởng thức.

Bữa trưa diễn ra rất dễ chịu, khiến tâm tình cũng vui vẻ, thoải mái hơn rất nhiều. Vì thế Dạ Hoa đòi ta giúp hắn dọn một thư phòng trong động Hồ Ly để hắn phê duyệt công văn, ta cũng không so đo, dọn dẹp lại căn phòng gần hồ mà tam ca ở trước đây giao cho hắn.

Ta cứ tưởng lần này Dạ Hoa đến tính sổ với ta, chẳng ngờ nửa tháng sau, hắn vẫn chẳng nhắc tới chuyện ở cung Thủy tinh Đông Hải.

Mỗi sớm, một tiểu tiên tên là Ca Quân tới gõ cửa, trên tay cầm một số công văn hôm qua Dạ Hoa đã xử lý xong, lại đem đến một số công văn mới.

Nghe nói Ca Quân này chính là quan văn Tư Mặc dưới trướng của Dạ Hoa, làm việc hết sức tận tụy.

Lúc ban đầu, mỗi ngày ta còn xỏ giày đi mở cửa cho tiên quan Ca Quân, lâu ngày, vị tiên quan này cũng không còn ngại ngùng nữa. Thế là ta không buồn đóng cửa động Hồ Ly nữa, mà đặt một cơ quan ở cổng động, rồi dạy cho vị tiểu tiên này cách qua cơ quan đó, nhờ đó lại có thể kê cao gối ngủ ngon như trước.

Phần lớn thời gian Dạ Hoa đều đóng cửa, ở trong thư phòng xử lý công văn. Buổi sáng sẽ tới kéo ta dậy đi tản bộ, buổi chiều ăn xong cơm cũng sẽ lại đi tản bộ một lượt nữa, đến đêm, thỉnh thoảng còn tìm ta đến thư phòng đánh một, hai ván cờ với hắn. Ta ngáp ngắn ngáp dài, bị hắn quấy rầy mà chẳng biết làm thế nào, có mấy lần, nửa chừng đã ngủ gục trên bàn. Hắn lại chẳng gọi ta dậy mà dứt khoát cùng ngủ gục trên bàn cờ.

Nghĩ tới tiên quan Ca Quân đến lấy công văn, nhìn thấy cảnh tượng này, hẳn không tránh khỏi có chút nghĩ xiên nghĩ xẹo.

Một thần tiên tận tụy vì công việc, không có nghĩa y là một thần tiên không ưa buôn chuyện.

Đáng trách là phải tới khi vị thứ phi Tố Cẩm trong Thiên Cung phái một tiên nga tới Thanh Khâu nhà ta hai, ba lần thúc giục mời Dạ Hoa, ta mới ngộ ra được điều này.

Thành thực vì Mê Cốc, nên ta chưa bao giờ có may mắn được gặp tiên nga kia.

Chỉ nghe đám tiểu tiên được chứng kiến cảnh náo nhiệt lúc đó cười hi hi ha ha kể lại, tiên nga đó xiêm y tha thướt, lộng lẫy sang trọng, nhưng nét mặt, hành vi thì chẳng ra sao. Mê Cốc ngăn ả ta ở cửa cốc Thanh Khâu, ả lại vô cùng kiêu ngạo nói với Mê Cốc: “Nương nương nhà ta cũng không phải là người không dung thứ cho kẻ khác, huống hồ còn là đế hậu tương lai. Nương nương sai ta tới, cũng là có lòng tốt, thượng thần Bạch Thiển chưa cùng thái tử điện hạ cử hành hôn lễ, mà đã sớm tối quấn quít, đầu gối tay ấp, không hợp tình hợp lý chút nào, đến Thiên Quân năm xưa cũng không như vậy. Đến như công chúa Mậu Thanh được vời lên Thiên Cung cũng bị thái tử điện hạ lạnh nhạt”.

Thanh Khâu vốn là nơi phong tục cởi mở, có con trước khi cưới cũng không phải điều lạ lẫm, huống hồ chỉ là đầu ấp tay gối. Đám tiểu tiên thấy đây đúng là chuyện nực cười, bèn chẳng đợi Mê Cốc cất lời đã đánh đuổi tiên nga đó đi.

Ta ngẫm nghĩ những lời tiên nga đó nói, trừ “sớm tối quấn quít, đầu gối tay ấp” có hơi quá sự thực ra thì những điều còn lại không hẳn không có lý. Cũng bởi không rõ vì sao lần này Dạ Hoa kia lại ở nhà ta lâu đến thế, bèn lấy lý do này để nói với hắn.

Hắn đang mở cửa sổ, đứng trước án thư, vẽ tranh hoa sen trong đầm, nghe ta nói vậy liền nhíu mày đáp: “Ta nghĩ nàng ở đây thì dọn đến ở chỗ của nàng, chỉ có nàng mới là vợ của ta, người xung quanh có thể quản được sao?”.

Ta đờ người ra, hắn nhắc đến, mới nhớ ra, Dạ Hoa Quân đứng trước mặt ta, đúng là phu quân mà Thiên Quân đã hứa gả cho ta. Kém ta hẳn những chín vạn tuổi, haizz, vị phu quân này thật là…

Ta thở dài một tiếng, trịnh trọng nói: “Nếu như ta cũng thành hôn đúng tuổi, thì bây giờ cháu ta cũng bằng tuổi ngươi rồi”.

Cánh tay đang cầm bút của hắn run run, ta liếc mắt nhìn trang giấy Tuyên trên mặt bàn, đúng thực là bút pháp tuyệt diệu, bút pháp tuyệt diệu.

Hắn trầm ngâm không nói, đặt bút xuống rồi chăm chú nhìn ta, ánh mắt cực kỳ lạnh lùng.

Ta cười khan “ha ha” hai tiếng, vội vã đổi đề tài: “Nghe tiên nga kia nói, ngươi đã mời công chúa Mậu Thanh của Đông Hải lên Thiên Cung?”.

Chuyển sang chủ đề này xem ra lại càng không ổn.

Ta vốn tưởng rằng đàn ông sẽ thích bàn về nữ giới. Năm đó khi ta là Tiểu Thập Thất trên núi Côn Luân, mỗi lần đại sư huynh tức giận, cùng huynh ấy bàn luận về nữ thần tiên xinh đẹp nhà ai đó, thì sẽ hóa giải được cơn giận ấy. Nhưng nào nghĩ ra giờ đây ta đã không còn là Tiểu Thập Thất với thân hình nam giới trên đỉnh Côn Luân ngày nào. Đúng là đám nam thần tiên thích bàn luận về các nữ thần tiên, nhưng sẽ không chịu cùng một nữ thần tiên bàn luận về một nữ thần tiên khác. Như thế này, quả là ta có đường đột.

Ai biết được lòng dạ đàn ông như kim đáy bể, mà đây còn là Dạ Hoa sâu sắc khôn cùng, hắn lạnh lùng nhìn ta một cái, lại cầm cây bút lên chấm mực, khóe miệng nhếch lên kéo thành một nụ cười, nói: “Nàng hãy đứng bên cửa sổ đi, đúng, đứng trước sập trúc, haizz, nên nằm xuống, tóc xõa ra một chút, tạo dáng thanh tân an nhàn một chút”.

Ta u u mê mê làm theo lời hắn xong, mới nghĩ ra hóa ra hắn muốn vẽ một bức tranh tặng ta.

Còn phải nằm trên sập trúc này bao lâu nữa đây, ta bèn diễn tư thế “Giấc xuân Hải đường”, im lặng không nói gì nữa.

Hắn hớn hở vẽ một lát, đột nhiên nói: “Mậu Thanh sống chết không chịu lấy nhị hoàng tử của Tây Hải, nàng ấy chăm sóc cho ta và A Ly đã lâu, ta mới đưa nàng ấy lên Thiên Cung làm tỳ nữ. Đợi bao giờ nàng ấy nghĩ thông suốt, thì sẽ đưa nàng ấy quay về”.

Ta ngẩn ngơ một lát, chẳng ngờ hắn lại nói ra điều này.

Hắn ngẩng đầu lên, ánh mắt dịu dàng khôn xiết, thong thả nói: “Còn gì muốn nói với ta, nàng cứ nói hết đi”.

Ta vô cùng cảm kích: “Tay ta tê rồi, có thể đổi sang tư thế khác được không?”.

Hắn cười một tiếng, lại vẽ thêm vài nét, mới nói: “Tùy nàng”.

Cuối cùng ta nằm trên sập trúc ngủ thiếp đi mất.

Khi tỉnh giấc trời đã nhá nhem tối. Trên người còn đắp một chiếc áo khoác màu đen, giống như của Dạ Hoa, còn hắn thì không biết đã đi đâu.

Chương 8: Sinh nhật của cục bột nhỏ

Sáng sớm hôm sau, ta bò từ trên giường xuống, rửa mặt mũi rồi lấy nửa tách trà đặc, vừa uống vừa nhìn ra ngoài cửa động, đợi Dạ Hoa đến cùng ta đi dạo trong rừng. Cũng không biết có phải do hắn bị nghiện hay không, mà tinh mơ hôm nào cũng phải đi quanh động Hồ Ly một vòng, còn sống chết kéo ta đi, khiến ta khổ sở muôn phần.

Quanh động Hồ Ly nào có cảnh gì đẹp đẽ, chẳng qua chỉ là mấy cánh rừng trúc, mấy con suối trong, đi một, hai lần còn chấp nhận được, đi thêm mấy lần không khỏi phát chán. Nhưng đã đi suốt mười ngày nửa tháng, hắn vẫn hăng hái không biết mệt mỏi, khiến ta vô cùng khâm phục.

Vừa thong thả bước tới cửa động, mới biết trời đang đổ mưa. Ta cố gắng kìm chế cơn giận, đặt tách trà lên trên chiếc bàn bên cạnh, vui vẻ quay về phòng tiếp tục vùi đầu đi ngủ.

Khi mới hơi hơi buồn ngủ, thì cảm giác có tiếng bước chân.

Ta mở mắt ra, nhìn Dạ Hoa đang đứng trước giường, đau khổ nói: “Hôm nay không biết là Thủy quân phương nào làm mưa, ra ngoài e rằng sẽ làm Dạ Hoa Quân bị ướt, nên tạm thời cứ ở trong động một ngày nhé”.

Khóe môi Dạ Hoa ẩn giấu nụ cười, không tiếp lời.

Lúc này, cục bột nhỏ – đáng lẽ đang say giấc nồng lại từ sau Dạ Hoa ló mặt ra, nhảy lên giường của ta. Hôm nay nó mặc một chiếc áo thêu hoa gấm, lấp lánh ánh cầu vồng, làm cánh tay nhỏ và khuôn mặt xinh xinh trắng nõn càng thêm hồng hào, tươi tắn. Ta bị màu sắc sặc sỡ làm cho hoa cả mắt, nó ôm chầm lấy cổ ta, cất giọng non nớt nói: “Phụ quân nói hôm nay dẫn chúng ta đến phàm trần chơi, mẫu thân sao còn lười biếng nằm trên giường, không chịu dậy?”.

Ta ngây người ra.

Dạ Hoa tiện tay với chiếc áo khoác vắt trên bình phong đưa cho ta, nói: “May mà hôm nay ở phàm trần trời không mưa”.

Ta không biết Dạ Hoa nghĩ gì nữa

Nếu nói hắn không thông thuộc phàm trần, cần người dẫn đường thì chỉ cần gọi một thổ thần là xong. Tuy rằng lúc ở Côn Luân học nghệ, ta đã từng cách dăm, ba ngày lại xuống phàm trần chơi một chuyến, nhưng chưa bao giờ nhớ đường, nếu như cứ đòi ta phải đi cùng thì thực sự là không cần thiết. Nhưng đôi mắt long lanh ngấn nước của cục bột nhỏ đang nhìn ta, ta cũng ngại nên không tìm cớ thoái thác nữa.

Khi cưỡi mây, ta lắc mình biến thành một công tử, dặn dò cục bột nhỏ: “Mấy ngày này con nhớ phải gọi phụ quân con là cha, còn gọi ta, ầy, gọi ta là cha nuôi nhé”.

Cục bột nhỏ không hiểu vì sao luôn nghe lời ta, liền ngoan ngoãn gật đầu.

Dạ Hoa vẫn giữ nguyên hình dáng, chỉ thay đổi áo ngoài cho giống kiểu dáng ở phàm trần, nhìn thấy ta liền khẽ cười, nói: “Nàng trông cũng thật là phong độ”.

Chung quy bản thượng thần cũng đã từng có hai vạn năm sống như đàn ông, đến nay giả trang đàn ông, thuần thục tự nhiên là có thừa.

Ta chắp hai tay, đáp lễ với hắn, cười nói: “Khách sáo quá”.

Lần này, nơi mà ba kẻ thần tiên già, thần tiên thanh niên và thần tiên nhóc con chúng ta chọn xuống là một thị trấn khá phồn hoa.

Suốt dọc đường đi cục bột nhỏ líu lo liên hồi, nhìn thấy gì cũng cảm thấy mới mẻ, thể diện của Thiên tộc đã bay biến đâu mất. Dạ Hoa cũng không hề gò ép nó, chỉ cùng ta đi chầm chậm theo sau, mặc kệ nó vui vẻ nhảy nhót.

Khu chợ ở phàm giới này quả thực náo nhiệt hơn cả Thanh Khâu.

Ta cầm quạt phe phẩy, đột nhiên nhớ ra liền hỏi Dạ Hoa: “Sao hôm nay lại có hứng thú đến phàm giới thế? Ta nhớ tinh sương hôm qua, tiên quan Ca Quân đã ôm tới một đống công văn, nhìn nét mặt của y, có lẽ không phải là văn thư bình thường”.

Hắn liếc ta một cái: “Hôm nay là sinh nhật của A Ly”.

Ta “ồ” lên, rồi gập cái quạt “phạch” một tiếng, nghiêm túc nói: “Ngươi cũng thật vô ý, chuyện lớn thế này, sao không nói sớm với ta một tiếng. Bây giờ trong tay lại chẳng có đồ gì quý, cục bột gọi ta là mẫu thân, sinh nhật nó, ta chẳng chuẩn bị được đại lễ gì, sẽ bị người ta chê cười là lòng dạ sắt đá”.

Hắn hỏi rất tự nhiên: “Nàng định tặng nó cái gì? Dạ minh châu ư?”.

Ta kinh ngạc: “Sao ngươi biết?”.

Hắn nhíu mày cười: “Mấy lão thần tiên trên Thiên Cung mỗi khi yến ẩm, đã vô ý nói đến cái tật tặng lễ vật của nàng. Nghe nói đã nhiều năm qua tật ấy vẫn không đổi, nàng tặng lễ vật xưa nay đều là dạ minh châu, tiểu tiên thì tặng viên nhỏ, lão tiên thì tặng viên lớn, quá công bằng. Ta luôn coi dạ minh châu là thứ vô cùng quý giá, nhưng A Ly còn nhỏ lại không ý thức được giá trị, nàng tặng cho con cũng bằng không, chẳng thà hôm nay dẫn nó đi chơi một ngày, để nó vui vẻ còn hơn”.

Ta đưa tay sờ sờ mũi, cười khan “ha ha” một hồi: “Ta có một viên minh châu cao bằng nửa người, từ xa nhìn lại như một vầng trăng nhỏ, nếu đem tới điện Khánh Vân của cục bột nhỏ, điện Khánh Vân sẽ còn sáng hơn cả phủ đệ của Mão Nhật Tinh Quân. Đó là viên độc nhất vô nhị khắp bốn bể tám cõi…”.

Ta đang nói rất cao hứng, chẳng ngờ bị kéo mạnh một cái, ngã dúi dụi vào lòng hắn. Bên cạnh, một cỗ xe ngựa sầm sập lao vút qua. Đầu mày Dạ Hoa khẽ nhíu lại, đôi ngựa gióng phía trước cỗ xe đột nhiên khựng lại, khua vó hí vang một chặp, cỗ xe bánh bằng gỗ theo đà trượt như bay liền dựng lên. Phu xe trên ghế ngồi liền ngã lên xuống đất, lau mồ hôi nói: “Ông trời phù hộ, hai con ngựa điên này đã dừng lại rồi”.

Cục bột nhỏ vừa nãy còn luôn chạy lên trước, lúc này đây chui ra từ phía dưới bụng ngựa, trong lòng còn ôm một cô bé con đang khóc òa. Vì cô bé đó còn cao hơn cục bột nhỏ một cái đầu, nên nhìn qua giống như bị nó túm eo kéo đi.

Giữa đám người đột nhiên có một người phụ nữ bước ra, một tay giằng lấy cô bé trong tay cục bột nhỏ, khóc bù lu bù loa: “Làm mẹ sợ chết đi được, làm mẹ sợ chết đi được”.

Cảnh tượng ấy chẳng hiểu sao lại thấy thật quen, trong đầu ta đột nhiên lóe lên gương mặt của mẹ ta, cũng khóc nức nở, ôm lấy ta nói: “Hai trăm năm nay con đi đâu, sao lại thành ra thế này…”.

Ta ngoẹo đầu, chắc là ma chướng rồi. Cho dù năm đó khi ở động Viêm Hoa, ta cùng Mặc Uyên suýt chút nữa thì đã hồn phách bay lên trời Ly Hận, mẹ ta cũng không đến nỗi như thế, huống hồ ta chưa từng ra khỏi Thanh Khâu đến hai trăm năm. Ầy, vẫn là năm trăm năm trước, Kình Thương phá vỡ chuông Đông Hoàng, ác chiến cùng hắn một trận, ta đã ngủ một giấc dài suốt hai trăm mười hai năm.

Cục bột nhỏ “soàn soạt” chạy đến trước mặt bọn ta, rất ngây thơ trong sáng, hỏi ta: “Cha, sao người lại ôm cha nuôi?”.

Vừa nãy bị kinh sợ một trận, cho nên đường phố vốn ồn ào giờ đây trở nên im ắng vô cùng, giọng nói non nớt của cục bột nhỏ vang lên vô cùng rõ ràng.

Đám người bán hàng hai bên đường ban nãy vẫn còn bị hai con ngựa điên làm cho kinh sợ, ngay lập tức lia ánh mắt sáng quắc về phía bọn ta, ta cười khan “ha ha” hai tiếng, nhảy ra khỏi lòng Dạ Hoa, phủi phủi tay áo, nói: “Vừa nãy bị ngã, ha ha, bị ngã”.

Cục bột nhỏ thở phào nhẹ nhõm, nói: “May mà ngã vào lòng cha, nếu không cha nuôi dáng vẻ xinh đẹp như vậy, ngã xuống đất sẽ bị thương ở mặt, cha sẽ đau lòng chết mất ấy chứ, A Ly cũng sẽ đau lòng chết mất”. Nó nghĩ một lát, lại ngẩng mặt lên hỏi Dạ Hoa: “Cha, người nói xem có phải không?”.

Những ánh mắt sáng quắc lúc trước ngay lập tức lại đổ dồn sang phía Dạ Hoa, hắn coi như không thấy gì, hơi ngẩng cằm lên nói: “Đúng thế”.

Một cô nương bán bánh canh bên cạnh hoảng hốt nói: “Sống ngần này tuổi, giờ tôi mới thấy một đôi đoạn tụ bằng xương bằng thịt”. Phạch một tiếng, ta xòe cái quạt che nửa gương mặt, vội vàng lẩn vào dòng người. Cục bột nhỏ ở phía sau lớn tiếng gọi với theo “cha nuôi, cha nuôi”, Dạ Hoa buồn cười bảo: “Đừng gọi mẫu thân, mẫu thân con đang xấu hổ đấy”.

Ta buồn bực khôn xiết, xấu hổ, xấu hổ, xấu hổ cái đầu cha nhà ngươi ấy.

Gần trưa, bọn ta chọn một tửu lâu gần hồ ở đầu phố dùng bữa.

Dạ Hoa chọn một bàn ngay sát cửa sổ trên lầu trên, gọi một bình rượu và mấy món ăn bình thường. A di đà phật, may mà không có cá.

Làn gió trên mặt hồ phả tới, khiến lòng người thoải mái dễ chịu biết bao.

Trong thời gian đợi thức ăn, cục bột nhỏ đem mấy món đồ chơi vừa mua được ban nãy bày ra bàn, ngắm nghía từng món từng món một. Trong đó có hai con tò he hình người, nặn rất tinh xảo.

Thức ăn vẫn chưa được bưng lên, tiểu nhị đã dẫn hai người tới bàn của chúng ta để ngồi ghép bàn. Đó là một đạo cô trẻ yểu điệu thướt tha, kẻ hầu theo sau nhìn hơi quen quen, ta ngẫm nghĩ một lúc, hình như đó chính là phu xe trên phố ban nãy.

Tiểu nhị cứ chắp tay khom lưng xin lỗi mãi.

Ta cứ tưởng chỉ là một bữa cơm mà thôi, huống hồ thực khách ở tửu lâu quả thực rất đông, bèn bế cục bột nhỏ ngồi cùng với mình, nhường chỗ cho hai người bọn họ.

Vị đạo cô đó tự rót cho mình một chén trà, uống hai ngụm rồi mới quay sang nhìn Dạ Hoa, làn môi khẽ nhếch lên, nhưng lại không nói gì nữa.

Cũng chẳng trách nàng ta, lúc này Dạ Hoa ra dáng một vị thần quân lạnh lùng, hoàn toàn khác xa với dáng vẻ thân thiện, hiền lành khi cầm muôi, xẻng đứng trước bếp xào nấu.

Ta giúp cục bột nhỏ cất từng món, từng món đồ chơi đang bày trên bàn. Vị đạo cô đó lại nhấp một ngụm trà, ngẫm nghĩ rất lung, dường như lần này đã quyết định nói ra.

Nàng ta nói: “Ban nãy trong chợ, may mà nhờ có tiên quân cứu giúp, nếu không Diệu Vân khó qua khỏi tai kiếp này”.

Ta kinh ngạc nhìn nàng ta, đến Dạ Hoa cũng thay đổi nét mặt.

Đạo cô Diệu Vân lập tức cúi đầu, khuôn mặt đỏ bừng, lan đến tận dái tai.

Đạo cô này không phải là một đạo cô bình thường, có thể nhìn ra tiên thân của Dạ Hoa, lại còn biết được ban nãy là do Dạ Hoa làm phép. Có lẽ chỉ cần mười mấy năm nữa là nàng ta có thể thăng thiên được.

Dạ Hoa liếc nhìn nàng ta một cái, lại thay đổi nét mặt, thờ ơ nói: “Tiện tay thôi, cô nương không cần phải khách sáo”.

Dái tai của đạo cô Diệu Vân liền đỏ bừng, cắn môi khẽ nói: “Cái đưa tay của tiên quân, đối với Diệu Vân lại là đại ơn. Nhưng không biết, không biết, tiên quân có thể cho Diệu Vân biết tiên hiệu của tiên quân được chăng. Sau này Diệu Vân thăng thiên, sẽ tìm đến phủ của tiên quân để báo đáp ân tình này”.

A, đạo cô này, đạo cô này, không phải nàng ta có tình ý chứ?

Lúc này ta bỗng nhớ ra quy củ thu nhận đồ đệ của núi Côn Luân, không câu nệ tuổi tác, xuất thân, miễn là không phải tiên nữ. Có lẽ Mặc Uyên năm xưa đã nếm trải chút cay đắng, sau đó mới ngộ ra được đạo lý này.

Bọn họ sinh ra đã có khuôn mặt đẹp, thực sự rất thu hút đào hoa.

Dạ Hoa nhấp một ngụm trà, vẫn lạnh lùng nói: “Có nhân mới có quả, cô nương hôm nay nhận được quả báo tốt đẹp này, tất kiếp trước đã có thiện duyên, chứ chẳng liên quan gì tới bản quân. Cô nương đâu cần phải canh cánh trong lòng”.

Đạo lý này quả không sai, đạo cô Diệu Vân cắn môi hồi lâu, cuối cùng không nói được gì.

Cũng may khi nãy ta và cục bột nhỏ đã thu dọn hết đồ chơi trên mặt bàn, ngẩng đầu lên nhìn nàng ta cười cười, nàng ta cũng cười cười đáp lễ, lại nhìn sang cục bột nhỏ bên cạnh mắt hau háu đợi đồ ăn, bèn khéo léo tán tụng: “Tiểu tiên đồng này đáng yêu, lanh lợi quá”.

Ta khiêm tốn đáp: “Còn nhỏ trông thì dễ thương, nhưng lớn lên không biết sẽ ra sao. Quê ta có một tiểu tiên, lúc còn nhỏ trông rất ngoan ngoãn, qua ba nghìn năm, chỉ ra dáng thiếu niên một chút, còn đâu tư thái hoàn toàn tầm thường”.

Cục bột nhỏ giật giật tay áo ta, nhìn ta với vẻ rất tủi thân.

A, nhất thời không chú ý, đã quá khiêm tốn đây mà.

Dạ Hoa bưng chén lên nhìn ta, nửa cười nửa không nói: “Đàn ông lớn lên tuấn tú để làm gì, như lúc đánh nhau, một gương mặt đẹp sẽ không thể hữu dụng bằng một nắm đấm đẹp”, nhấp một ngụm trà, lại nói tiếp, “huống hồ nghe nói nữ giống cha, nam giống mẹ, haizz, theo ta thấy, A Ly cho dù có lớn, hình dáng cũng không khác giờ là mấy”.

Gương mặt nhìn như chực khóc đến nơi của cục bột nhỏ lập tức trở nên tươi rói, nhìn Dạ Hoa hết sức thân thương, chỉ còn thiếu chút nữa là xích lại sát hắn ta.

Ta hắng giọng một tiếng, làm ra vẻ quan tâm, nói: “Cho dù sau này cục bột lớn lên như thế nào thì vẫn là khúc ruột của ta, ta vẫn yêu thương bảo vệ nó”.

Cục bột nhỏ lập tức quay đầu lại, ánh mắt rưng rưng nhìn ta, thiếu chút nữa là xích sát lại ta.

Dạ Hoa cúi đầu khẽ cười, không nói thêm gì nữa.

Rượu được mang lên trước, một lát sau thức ăn cũng được bưng lên, tiểu nhị rất tốt bụng, một bình Quế Hoa được hâm nóng rất đúng lúc.

Mão Nhật Tinh Quân làm việc rất tốt, nắng nhưng không gắt, trên trời xanh còn có mấy đám mây trôi lững lờ, thật vô cùng đăng đối với cây cối um tùm dưới mặt đất.

Tình cảnh ngày hôm nay, uống chút rượu, ngâm mấy bài thơ thật thú vị xiết bao, nói sao đạo cô Diệu Vân và phu đánh xe cũng không uống rượu, Dạ Hoa và ta uống liền hai, ba chén rồi không uống nữa, sau đó hắn sai tiểu nhị dọn hết chén trước mặt ta, thật khiến người ta cụt hứng.

Lúc ăn cơm, Dạ Hoa giống như bị điên, cứ điên cuồng gắp thức ăn cho ta, mỗi lần gắp, lại cười rất dịu dàng, rồi nói: “Đây là thứ nàng thích ăn nhất, ăn nhiều một chút đi”. Hoặc là “Tuy rằng đây không phải là món nàng thích, nhưng rất tốt cho cơ thể, nàng gầy như thế này, không thương xót bản thân thì cũng khiến ta đau lòng”. Tuy biết rằng hắn mượn ta để ngăn cản đào hoa, nhưng cũng không chịu nổi mà bị tê dại đến mức run lên từng đợt, từng đợt.

Đạo cô Diệu Vân ở đối diện có lẽ nghe thấy rất chướng tai, khuôn mặt nhỏ trắng bệch như giấy. Tên phu xe kia nhận thấy có gì là lạ, nên vội và một bát cơm rồi dẫn chủ nhân quay người cáo từ.

Dạ Hoa cuối cùng cũng chịu ngừng gắp thức ăn cho ta, ta thở phào nhẹ nhõm. Hắn lại khoan thai nói: “Nếu nàng cứ không chịu nghe lời như vậy, sau này phải làm thế nào mới được đây?”.

Ta không thèm đếm xỉa đến hắn, mà chỉ cắm đầu ăn cơm. Cơm còn chưa ăn xong, tiên quan Ca Quân đã đột ngột xuất hiện. May mà hắn ta đã giấu vết tiên, nếu không một người bằng xương bằng thịt cao to lại lơ lửng giữa lưng chừng tửu lâu, trừng trừng nhìn chúng sinh, sao mà họ chấp nhận được.

Y bẩm báo điều gì ta cũng không để ý, đại để nói có một công văn khẩn cấp, cần được giải quyết ngay tức khắc.

Dạ Hoa “ừ” một tiếng, quay đầu lại nói với ta: “Tạm thời trưa nay nàng dẫn theo A Ly, ta về Thiên Cung trước đã, buổi tối sẽ tới tìm mẹ con nàng”.

Miệng ta lúng búng cơm nói chẳng nên lời, chỉ còn biết gật đầu.

Ra khỏi tửu lâu, ta nhìn trái nhìn phải, mặt trời đã nhô quá đỉnh đầu, những hàng quán trong khu chợ hầu hết đã dọn vào các mái hiên, những người không chiếm được vị trí đẹp thì thu dọn đi về, khung cảnh cực kỳ yên tĩnh.

Lúc tính tiền, tiểu nhị thấy ta thưởng nhiều tiền, nên khá là ân cần chỉ đường cho ta, rằng lúc này thích hợp đến quán Mạn Tư Trà nghe bình sách, giá trà uống bên đó có hơi cao một chút, nhưng mà bình sách thì quả thực rất hay.

Ta đồ rằng trên Thiên Cung cũng chưa bao giờ có tiên quan nào chuyên kể chuyện, bèn kéo cục bột nhỏ đi thưởng thức một chuyến.

Mạn Tư Trà là một quán trà, còn người kể chuyện là một ông lão râu tóc bạc phơ. Lúc này, ông lão đang kể chuyện “Hạc đồng báo ơn”.

Cục bột nhỏ chưa bao giờ được thể nghiệm cuộc sống thế gian, đôi mắt sáng rỡ, lúc thì mỉm cười, lúc thì nắm chặt hai nắm tay, lúc thì thở dài. Vì khi ở chỗ Chiết Nhan, ta cũng đọc được rất nhiều sách, nên chẳng hề có cảm hứng với những câu chuyện đầy màu sắc tưởng tượng này, chỉ gọi một bình trà, thưởng thức.

Thoắt cái đã đến xế chiều, đợi ông lão kể chuyện đập vào cây cột nhà “cạch” một tiếng, nói “Muốn biết chuyện về sau thế nào, hồi sau sẽ rõ”, bên ngoài khung cửa những ngọn hoa đăng đã le lói.

Ta mơ mơ màng màng vội mở choàng mắt tìm kiếm cục bột nhỏ, chỗ ngồi của nó giờ đã trống không. Ta kinh sợ giật thót mình, cơn ngái ngủ trong phút chốc đã bay đi gần hết.

May mà ta vẫn mang bên mình một chiếc gương nước. Ở tiên giới, loại gương nước này chẳng qua chỉ là một loại gương soi để trang điểm, nhưng ở phàm trần còn có thể dùng làm công cụ tìm người. Ta chỉ mong lần này cục bột nhỏ đang ở một nơi dễ nhận biết, nếu như nó ở trong một căn phòng không có đặc điểm gì nổi bật, thì tấm gương nước này cũng trở nên vô dụng mà thôi.

Ta tìm một chỗ thanh tịnh, viết tên tuổi, ngày tháng năm sinh của cục bột nhỏ lên tấm gương, ngay lập tức tấm gương phát ra một đạo hào quang màu trắng. Ta nhìn theo đạo hào quang đó, suýt chút nữa đánh rơi tấm gương, loạng choạng một cái.

Mẹ ơi.

Lần này đúng là cục bột nhỏ đang ở trong một căn phòng, nhưng đây là một căn phòng không hề bình thường.

Trên chiếc giường lớn có khắc hoa bằng gỗ đàn hương, trong phòng là một đôi uyên ương ăn mặc hết sức “mát mẻ”. Người đàn ông phía trên đã bán khỏa thân, còn người phụ nữ phía dưới cũng chỉ mặc độc một chiếc yếm đỏ. Con gái nhà lành ở phàm giới tuyệt đối không mặc thứ khêu gợi như thế, ta choáng, cố gắng đứng vững, níu lấy một người đi đường: “Huynh đài, huynh có biết thanh lâu của thị trấn này ở chỗ nào không?”.

Y nhìn ta dò xét một lượt từ trên đầu xuống dưới chân, chỉ về tòa nhà chếch với Mạn Tư Trà. Ta cảm ơn y một tiếng, vội vàng chạy tới đó.

Phía sau lưng vẫn còn nghe loáng thoáng tiếng thở dài của y: “Một công tử đẹp đẽ tuấn tú là thế, nhưng chẳng ngờ là ác quỷ trong lũ háo sắc, thế gian này mới tuyệt vọng mà đau khổ làm sao!”.

Tuy đã biết cục bột nhỏ đang ở trong thanh lâu này, nhưng ta lại không biết rõ là nó đang ở gian phòng nào. Để không ảnh hưởng tới chuyện làm ăn của tú bà, ta chỉ còn cách bấm quyết tàng hình, tìm từng gian một.

Tìm đến gian thứ mười ba, ta thấy cục bột nhỏ đang trầm tư chống tay vào cằm, lơ lửng giữa không trung. Ta lập tức kéo nó đi xuyên qua tường, trên giường, đôi uyên ương kia đang hôn hít rất cuồng nhiệt.

Khuôn mặt già nua của ta đã đỏ bừng.

Vừa nãy, cảnh giường chiếu kia thực ra cũng chưa đến mức nóng bỏng lắm. Năm đó trên núi Côn Luân, đóng vai đệ tử, lúc mới hạ phàm, với tâm trạng muốn được học hỏi, ta đã từng xem rất nhiều bức xuân cung đồ. Loại bình thường như mấy quyển mỏng tầm ba trang một quyển hay bán ở chợ, hay loại hiếm có như độc bản hoàng đế gối đầu ở trong cung, vẽ nam nữ hoặc nam nam, ta đều xem qua hết. Khi ấy, ta có thể mặt không đỏ bừng, tim chẳng loạn nhịp, lãnh đạm như một cây cột gỗ. Nhưng lần này lại chẳng giống vậy, rõ ràng là cùng với kẻ tiểu bối thưởng thức một màn xuân cung sống động, mà không khiến cho cái mặt “nhàu” của ta đỏ tía tai, thì thực sự không xứng với hai tiếng “mẫu thân” của nó.

Bên ngoài căn phòng đó, tuy rằng vẫn là một phường lỗ mãng dung tục, nhưng điều khiến người ta vui mừng là, xiêm y của phường lãng tử ấy vẫn còn kín chán.

Thực sự không thể tìm được một nơi thanh tịnh ở phường thanh lâu này.

Một a hoàn áo đỏ này tay bưng một đĩa bánh đậu xanh lả lướt đi về phía bọn ta. Cục bột nhỏ chun mũi, lập tức hiện hình đuổi theo sau ả, ta ở phía sau đành lập tức hiện hình theo nó. Ả a hoàn kia nhìn thấy cục bột nhỏ dễ thương, bèn nhéo má nó hai cái, rồi lại quay đầu lại cười tình với ta, đưa cả đĩa bánh đậu xanh cho cục bột nhỏ.

Ta kéo cục bột nhỏ đi đến một góc khuất, nghĩ ngợi hồi lâu mà vẫn không biết nên dạy dỗ nó như thế nào để nó biết sai mà vẫn thấy vui vẻ. Hôm nay là sinh nhật của nó, Dạ Hoa dặn ta phải chăm sóc nó, ngày này mà làm cho nó buồn, như thế là đối xử không tốt, không chân thành với nó.

Ta thầm cân nhắc một lượt, cuối cùng nở một nụ cười, rất hiền từ hỏi nó: “Bên kia kể chuyện rất hay, ban đầu con nghe rất hứng thú, sao con lại chạy đến nơi, haizz, chạy đến nơi như thế này?”.

Cục bột nhỏ nhíu mày đáp: “Vừa nãy có một gã béo dám ngang nhiên thơm một tiểu tỷ tỷ trên phố, tiểu tỷ tỷ này không cho gã béo thơm, gã béo không thơm được thì nổi cáu, gọi mấy tên xấu xí bên cạnh hắn đến quây tiểu tỷ tỷ ấy. Tiểu tỷ tỷ rất sợ hãi, con nhìn thấy mà không đành lòng, muốn chạy đến cứu tỷ ấy. Đến khi con chạy xuống lầu, thì đã chẳng thấy bóng dáng bọn họ đâu nữa, có một đại thúc ở bên cạnh nói cho con biết, tiểu tỷ tỷ ấy đã bị gã béo bắt vào tòa lầu hoa này. Con sợ chúng đánh tỷ ấy, nên muốn chạy vào cứu, nhưng đại nương đứng ở cửa không cho con vào, con chẳng còn cách nào khác, nên phải tàng hình để lẩn vào. Ôi, chẳng hiểu sao vị đại thúc kia nói đây là tòa hoa lâu, con nhìn hết một lượt mà cũng chẳng thấy hoa hoét đâu cả”.

Ta bị câu nói sau tiếng “ôi” kia của nó dọa cho suýt chút nữa thì nhảy dựng lên, cục bột à, con có thể không nhìn thấy thứ sắp quấn vào nhau đó sao?

Tính theo người phàm trần thì tuổi của cục bột nhỏ cũng chưa quá ba tuổi, tiên căn vẫn chưa vững, cần phải được bảo vệ. Ba trăm năm nay, phụ quân nó nuôi nó vẫn rất bình lặng, đến lượt ta, nếu như để cho nó nhìn thấy những chuyện không nên nhìn, mà nảy sinh ra một số suy nghĩ không nên nghĩ, dẫn đến tiên nguyên rơi vào ma chướng, phụ quân nó ắt sẽ lấy mạng ta.

Ta nuốt nước bọt, nghe nó tiếp tục kể: “Đến khi con tìm được gã béo kia, thì hắn đã nằm thẳng đơ dưới đất, bên cạnh có một vị ca ca áo trắng đang ôm tiểu tỷ tỷ vào lòng, con chẳng nhìn thấy gì khác, muốn tiếp tục nghe chuyện, nhưng chẳng ngờ lại xuyên nhầm tường lạc vào một căn phòng khác”.

Phải rồi, nhớ lại năm đó, học thuật suy đoán, diễn dịch không được tốt, ta cùng bọn Thập sư huynh bị Mặc Uyên trách phạt, bèn xuống phàm giới hóa thành nửa tiên nửa người, ở giữa chợ bày hiệu coi bói cho người ta. Khi đó, cứ dăm hôm ba bữa là lại nhìn thấy con gái nhà lành bị bọn ác bá trêu ghẹo. Nếu là một thiếu nữ khuê các chưa xuất giá, thì sẽ có một hiệp sĩ thiếu niên qua đường rút đao hét lớn; nếu là phụ nữ đã thành gia thất thì phu quân của nàng ta chẳng biết từ phương nào sẽ nhảy ra rút đao ra hét lớn. Tuy một người là hiệp sĩ, một người là phu quân, nhưng hai người chắc chắn đều mặc áo trắng.

Cục bột nhỏ sờ vào chóp mũi rồi nhăn mày, kể tiếp: “Hai người đó quấn lấy nhau ở trên giường, con nhìn họ quấn lấy nhau rất thú vị, bèn muốn dừng lại một chút để xem xem họ đang làm gì”.

Trái tim ta bỗng đập “thịch thịch”, run rẩy hắng giọng hỏi: “Con nhìn thấy những gì?”.

Nó trầm ngâm nói: “Thơm nhau này, sờ nhau này”. Lâu sau, miệng mới bi bô hỏi ta: “Mẫu thân, họ đang làm gì vậy?”.

Ta ngẩng đầu nhìn trời xanh, đắn đo hồi lâu, nghiêm túc nói: “Người phàm tu đạo, có một môn gọi là “song tu hòa hợp”, họ đang, hức, song tu, song tu hòa hợp”.

Cục bột nhỏ ra vẻ đã hiểu: “Người phàm thật là một lòng hướng đạo!”.

Ta cười khan “ha ha” hai tiếng.

Quay mình lại thì chẳng may va phải một khuôn ngực chắc chắn ở trước mặt, từ đầu đến chân hắn nồng nặc mùi rượu.

Ta day day mũi, lùi về phía sau hai bước, nheo mắt lại nhìn, vị nhân huynh trước mặt toàn thân nồng rượu, tay phải cầm một chiếc quạt, đôi mắt hẹp dài sáng long lanh đang nhìn ta. Khuôn mặt có làn da không đến nỗi nào, nhưng tạng phủ lại có hỏa quá vượng, nên da thịt cũng sạm lại không sáng bóng. Hầy, nếu song tu quá chuyên cần thì thận sẽ hư một chút.

Gã cầm chiếc quạt rách của mình chỉ về phía ta, nói rất khẳng khái: “Công tử này quả là nhân tài, bản vương thực ngưỡng mộ”.

Haizz, hóa ra lại là một vương gia chơi bời. Ta bị mùi rượu trên người hắn phả vào làm cho đầu óc hơi quay cuồng, cố gắng chắp tay nói: “Quá khen, quá khen”. Đoạn lôi cục bột nhỏ định đi xuống lầu.

Gã cầm quạt quay người chắn trước mặt ta, mau lẹ nắm lấy một cánh tay ta, nhếch miệng cười, nói: “Tay mới trắng nõn nà làm sao”.

Ta ngây ra.

Dựa vào kinh nghiệm ở phàm trần trước đây của ta, phụ nữ khi lộ diện thường dễ gặp phải những chuyện mình không mong muốn, nào ngờ bây giờ đàn ông cũng chẳng an toàn.

Miệng cục bột nhỏ lúng búng toàn bánh đậu xanh, mắt trừng trừng ngây ra nhìn gã cầm quạt kia.

Gã cầm quạt kia này hôm nay có Phúc tinh chiếu sáng trên cao, trêu ghẹo một vị thượng thần, số của hắn thật hên.

Vì là lần đầu bị người phàm trần trêu ghẹo, nên ta cảm thấy rất mới mẻ. Nhìn kỹ da mặt gã, thì có thể nói đây chính là kẻ đào hoa trong giới người phàm trần, nên ta cũng không thèm tính toán với gã nữa, chỉ khoan dung độ lượng rút tay về, để cho hắn hứng thú một chút.

Nào ngờ đây đúng là một gã vương gia không hiểu chuyện, gã lại xán lại gần thêm một chút, nói: “Bản vương vừa nhìn thấy công tử đã sinh lòng yêu mến, công tử…”. Cánh tay kia còn chuẩn bị ôm lấy eo của ta.

Như thế này thì hơi khác rồi.

Ta dĩ nhiên là một thần tiên từ bi, nhưng người phàm trần lại chẳng có quan hệ gì với Thanh Khâu nhà ta, nên lòng từ bi của ta đương nhiên cũng có hạn. Đương lúc muốn dùng phép định thân để bắt gã đứng yên, đưa đến khu rừng lân cận treo lên hai ngày, để cho gã nhớ thật kỹ, thì sau lưng đột nhiên truyền đến một lực thật mạnh, kéo ta vào lòng. Lực đạo này vô cùng quen thuộc, ta ngẩng đầu nhìn lên, vui vẻ chào hỏi người quen ấy: “Ha ha, Dạ Hoa, ngươi đến thật đúng lúc”.

Một tay Dạ Hoa ôm lấy ta, dưới ánh đèn rạng rỡ chiếc áo bào màu đen hắt ra những tia sáng lạnh lẽo, hắn nhìn gã cầm quạt đang hoang mang kia, miệng cười mà như không cười: “Ngươi trêu ghẹo vợ của ta xem chừng vui vẻ thật đấy”.

Ta cho rằng, trên danh nghĩa ta đúng là đế hậu chính cung tương lai của hắn, vậy thì cũng coi là vợ chồng danh chính ngôn thuận, lần này ta bị trêu ghẹo, nên đương nhiên hắn cũng bị mất thể diện. Hắn ôm ta một cái, nghiêm khắc dạy dỗ cho cái tên háo sắc dám chòng ghẹo ta một bài cũng là điều phải làm mà thôi. Ta cứ giả vờ đứng bên cạnh hắn xem là được, như thế mới là diễn đúng vai.

Cục bột nhỏ nuốt trôi nửa miếng bánh đậu xanh, liếm liếm mép, nắm chặt cổ tay gã cầm quạt kia, nói: “Có thể làm cho cha ta tức giận, người đúng là một nhân tài, nhưng lần này khó qua, hãy bảo trọng!”.

Nói xong liền lùi xuống đứng sau ta một cách vô cùng quy củ.

Gã cầm quạt thẹn quá hóa giận, cười lạnh lùng, nói: “Hừ, ngươi có biết bản vương là ai không? Hừ…”.

Lời còn chưa dứt, người đã mất tăm.

Ta quay sang hỏi Dạ Hoa: “Ngươi vứt hắn đi đâu rồi?”.

Hắn nhìn ta một cái, quay đầu nhìn sang chỗ sáng ánh đèn, bình thản nói: “Ở một khu rừng nhiều ma gần đây”.

Ta ớ ra, tri kỷ, đúng là tri kỷ. Hắn nhìn ngọn đèn kia hồi lâu, lại quay sang dò hỏi ta: “Sao nàng bị chòng ghẹo mà cũng không thèm tránh?”.

Ta cười cười nói: “Chỉ là bị sờ một, hai cái thôi!”.

Khuôn mặt lạnh lùng của hắn cúi xuống, rồi vẫn lạnh lùng hôn ta một cái.

Ta ngẩn người một lúc lâu.

Hắn lạnh lùng nhìn ta một cái: “Chỉ là bị hôn một, hai cái mà thôi!”.

Bản thượng thần hôm nay, bị một đứa tiểu bối kém hơn mình chín vạn tuổi xem thường?

Cục bột nhỏ đứng bên cạnh bịt miệng cười khúc khích, miệng không thông khí được liền bị nghẹn bánh đậu xanh.

Đêm đến lại đưa cục bột nhỏ đi thả hoa đăng.

Chiếc hoa đăng này làm theo hình dạng bông sen, ở giữa thắp một cây nến nhỏ, người phàm trần dùng nó để thả trôi nguyện ước theo dòng nước.

Trong tay cục bột nhỏ cầm một chiếc hoa đăng, miệng lầm rầm cầu nguyện, từ lục súc sinh sôi cho đến ngũ cốc bội thu, từ ngũ cốc bội thu cho đến thiên hạ thái bình, cuối cùng đã đầy đủ ước nguyện, liền thả chiếc hoa đăng xuống nước.

Chứa biết bao ước nguyện của cục bột nhỏ, chiếc hoa đăng không bị chìm đi mà xoay tròn mấy cái tại chỗ, gió khẽ thổi, nó chao đảo rồi trôi đi.

Dạ Hoa cũng tiện tay đưa cho ta một chiếc.

Người phàm cầu nguyện đều cầu thần tiên phù hộ, thần tiên cầu nguyện thì biết cầu ai phù hộ đây?

Dạ Hoa nửa cười nửa không, nói: “Chẳng qua là lưu lại một suy nghĩ, nàng còn thực sự cho rằng thả hoa đăng là mọi chuyện đều thuận lợi ư?”.

Hắn nói như vậy, kể ra cũng có lý. Ta cười cười đón lấy, bước đến bên cục bột nhỏ, cùng nó thả đèn xuống.

Hôm nay thực sự vô cùng vui.

Thả xong hoa đăng, cục bột nhỏ mệt đến mức díp cả mắt lại, vậy mà vẫn còn líu ríu kêu không về Thanh Khâu, không về Thanh Khâu, phải ở phàm trần ngủ một tối, thử xem chăn đệm giường chiếu phàm trần có mùi gì?

Lúc đó đêm đã về khuya, tiếng mõ vang lên cốc cốc. Đầu đường cuối ngõ, phàm là những nhà treo trước cửa chiếc đèn lồng trên có viết hai chữ “khách lâu”, đều đã tắt nến, đóng cửa hết cả.

Thị trấn này tuy nhỏ, nhưng rất nhiều du khách qua lại. Đến gõ cửa hai nhà trọ, mới có thể tìm được một căn phòng để nghỉ lại. Cục bột nhỏ đã ngủ khì, chẳng biết trời đất là gì trong lòng Dạ Hoa.

Lão chưởng quầy vẫn còn ngái ngủ ngáp một cái rõ dài: “Hai vị công tử cùng nghỉ lại một đêm cũng không ngại gì, thị trấn này có ba nhà trọ, nhà trọ của chưởng quầy Vương và chưởng quầy Lý hôm nay đều đã chật cứng, nhà lão vừa nãy mới có một khách trả phòng, nên còn trống một gian”.

Dạ Hoa gật đầu qua loa. Lão chưởng quầy thò đầu ra gọi một tiếng, tiểu nhị vừa mặc áo vừa chạy tới, hai cánh tay vừa nhét bừa vào một ống tay áo, vừa chạy đi trước dẫn đường cho bọn ta.

Lên tầng hai, rẽ một góc, đẩy cửa vào một căn phòng, Dạ Hoa đặt cục bột nhỏ lên trên giường, rồi dặn dò tiểu nhị lấy nước rửa mặt mũi. Vừa may bụng ta rọt rọt kêu hai tiếng, hắn lườm ta một cái sắc lẹm rồi thêm một câu: “Nhân tiện làm thêm hai món đưa lên đây”.

Tiểu nhị kia có vẻ quá buồn ngủ, nên muốn mau mau hầu hạ bọn ta xong, còn có thể leo lên giường ngủ tiếp, cho nên lấy nước, mang thức ăn đều cực nhanh, đơn giản hai món mặn, một món chay, thịt bò muối, sườn chiên mặn, đậu phụ nhúng hành.

Ta cầm đũa gắp một, hai miếng, nhưng chẳng buồn ăn.

Ta vốn chẳng kén chọn trong việc ăn uống, gần đây hay đánh giá đồ ăn do Dạ Hoa làm, bình phẩm trình độ nấu bếp cao thấp, nên miệng đã quen ăn ngon rồi.

Dạ Hoa ngồi dưới đèn cầm một quyển sách, hầy, cũng có khả năng đó là công văn, hắn ngẩng đầu lên nhìn ta một cái, lại nhìn ba món ăn trên bàn, nói: “Không ăn nổi thì rửa mặt đi ngủ sớm chút đi”.

Đây là một gian phòng bình thường, vì thế chỉ có một chiếc giường. Ta nhìn chiếc giường duy nhất ấy, chần chừ trong giây lát, cuối cùng vẫn là mặc nguyên cả quần áo trèo lên giường nằm.

Từ đầu đến cuối, Dạ Hoa không nói sẽ phân chia chỗ nằm của ba người bọn ta ra sao, rất bình thản điềm tĩnh. Còn nếu ta cứ cố hỏi một câu, thì rõ ràng là không thoải mái cho lắm.

Cục bột nhỏ đã say giấc nồng, ta bế nó nằm ra giữa giường, lại lấy chiếc chăn lớn đặt ở bên cạnh, còn mình thì nằm vào trong cùng. Dạ Hoa vẫn chong đèn đọc công văn.

Giữa đêm, ta đã lơ mơ ngủ, dường như có người ôm lấy ta, thở dài bên tai ta: “Ta vốn hiểu tính khí của nàng, nhưng chẳng ngờ nàng vẫn dứt khoát đoạn tuyệt như vậy, chuyện cũ nàng đã quên sạch, ta vừa mong nàng nhớ lại, lại vừa mong nàng mãi mãi quên đi…”.

Ta không để ý, nghĩ là mơ thôi, bèn trở mình, ôm cục bột nhỏ vào lòng vỗ vỗ mấy cái, rồi thực sự thiếp đi.

Sáng hôm sau, trời sáng bạch ta mới dậy khỏi giường, Dạ Hoa vẫn ngồi ở chỗ hôm qua đọc sách, chỉ khác là, bên cạnh không còn cây nến.

Ta rất nghi ngờ, liệu hắn ta đọc suốt đêm hay là ngủ một giấc rồi trước khi ta tỉnh đã dậy ngồi đó, tiếp tục đọc sách không?

Cục bột nhỏ ngồi ghế bên cạnh vẫy vẫy ta: “Mẫu thân, mẫu thân, cháo này rất ngon, A Ly đã múc cho mẫu thân một bát đấy”.

Ta xoa đầu nó khen “ngoan”, rửa mặt xong thì ăn cháo, lúc đó cảm thấy, mùi vị này rất giống với cháo mà Dạ Hoa nấu. Ta ngẩng đầu lên nhìn hắn dò xét, hắn cũng không hề ngẩng đầu, chỉ nói: “Thức ăn của quán trọ rất khó nuốt, sợ A Ly ăn không quen, ta bèn mượn bếp của họ nấu nửa nồi cháo”.

A Ly ngồi bên cạnh ấp úng nói: “Lúc trước ở núi Tuấn Tật, công chúa của Đông Hải làm thức ăn con cũng ăn không quen, nhưng cũng chẳng thấy phụ quân làm thức ăn riêng cho con bao giờ”.

Dạ Hoa ho một tiếng.

Ta vừa được lợi, vừa chuyên tâm húp cháo.

Chương 9: Số mệnh của tiểu đệ Nguyên Trinh thật ly kỳ

Vào buổi sớm từ phàm giới trở lại Thanh Khâu, Dạ Hoa đã bị tiên quan Ca Quân thúc giục quay về Thiên Cung, nói là có một chuyện quan trọng cần cùng chúng thần bàn bạc, phải ở lại mấy ngày. Thế nên trong mấy ngày hắn ở lại Thiên Cung, ta cùng cục bột nhỏ giữ một giỏ quả tỳ bà, hết sức thê thảm. Cục bột nhỏ ăn tới mức mặt vàng bủng, kéo tay áo ta, vẻ rất đáng thương: “Mẫu thân, bao giờ phụ quân quay lại? A Ly muốn ăn nấm hấp, muốn ăn canh cải thảo cà rốt”.

Mê Cốc nhìn thấy thì không đành lòng, cảm thấy chẳng qua cũng chỉ là nấm hấp và canh cải thảo cà rốt mà thôi, mà lại khiến cục bột thèm đến vậy, liền xắn tay áo vào bếp một cách vô cùng bi tráng. Nhưng chẳng biết rằng nấm hấp và canh cải thảo cà rốt của Dạ Hoa làm khác xa với việc chỉ hấp nấm và nấu canh cải thảo cà rốt bình thường, nêm nếm rất nhiều gia vị, trình tự công phu, khiến cho cỏ cây phải âu sầu, gió mây phải biến sắc. Lão ta đã suýt nữa thì lật tung căn bếp của ta ra để làm ra món ăn, đương nhiên không lọt được vào mắt xanh của cục bột nhỏ. Thế là cục bột nhỏ tiếp tục kéo tay áo của ta, ấm ức: “Mẫu thân, mẫu thân, bao giờ phụ quân quay lại?”.

Trước đây, Phượng Cửu kể cho ta nghe biết bao chuyện gió trăng của nàng ấy, cảm ngộ mà nói rằng, tình yêu là thứ chưa từng nếm trải thì không thể biết ra sao, nhưng hễ nếm trải được vị ngọt của nó thì sẽ không thể buông tay, trong thiên hạ chẳng có thứ gì làm người ta mê đắm hơn nó cả.

Ta cứ ngỡ trong thiên hạ tuy chẳng có thứ gì có thể làm người ta mê đắm hơn tình yêu, nhưng có thứ làm mê đắm lòng người ngang với nó. Ví dụ như, tài nấu ăn của Dạ Hoa.

Tuy không ngày ngày rên rỉ mong ngóng giống cục bột nhỏ, nhưng sự nhớ nhung Dạ Hoa trong lòng ta cũng như vậy.

Ta nhớ buổi ban đầu mới gặp Dạ Hoa, ngoài khuôn mặt của hắn khiến ta hơi kinh ngạc, thì cũng không cảm thấy hắn có gì đặc biệt. Gần đây, nghĩ tới hắn là thái tử của Thiên tộc, cả ngày công việc bận bịu, mà vẫn chạy tới chỗ ta ở lỳ ba tháng làm đầu bếp, quả thật không dễ dàng gì.

Dạ Hoa Quân này quả thực vừa thân thiết vừa hòa nhã. Đợi Dạ Hoa từ Thiên Cung quay về, ta và cục bột nhỏ cũng coi như được ăn no. Mê Cốc rất may mắn, mang quà tỳ bà tới đúng lúc chuẩn bị ăn cơm, ta bèn gọi lão qua ăn cùng, vui vẻ bảo lão: “A di đà Phật, không cần mang quả tỳ bà tới nữa rồi”.

Vì duyên cớ ấy, cuối cùng ta đã hiểu ra những ngày không có Dạ Hoa sẽ khó sống biết bao. Ngày hôm sau nữa, ta hứng chí dán một tờ thông báo, sẽ tuyển một tiểu tiên ở Thanh Khâu làm đệ tử học nấu ăn của Dạ Hoa.

Đám tiểu tiên mừng quýnh lên, sắp hai hàng dài trước cửa động Hồ Ly.

Mê Cốc vui vẻ lắm: “Đã lâu rồi Thanh Khâu không náo nhiệt như thế, đã đông đúc thế này, e rằng phải đặt một lôi đài, để họ tỉ thí với nhau, mới có thể chọn ra được kẻ có nền tảng tốt để đưa đến điện thái tử học nghề”.

Ta cho rằng lão nói rất đúng, bèn phê duyệt. Mê Cốc làm việc rất lanh lẹ, ta chỉ đi ngủ một giấc, tỉnh dậy lôi đài đã dựng xong.

Trong thời gian ngắn, Thanh Khâu khói bếp chờn vờn. Cục bột nhỏ đứng trước động Hồ Ly không ngừng nuốt nước miếng, Dạ Hoa ngồi bên cạnh liếc ta hai cái, ánh mắt vô cùng cổ quái. Ta nhìn trái nhìn phải, thấy bên cạnh hắn còn một chiếc ghế trúc trống, bèn đi tới ngồi xuống.

Cục bột nhỏ lập tức chạy tới ngồi lên đùi ta. Dạ Hoa dáng vẻ trễ nải, ngáp một cái: “Nghe Mê Cốc nói nàng muốn tuyển đệ tử cho ta?”.

Ta gật đầu, đúng thế.

Hắn nhìn đám tiểu tiện bận rộn đun đun nấu nấu trên lôi đài một lượt, rồi quay đầu nói với ta: “Bảo bọn chúng về đi, chẳng có ai có căn cốt gì cả”. Lại nhìn ta một lượt từ đầu tới chân, cười nói: “Theo ta nhìn, thì nàng cũng được đấy. Nhưng nàng không cần theo ta học, hai chúng ta một người biết làm là đủ rồi”.

Nói xong liền thong thả đứng dậy đi về thư phòng.

Mê Cốc lật đật chạy tới hỏi: “Vừa nãy thái tử điện hạ chỉ định người nào ạ?”.

Ta hoang mang lắc đầu: “Bảo chúng về đi, hắn chẳng chọn được ai cả”.

Sau sự kiện lôi đài bảy, tám ngày, buổi sáng hôm đó, ta ngồi trong thư phòng của Dạ Hoa vừa đọc truyện vừa cắn hạt dưa, Dạ Hoa ngồi trên ghế phê duyệt công văn. Ta ngờ rằng Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên đã an dưỡng tuổi già, chẳng màng chính sự, mới sai cháu ông ta ngày nào cũng bận rộn quay cuồng thế này.

Hoa sen trong đầm bên ngoài cửa sổ đang mùa nở rộ, gió mát mơn man, những chú chuồn chuồn núp trong nhụy hoa khẽ đập cánh mang theo một mùi thơm mát lành. Mê Cốc dẫn cục bột nhỏ, ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ bơi trong đầm đi nhặt lá sen. Lão nói đem những chiếc lá sen này phơi khô, chế thành một loại trà có mùi vị rất ngon. Tuy Mê Cốc nấu nướng không ra gì, nhưng hãm trà lại rất tuyệt, về phương diện này lão cũng có một chút đạo hạnh.

Dạ Hoa đặt công văn xuống, đi đến mở cánh cửa sổ ra, cười nói: “Nàng lười biếng như thế, đầm hoa sen đều là tự sinh tự diệt, mà cũng có thể đẹp như vậy, chẳng kém gì Dao Trì trên Thiên Cung, thật là hiếm có”.

Ta cười “ha ha” hai tiếng, thò tay bốc hạt dưa đưa cho hắn. Hắn xưa nay không bao giờ ăn thứ này, chỉ nhận lấy, ngồi xuống trước cửa sổ bóc rồi đưa nhân cho ta: “A Ly không có ở đây, nàng được lợi rồi”.

Ta cảm kích đón lấy, trên hồ bỗng nhiên vọng tới tiếng gọi thất kinh của cục bột nhỏ. Ta thò nửa đầu ra, thì nhìn thấy Mê Cốc tung thân bay ra.

Hầy, chắc có người tới làm loạn Thanh Khâu rồi.

Ta vẫy vẫy tay với cục bột nhỏ đang ngồi một mình trên thuyền: “Tới đây ăn hạt dưa”.

Nó ngồi giữa đầm sen, luống cuống khum tay, đáp: “A Ly, A Ly không biết chèo thuyền…”.

Mê Cốc dâng lên quạt Phá Vân, đúng lúc ta đang đọc truyện đến đoạn gay cấn. Dạ Hoa lạnh lùng nói: “Chớp mắt một cái, thiếp của nhị thúc ta đã tìm tới cửa rồi”.

Trong não ta điểm qua một lượt gia phả thần bí và hoành tráng nhà hắn, sau khi đã xác định vị trí của hắn, bắt đầu truy ngược lên xem nhị thúc của hắn là ai. Đến khi nhìn thấy chiếc quạt Phá Vân kia, ta mới đột nhiên nhớ ra nhị thúc của hắn chính là Tang Tịch – người đã từ hôn ta. Thiếp của nhị thúc hắn đương nhiên là Thiếu Tân.

Lúc ở Đông Hải, niệm tình chủ tớ, ta đã từng ban cho Thiếu Tân một nguyện vọng, nói khi nào nàng ta nghĩ thông suốt thì có thể cầm quạt Phá Vân đến Thanh Khâu tìm ta. Lần này nàng ta đến, xem ra đã nghĩ thông suốt rồi.

Mê Cốc sắc mặt tím tái dẫn Thiếu Tân đi vào. Ta nguýt lão một cái, bảo lão rằng cục bột nhỏ vẫn đang ngồi giữa hồ sen, lão “a” lên một tiếng, rồi nhảy thẳng qua cửa sổ.

Dạ Hoa vẫn im lặng ngồi đọc công văn của hắn, ta cũng im lặng ngồi đọc truyện của ta. Thiếu Tân lặng lẽ quỳ dưới đất.

Đọc xong cuốn truyện, là một câu chuyện đoàn viên của tài tử và giai nhân. Chén trà cũng đã cạn, ta bèn bước ra gian ngoài pha một bình, khi đi qua bàn của Dạ Hoa cũng thuận tiện cầm chén trà của hắn, coi như cho hắn được lợi lần này. Rót trà quay trở lại, Thiếu Tân vẫn lặng lẽ quỳ. Ta vô cùng kinh ngạc, uống một ngụm trà, cũng chẳng cần ra bộ thượng thần làm gì, cực kỳ nhẹ nhàng hỏi nàng ta: “Ngươi đã đến tìm ta, tất muốn hỏi ta cái gì đó, sao vẫn không nói, là cớ làm sao?”.

Nàng ta ngẩng đầu nhìn Dạ Hoa một cái, lại cắn môi.

Dạ Hoa cứ thong thả điềm tĩnh phê giấy tờ của hắn, ta lại đặt tách trà xuống, tiếp tục nhẹ nhàng hỏi: “Dạ Hoa Quân nào phải người ngoài, ngươi cứ nói thật ra”.

Dạ Hoa ngẩng đầu, nửa cười nửa không, liếc ta một cái.

Thiếu Tân chần chừ một lúc, cuối cùng dè dặt nói: “Cô cô, cô cô có thể cứu con trai Nguyên Trinh của Thiếu Tân được không?”.

Đợi Thiếu Tân nước mắt nước mũi vòng quanh sụt sùi kể rõ mọi chuyện, ta mới hiểu được tại sao nàng ta lại có chút nghi kỵ với Dạ Hoa.

Nguyên Trinh chính là con trai lớn của Tang Tịch và Thiếu Tân. Bây giờ Thiên Quân không còn coi trọng Tang Tịch nhưng cũng đối xử không tệ với thằng cháu Nguyên Trinh, mỗi lần Thiên Quân mở yến tiệc trên Cửu Trùng Thiên, đều dành cho đứa cháu này một chỗ.

Mấy ngày trước lễ mừng thọ của Thiên Quân, Tang Tịch có dẫn Nguyên Trinh chuẩn bị quà mừng đến Cửu Trùng Thiên chúc thọ Thiên Quân. Trong cái đêm ngủ lại Thiên Đình, không ngờ Nguyên Trinh uống say, loạng choạng xông vào Tẩy Ngô cung, suýt chút nữa thì chòng ghẹo thứ phi Tố Cẩm của Tẩy Ngô cung.

Ta đương nhiên biết thứ phi Tố Cẩm này là thứ phi của ai, liếc mắt nhìn Dạ Hoa, hắn lại đặt công văn xuống, chăm chú nhìn ta cười rất lạ kỳ. Trong lòng ta đắn đo, Dạ Hoa Quân quả nhiên không phải người bình thường, bị cắm sừng mà vẫn vui vẻ.

May mà cái sừng này vẫn chưa mọc ra thật, Nguyên Trinh rốt cuộc vẫn dừng chân trước cánh cửa cuối cùng coi như là chòng ghẹo không thành. Nhưng thứ phi Tố Cẩm kia cũng cực kỳ tiết liệt, đã lấy ngay một dải lụa trắng treo lên xà nhà. Chuyện này đương nhiên kinh động đến Thiên Quân. Lúc trước, ta có nghe nói rằng Tố Cẩm vốn là phi tử của Thiên Quân, sau này được Dạ Hoa yêu mến, Thiên Quân xưa nay vốn sủng ái Dạ Hoa, bèn ban vị phi tử mới cưới không lâu cho Dạ Hoa.

Ngẫm ra thì Thiên Quân hẳn có ít nhiều luyến tiếc vị phi tử này, nghe nói Nguyên Trinh trêu ghẹo nàng ta liền giận dữ lôi đình, lập tức sai bắt Nguyên Trinh lại, hạ chỉ đày y luân hồi sáu mươi năm, sáu mươi năm sau mới được thăng tiên trở lại.

Thiếu Tân khóc than thảm thiết, luôn miệng nói Nguyên Trinh là một đứa trẻ ngoan ngoãn, lương thiện, đi đường thấy con kiến cũng chẳng dám giẫm chết, quyết không có chuyện phạm sai lầm ấy.

Nhưng ta cho rằng, một kẻ lương thiện hay không lương thiện, thì cũng có liên quan gì tới việc y có háo sắc hay không.

Rốt cuộc thì Nguyên Trinh vẫn phải đầu thai xuống phàm trần.

Ta chạm nhẹ vào chén trà, cảm khái nói: “Tuy là chòng ghẹo chưa thành, trừng phạt cũng nặng quá, nhưng người mà con trai ngươi chòng ghẹo lại là thứ phi của Dạ Hoa Quân, nói gì thì Dạ Hoa Quân cũng ở động Hồ Ly suốt hai tháng, chăm lo chuyện ăn uống cho ta…”.

Dạ Hoa lại cầm một cuốn sách mới lên, bình thản nói: “Không kể tới tình riêng của ta, thì việc lần này của Nguyên Trinh, ta cảm thấy xử phạt cũng hơi nặng một chút”.

Ta kinh ngạc, nói: “Nhưng y cũng trêu chọc thứ phi của ngươi”.

Hắn cười lạnh lùng: “Ta không có thứ phi nào cả”. Đoạn đứng dậy rót thêm trà, nhân thể đi qua cầm tách trà của ta.

Ta càng kinh ngạc hơn, bên ngoài đồn đại rằng thứ phi Tố Cẩm rất được hắn sủng ái, chẳng nhẽ chỉ là nói chơi sao?

Việc Thiếu Tân nhờ cậy cũng không phải quá khó. Nàng ta cũng đã nghe ngóng được sau khi Nguyên Trinh chuyển kiếp thành người phàm, năm mười tám tuổi sẽ gặp một kiếp nạn lớn, kiếp nạn này sẽ làm khổ y cả đời, nên nàng ta xin ta độ hóa cho kiếp số này của y, để y có thể bình an sống một đời.

Nàng ta ủy thác chuyện này cho ta cũng có ngọn nguồn của nó. Vì thần tiên đều có thể thay đổi số mệnh của người phàm trần, nhưng lễ pháp của Thần tộc lại quy định rất khắt khe, tuy thần tiên có khả năng đó nhưng lại không có đất để dụng võ. Món nợ của Thiên Quân với nhà họ Bạch ta đến nay vẫn chưa trả hết, thế nên ta ra mặt nói vài câu, thì gần như ông ta sẽ mắt nhắm mắt mở coi chuyện lớn thành chuyện nhỏ mà thôi.

Nguyên Trinh đầu thai vào nhà đế gia, họ Tống, tên gọi là Tống Nguyên Trinh, năm hai mươi tuổi được phong làm thái tử, không lo cơm áo, điểm này thật hay biết bao. Bây giờ vừa hay y mười tám tuổi, kiếp số đã gần đến.

Nguyên mẹ của Nguyên Trinh ở cõi phàm là một kỳ nữ, vốn là con gái duy nhất của thái sư đương triều, năm mười lăm tuổi đã được vào hoàng cung, phong làm quý phi, ân sủng hiển hách, sau khi sinh hạ Nguyên Trinh thì đòi xuất gia. Hoàng đế chẳng có cách nào khác, đành dành một đạo quán phía sau hoàng thành cho nàng ta làm nơi tu hành.

Hoàng quý phi xuất gia, hoàng tử theo lễ được bồng đến nuôi dưỡng trong hoàng cung. Tính cách của mẹ Nguyên Trinh rất quyết liệt, chết cũng không chịu giao Nguyên Trinh, liền dẫn y đến ở cùng trong đạo quán, cho đến năm Nguyên Trinh mười sáu tuổi, mới sai một đạo cô dẫn Nguyên Trinh quay về cung. Nhắc đến vị đạo cô đi cùng Nguyên Trinh này, chính là sư phụ của Nguyên Trinh, cũng chính là một tỳ nữ được cha thực sự của y – Bắc Hải Thủy Quân Tang Tịch sai đi trông nom y. Lần này ta đến cõi phàm bảo vệ Nguyên Trinh, giúp y qua kiếp nạn, bèn thế chỗ sư phụ của y.

Sau khi bảo Thiếu Tân quay về, ta bắt đầu tính toán, trước tiên phải đến chỗ của Nam Cực Trường Sinh đại đế tìm Ti Mệnh Tinh Quân để đi cửa sau, nghe ngóng xem rốt cuộc kiếp nạn năm Nguyên Trinh mười tám tuổi là kiếp nạn gì, ngày nào giờ nào giáng xuống, ứng trên thân người như thế nào. Kiếp nạn này của Nguyên Trinh không phải là thiên kiếp, mà chỉ là kiếp nạn của số mệnh, không ứng vào thân là không sao.

Nhưng, Nam Cực Trường Sinh đại đế lại không qua lại gì với ta, sáu vị Tinh quân thuộc hạ của lão ta còn chẳng biết mặt. Lần này khinh suất tìm đến, cũng không biết làm quen có thuận lợi hay không.

Dạ Hoa ở bên cạnh vừa thu dọn sách vở vừa nói: “Ti Mệnh Tinh Quân tính tình quái đản, quyển sổ số mệnh trong tay lão ta, cho dù là Thiên Quân cũng chưa chắc đã mượn xem được. Nàng muốn xuống tay ở chỗ lão ta, e rằng khó mà làm được”.

Ta chau mày chau mặt nhìn hắn.

Hắn ngừng lại một lát, nhấp một ngụm trà, nói tiếp: “Hầy, ta có một cách, có điều…”. Ta lại nhìn hắn bằng ánh mắt vừa chân thành vừa thân thiết. Hắn cười nói: “Nếu ta giúp nàng lấy được cuốn sổ số mệnh đó, nàng phải nhận lời với ta một chuyện”.

Ta nhìn hắn cảnh giác.

Hắn bình thản nói: “Chỉ là lúc xuống cõi trần, nàng phải khóa đóng kín pháp lực lại, nàng nghĩ rằng ta đòi hỏi điều gì? Sửa đổi sổ số mệnh là chuyện phản nghịch thiên quy, cho dù Thiên Quân có mắt nhắm mắt mở, nàng lấy bao nhiêu pháp lực để sửa đổi số mệnh đó, thì chắc chắn bấy nhiêu pháp lực sẽ giáng trở lại thân nàng, điều này chắc nàng rõ hơn ta. Nàng tuy là thượng thần, nhưng bị pháp lực giáng trở lại mấy lần cũng là chuyện nghiêm trọng. Ngộ nhỡ đúng lúc ta kế vị ngôi báu Thiên Quân, nàng kế vị ngôi Thiên hậu, thì phải biết làm thế nào?”.

Thiên đế Thiên hậu kế vị, tất phải chịu tám mươi mốt đạo hoang hỏa, chín đạo thiên lôi, qua được đại kiếp nạn này mới có thể giáng lâm bốn bể tám cõi, theo lệ đều như thế. Nếu như lần này mà để pháp lực của bản thân giáng trở lại thì đúng là sẽ mất mạng. Ta đắn đo suy nghĩ một hồi, cho rằng hắn nói đúng nên gật đầu đồng ý.

Sau khi nhận lời mới nhận ra: “Ta và ngươi vẫn chưa thành thân, nếu như ngươi sắp phải kế vị Thiên Quân, thì ta cũng không thể cùng ngươi kế vị. Vẫn là ta phải thành thân với ngươi ngươi mới có thể kế vị”.

Hắn đặt chén trà xuống, nhìn ta chăm chú, bật cười: “Có phải nàng đang trách ta còn chưa cầu hôn nàng?”.

Ta bị hắn cười cho hoa mắt chóng mặt, khiêm tốn đáp: “Ta tuyệt đối đâu có ý đó, ha ha, tuyệt đối không có ý đó”.

Dạ Hoa quả nhiên ngày đi vạn dặm, làm việc vô cùng năng suất, ngày hôm sau đã đem quyển sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân đặt trước mặt ta. Đã từng được nghe hắn giảng giải quyển số này quý báu quan trọng ra sao, ta còn tưởng đem bán thể diện của hắn cùng lắm chỉ đổi lấy được bản sao, nào ngờ còn có thể đổi được bản gốc.

Khi Dạ Hoa đưa cho ta quyển sổ, hắn thở dài hai tiếng.

Khi đọc xong cuốn sổ số mệnh của Nguyên Trinh, ta cũng thở dài hai tiếng.

Số mệnh rối rắm tít mù, trắc trở khó lường như thế này, kiếp này của tiểu đệ Nguyên Trinh cũng thật ly kỳ lắm thay.

Theo như số mệnh viết, từ khi chào đời cho đến năm mười tám tuổi Nguyên Trinh sống rất bình an. Có hỏng thì hỏng đúng ở cái ngày mùng một tháng sáu năm y mười tám tuổi.

Ngày mùng một tháng sáu, là ngày sinh của hộ pháp Vi Đà, hoàng đế cùng vui chơi với dân chúng trên sông Sấu Ngọc, dẫn theo một bầy phi tần quý nhân, thái tử Nguyên Trinh cũng nằm trong số đó. Đúng chính ngọ, trên sông Sấu Ngọc có một chiếc du thuyền lướt qua, trên du thuyền có một mỹ nhân thướt tha yểu điệu, xòe quạt che ngang mặt. Cảnh vui lên đến tột cùng, trên trời bỗng một con chim bằng rất lớn sà xuống, móng sắc đẩy chiếc du thuyền nhỏ một cái, chiếc du thuyền nhỏ liền bị lật, mỹ nhân ôm chiếc quạt kinh hãi kêu lên, “tòm” một tiếng rơi xuống dòng sông.

Tiểu đệ Nguyên Trinh vì từ nhỏ đã ở trong đạo quán, tính tình hiền hòa, đương nhiên sẽ nhảy xuống sông trước tiên để vớt mỹ nhân lên.

Trong chớp mắt cánh hoa trong gương trăng dưới nước, ánh mắt hai bên chạm nhau. Dù Nguyên Trinh nhìn thế nào thì mỹ nhân này vẫn là mỹ nhân, người khác đương nhìn cũng thấy nàng là mỹ nhân, ví như cha của thái tử, tức hoàng đế đương triều. Hoàng đế đương triều nhắm trúng mỹ nhân rơi xuống nước, sau đó ôm về hoàng cung, hầy, lâm hạnh (14) thôi!

Tiểu đệ Nguyên Trinh đau khổ bi phẫn lại ấm ức, thầm than vắn thở dài suốt nửa tháng, tới ngày rằm tháng bảy cúng chúng sinh, xá tội vong nhân, tiểu đệ Nguyên Trinh uống hơi quá chén, không cẩn thận đã gian dâm với mỹ nhân được phong phi tử kia.

Coi như chuyện chưa làm được trên trời, giờ đã được viên mãn.

Tiểu đệ Nguyên Trinh là người vô cùng hiếu thuận, sau một đêm loan điên phượng đảo rất sung sướng, sáng hôm sau tỉnh dậy, thấy mình đã làm điều xằng bậy với vợ của cha thì quá sốc, lập tức đổ bệnh, chín tháng sau mới xuống giường được. Nhưng vì nghe thấy mỹ nhân kia sinh ra một đứa con trai, nghi ngờ đó là con của mình nên lại rụng rời chân tay mà đổ bệnh.

Mỹ nhân muốn nối lại tình xưa với Nguyên Trinh, Nguyên Trinh thì ngày đêm cảm thấy xấu hổ với cha già, sự hổ thẹn giày vò này đã làm lụi tàn ngọn lửa tình yêu, Nguyên Trinh tỉnh ngộ.

Mười năm sau, con trai của mỹ nhân đã khôn lớn. Hoàng đế bệnh nặng. Cho nên đứa con trai này lại tranh giành vương vị với Nguyên Trinh. Những rắc rối trong đó không cần phải bàn, Nguyên Trinh ngày hôm nay không còn là Nguyên Trinh hôm qua, đứa con trai của mỹ nhân đã chết dưới lưỡi kiếm của Nguyên Trinh. Tin tức bay đến tẩm điện của mỹ nhân, nàng treo cổ tự vẫn, lúc lâm chung còn để lại phong thư, nói đứa con chết dưới kiếm của Nguyên Trinh chính là con đẻ của y.

Nguyên Trinh đọc xong phong thư đó bèn muốn một kiếm cắt ngang cổ, nhưng làm thế nào, cả hoàng triều chỉ lưu lại một nam đinh, chỉ còn cách chịu đựng đau khổ mà lên ngai rồng, tại vị đến năm sáu mươi tuổi.

Như thế, tiểu đệ Nguyên Trinh từ khi cứu mỹ nhân bị rơi xuống sông vào ngày sinh của hộ pháp Vi Đà kia thì bắt đầu nếm mùi đau khổ. Mười tám, mười chín tuổi u uất buồn bã vì bản thân sao lại đem lòng yêu người thiếp của cha, sau năm mười chín tuổi lại âu sầu lo lắng đệ đệ của mình rốt cuộc lại là con trai của mình, năm ba mươi lăm tuổi tự tay đâm chết con trai của mình, sợ hãi khôn nguôi, hối hận vô hạn. Một chuỗi khổ đau ấy đều không cần giữ lại, chính mỹ nhân rơi xuống sông đó là kiếp số của tiểu đệ Nguyên Trinh.

Ta đọc trang viết về Nguyên Trinh trong cuốn sổ số mệnh kia bảy, tám lần, từ trên xuống dưới, cảm thấy sự việc này sắp đặt quá kín kẽ, duy chỉ có con chim bằng lớn xuất hiện trên sông Sấu Ngọc, chốn trần gian mà có con chim bằng lớn như vậy sao?

Dạ Hoa đặt một nửa xấp công văn đã đọc xong dưới cái chặn giấy, thong thả nhấp một ngụm trà: “Con chim bằng đó là mượn từ chỗ của Phật Tổ ở cõi Phật Tây Phương”. Hắn ngừng lại chẹp chẹp miệng rồi lại nói tiếp: “Nghe nói nhị thúc Tang Tịch của ta trước đây có chút khúc mắc với Ti Mệnh Tinh Quân, Ti Mệnh lần này quả là trả đũa nặng quá”.

Ta khẽ run lên. Không ngờ Ti Mệnh Tinh Quân lại là kẻ thù dai đến vậy, lần này khó khăn lắm lão ta mới sắp xếp được màn kịch lớn, không biết ta trà trộn vào đám diễn viên đó tráo một vai, lão ta sẽ tính sổ với ta thế nào?

Dạ Hoa thu lại quyển sổ số mệnh, liếc nhìn ta cười: “Nàng lo gì chứ? Lão ta vẫn còn nợ ta một món nợ nhân tình”.

Lần này xuống trần là để làm chuyện chính sự, đương nhiên không thể dẫn theo cục bột nhỏ. Cục bột nhỏ lầm bầm giận dữ, hồi lâu mới hết.

Trước khi ra khỏi cửa, ta thận trọng suy xét một lần nữa, cảm thấy giúp Nguyên Trinh tránh kiếp số, chỉ cần khuyên y ngày mùng một tháng sáu cáo ốm không đi chơi trên sông Sấu Ngọc là xong chuyện, thực sự chẳng cần dùng tới phép thuật. Cho dù gặp phải chuyện nguy hiểm gì, cứ trốn là xong. Cho dù trốn không nổi, phải đỡ một, hai đao, thì cũng không đến nỗi bị pháp lực giáng lại. Thân mang đầy phép thuật xuống phàm trần, ngộ nhỡ lúc nào đó không cẩn thận mà sử dụng, rồi lại để giáng lại bản thân thì gay go biết bao. Cho nên theo đề nghị của Dạ Hoa, để cho hắn đóng kín tiên thuật của ta lại.

Sau khi xuống phàm trần, đúng lúc vị tiểu tiên nga được Tang Tịch bố trí ở bên cạnh Nguyên Trinh tới đón ta. Phải thay thế vị trí của nàng ta làm sư phụ thứ hai của Nguyên Trinh, đương nhiên phải thuận lợi qua cửa của mẹ y đã.

Tiểu tiên nga của Bắc Hải trông coi Nguyên Trinh khá chặt, điều này đương nhiên là vì kiếp mệnh, nhưng mẹ của Nguyên Trinh lại rất coi trọng tiên nga này, lời nói cử chỉ đều tỏ ý tôn sùng, thể hiện rõ rằng bà ấy coi nàng ta là một cao nhân. Tiểu tiên nga dẫn ta đến trước mặt mẹ của Nguyên Trinh, phất chiếc phất trần, nói: “Trần duyên giữa bần đạo và điện hạ Nguyên Trinh đã dứt, cứ khinh suất mà đi thì thực không hay, may mà có sư tỷ đồng môn của bần đạo vân du ngang qua, nơi đây thắng cảnh, thực lòng hợp ý, bần đạo bèn nhờ sư tỷ thay bần đạo đến trông nom điện hạ, sư tỷ mấy trăm năm nay chưa từng ra khỏi sư môn, lần này cùng điện hạ Nguyên Trinh kết nghĩa sư đồ, ấy chính là vận may của điện hạ…”.

Nàng ta nâng ta lên cao tít, mẹ của Nguyên Trinh động lòng ngay, chiều hôm đó liền gọi Nguyên Trinh tới.

Đã là thần tiên chuyển thế, thì dù là người phàm trần, tiểu đệ Nguyên Trinh cũng có vài phần khí chất của thần tiên. Tuy mới sắp mười tám tuổi, nhưng nhìn đã rất thoát tục, rất chín chắn.

Khi nhận đệ tử ở núi Côn Luân, tuy không có chút gì gọi là nho nhã quy củ, nhưng toàn thu nhận những kẻ tài mạo song toàn. Tiểu đệ Nguyên Trinh này tài thì ta chưa biết, nhưng tướng mạo thì rất khôi ngô, về mặt này coi như cũng không đến nỗi làm mất thể diện núi Côn Luân ta.

Y hòa nhã chắp tay vái, còn chưa hành lễ bái sư đã gọi trước một tiếng “sư phụ”.

Ta ngẩng đầu, nhìn y dò xét một lượt, cực kỳ hài lòng, gật đầu nói: “Cũng có vài phần căn cốt, có thể làm đệ tử của ta”.

Mẹ của Nguyên Trinh hoan hỉ vô cùng.

Ta cùng Nguyên Trinh về Đông cung của y, thái giám tổng quản cắt đặt cho ta một căn nhà thanh tịnh, coi như đã trà trộn thành công vào màn kịch lớn do Ti Mệnh Tinh Quân trên trời cao soạn ra.

Ngày hôm sau nghe mấy thị nữ trong điện của Nguyên Trinh kháo nhau, rằng sáng sớm hôm qua hoàng đế nghe nói đạo cô bên cạnh thái tử cuối cùng đã rời đi, mặt rồng hớn hở, buổi chiều lại nghe nói đạo cô trước rời đi lại có đạo cô khác thay thế, mặt rồng hầm hầm, giận suốt buổi sáng, buổi chầu sớm nay còn trút giận lên đầu mấy vị đại nhân.

Thực ra hoàng đế nổi giận cũng rất hợp lẽ. Số mệnh của ông ta hẩm hiu đường con cháu, cố gắng đến giờ mới chỉ có một đứa con trai là Nguyên Trinh. Đứa con trai này của ông ta phải là cột trụ trong những cột trụ của đất nước, nhưng lại bị vời hết đạo cô này đến đạo cô kia để dạy cho y làm phương sĩ trong những phương sĩ, nếu là ta, ta cũng sẽ giận dữ. Tuy ta và tiểu tiên nga của Bắc Hải đều không muốn hướng dẫn Nguyên Trinh tu tiên, nhưng y vốn là một thần tiên đầu thai xuống trần, nên cũng không cần tu hành gì cả.

Vì hoàng đế đã có sự hiểu nhầm rất to lớn đối với sứ mệnh của ta, nên chẳng buồn gọi ta tới trình diện, vì thế ta đã vào cung bảy, tám ngày mà vẫn chưa được yết kiến hoàng đế.

Tiểu đệ Nguyên Trinh cực kỳ tiến bộ, chắc là y nghĩ không thể nuôi không ta, nên ngày ngày đều mang một số sách về đạo pháp đến giày vò ta, xin ta giải đáp một số vấn đề khó. Những sách vở bàn về những đạo lý huyền diệu này là thứ khiến ta đau đầu nhất, ta tự cảm thấy mỗi lần nhìn thấy y là bị giảm tu vi ba năm trời.

Ngày mùng một tháng sáu chỉ còn cách một tháng rưỡi nữa.

Sống cùng Nguyên Trinh mấy ngày, ta cũng mò ra một đạo lý. Tiểu đệ Nguyên Trinh này thoạt nhìn rất hòa nhã, nhưng rốt cuộc vẫn là tâm tính của tuổi thiếu niên, có một chút gì mới mẻ, phàm là nếu bạn kêu y đi về phía đông, y liền đi về phía đông, nhưng nhân cơ hội bạn không chú ý, y sẽ lại đi về phía tây. Ví như ngày mùng một tháng sáu, nếu như ta nói thẳng toẹt rằng y đừng đi tới sông Sấu Ngọc, thì y nhất định sẽ hỏi rằng tại sao không thể đi, cho dù ta có tìm lý do gì để lấp liếm, thì y vẫn sinh lòng hiếu kỳ, không chừng sẽ lén đi đến xem rốt cuộc ra sao. Nên biết rằng biết bao số mệnh khổ sở, bi thảm ở dưới gầm trời này đều là vì cái sự xem rốt cuộc ra sao. Ta nghĩ đi nghĩ lại, đắn đo tới lui, cho rằng cách nói thẳng toẹt ấy cực kỳ không ổn. Việc lần này của Nguyên Trinh cần phải bẻ quặt đi một chút.

Còn làm thế nào để bẻ quặt đi một chút, thì ta lại chẳng có tài cán như Ti Mệnh Tinh Quân, đây cũng là một vấn đề.

Đến lúc đó, đợi mỹ nhân mang họa tới cho Nguyên Trinh theo số mệnh rơi xuống nước, ta sẽ tranh nhảy xuống nước cứu nàng ta trước? Hầy, nhỡ mệnh kiếp thay đổi, mỹ nhân yêu người anh hùng cứu nàng, rồi chuyển sang yêu ta, thì biết làm thế nào? Không được, không được.

Đến lúc đó, tìm thêm mấy cô nương, đợi đến lúc mỹ nhân xuất hiện, sai các nàng ngồi trên du thuyền ở bốn phía đông tây nam bắc sông Sấu Ngọc cùng đồng loạt nhảy xuống, xem Nguyên Trinh có cứu nổi mỹ nhân trong cuốn sổ số mệnh kia không? Hầy, ngộ nhỡ cuối cùng Nguyên Trinh cũng cứu được một người, tuy không phải là người viết trong cuốn sổ số mệnh, nhưng vận mệnh lại chuyển lên người mà Nguyên Trinh cứu được, vậy phải làm thế nào? Không được, không được.

Cả ngày ta lao tâm khổ tứ, vô tình soi gương, cảm thấy gần đây dáng vẻ của mình trông cực kỳ cao thâm khó dò.

Chớp mắt đã đến ngày mùng một tháng năm.

Đêm ngày mùng một tháng năm, ta vẫn chong đèn suy ngẫm như mọi khi. Suy ngẫm tới canh hai, cảm thấy đêm đã khuya nên đi ngủ, bèn mở mắt thổi đèn. Vừa mở mắt đã nhìn thấy Dạ Hoa – đáng nhẽ phải đang ở Thanh Khâu, tay bưng tách trà ngồi đối diện, nghiêm trang nhìn ta.

Ta chần chừ hồi lâu, ngỡ rằng mình đang ngủ mơ.

Hắn nhấp một ngụm trà, mỉm cười nói: “Thiển Thiển, mấy ngày không gặp, ta nhớ nàng biết bao, nàng có nhớ ta không?”.

Ta nghe thấy mà lảo đảo, lồm cồm ngồi lên.

Hắn chống tay vào má, trách móc: “Nàng vui quá hóa điên hay sao?”.

Ta im thin thít, bò từ đất leo lên giường đi ngủ.

Dạ Hoa đưa tay ra ngăn ta lại, cười nói: “Nàng đừng vội ngủ, lần này ta đến để nói cho nàng biết một chuyện lớn, nàng có biết người cha phàm trần của Nguyên Trinh ở kiếp này, là ai thác sinh không?”.

Ta rất buồn ngủ, bèn lười nhác đáp: “Là ai thác sinh? Miễn không phải Thiên đế ông nội ngươi thác sinh là được”.

Hắn quay người, ngồi lên mép giường ngăn ta lại, rồi nằm ườn ra, nhân tiện còn vỗ vỗ vào chỗ bên cạnh, ta suy nghĩ giây lát, rồi cũng ngồi xuống.

Hắn lại tiện tay với một tách trà trên bàn đưa cho ta: “Tỉnh táo lại đi, tuy không đến nỗi là ông nội ta, nhưng cũng không kém đâu, không chừng còn là người quen của nàng”.

Ta chăm chú lắng nghe.

Hắn thong thả nói: “Thiếu Dương Quân của phủ Đông Hoa Tử”.

Ngụm trà trong miệng ta lập tức phun qua lỗ mũi.

Khụ, khụ, khụ, người cha kiếp này của tiểu đệ Nguyên Trinh, lại là, lại là Đông Hoa Đế Quân.

Đúng là người quen thật.

Đối với vị Đế Quân này, bản thượng thần đúng là sấm quen tai, quen tai vô cùng.

Hồ ly đỏ Phượng Cửu đã yêu đơn phương Đông Hoa Đế Quân suốt hơn hai nghìn năm, mỗi lần uống say lại lảm nhảm bên tai ta Đông Hoa thế này Đông Hoa thế kia, đến tận bây giờ ta không cần dùng não suy nghĩ cũng có thể kể vanh vách những chuyện liên quan đến y như thể đếm châu báu trong nhà. Nhưng đứa con gái duy nhất của Bạch Dịch – nhị ca của ta, đứa cháu gái duy nhất của ta Phượng Cửu, lần nào cũng vì Đông Hoa này mà uống say mèm. Tiếc thay cho rượu ngon của Chiết Nhan đều được đem cho nó giải sầu.

Vị Đông Hoa Đế Quân là này là chúa của muôn thần, địa vị trong Thiên tộc chỉ kém mỗi Thiên Quân, chủ yếu quản lý tiên tịch. Yêu tinh, người phàm hễ mà thành tiên, đều phải được một tiếng của y. Đám thần tiên từ thượng tiên trở xuống muốn thăng phẩm trật cũng phải thăm hỏi qua vị Đế Quân này.

Đông Hoa Đế Quân là một thần tiên thanh tịnh vô vi, không ham không muốn, lạnh lùng đường hoàng chính trực. Cha ta chưa từng khen ai, vậy mà cũng khen y một lần: “Thần tiên trong khắp bốn bể tám cõi, không có ai có sánh được với y”.

Dưới phàm trần có một thi nhân rất nổi tiếng, có lần được may mắn thấy Đông Hoa Đế Quân xuất hành, bèn làm thơ ca tụng Đông Hoa, trong đó có mấy câu giờ ta vẫn còn nhớ, thơ rằng: “Ánh mặt trời ấm áp sắp ló ra ở phương đông, chiếu trên lan can bằng gỗ dâu của ta. Chú ngựa ta cưỡi chầm chậm thả bước, Đêm đen đã sáng bạch rồi. Ngồi trên thuyền rồng, cưỡi tiếng sấm, bay vào giữa chỗ cờ mây phần phật. Thở dài một tiếng mà bay lên trời cao, âu lo quẩn quanh chẳng nỡ rời nơi ở, vầng sáng mặt trời thực làm lay động lòng người, người ngắm ngây ngất quên cả đường về (15)”.

Bài thơ này đã miêu tả Đông Hoa hết sức hoa lệ siêu thực, đại để cũng vì người trần nhìn thần tiên cũng phải cách một tầng ánh sáng, chứ thực ra tính tình Đông Hoa cũng rất hài hòa giản dị.

Khi Phượng Cửu chỉ là một tiểu hồ ly, tiên thuật chưa tinh thông, nhưng to gan lớn mật, thường thường trốn khỏi phủ động của nhị ca. Có lần bị yêu tinh đầu hổ nhìn thấy, suýt chút nữa đã chết dưới móng vuốt của con hổ tinh này, thì được Đông Hoa Đế Quân cứu mạng. Ấy chính là nguồn duyên.

Sau này Phượng Cửu dần dần trưởng thành, tình cảm với Đông Hoa càng ngày càng sâu đậm, thể hiện cũng càng rõ ràng hơn. Còn hạ mình làm tiểu tiên tỳ trong phủ của Đông Hoa Đế Quân suốt mấy trăm năm. Đông Hoa lạnh lùng, còn Phượng Cửu đau lòng, khoảng hơn chục năm trước mới bắt đầu dứt tình với Đông Hoa.

Ta rất ngạc nhiên, Đông Hoa Đế Quân uy vũ chẳng sợ, phú quý chẳng ham, cương trực không theo, nữ sắc chẳng màng này sao lại phạm phải tội gì đến nỗi bị đày xuống trần gian?

Dạ Hoa ngả người tựa vào thành giường, cười nói: “Không phải Đông Hoa Đế Quân bị Thiên Quân bắt xuống trần, mà là y chủ động đòi xuống, nói là muốn xuống trần gian thể nghiệm một phen sáu nỗi khổ của đời người (16): sinh lão bệnh tử, oán hận lại gặp nhau, yêu đương phải biệt ly, cầu mà chẳng được. Cho nên ta mới lén đi một chuyến, báo cho nàng hay tin này, khi nàng thay đổi số mệnh của Nguyên Trinh, thì cũng chớ động đến số mệnh của Đông Hoa Đế Quân”.

Dạ Hoa buông một tràng, khiến tâm tư ta lúc buồn lúc vui. Vui bởi đã bao năm qua, hiếm có được một vị tiên cao ngạo chính trực như Đông Hoa Đế Quân. Nhưng buồn bởi, có thể thuận lợi bảo vệ Nguyên Trinh trải qua kiếp số mỹ nhân này hay không còn chưa biết, mà không được can hệ đến đương sự trực tiếp trong mối nghiệt chướng đào hoa này, thực khó lắm thay.

Dường như bên ngoài đang nổi gió to, gió thổi rào rào qua song cửa, ta buồn bã đứng dậy đi đóng cửa sổ, quay trở lại bên giường, Dạ Hoa đã cởi áo khoác chui vào chăn.

Ta trợn mắt há mồm nhìn hắn.

Hắn lại đập đập lên giường, quay đầu lại hỏi ta: “Nàng ngủ bên trong hay ngủ bên ngoài?”.

Ta nhìn giường rồi lại nhìn xuống đất, thành thực đáp: “Ta nên ngủ đất thôi”.

Hắn khẽ nói: “Nếu như ta có ý muốn làm gì nàng, cho dù nàng nằm giường hay nằm đất thì kết quả vẫn vậy thôi. Nếu như nàng còn pháp lực thì liều mạng đánh với ta một trận, đại khái cũng có thể “lưỡng bại câu thương”, hầy, nhưng pháp lực của nàng chẳng phải đã bị ta đóng kín rồi sao? Thứ lỗi cho ta đoán bậy, Thiển Thiển nàng làm như vậy chính là “muốn ăn gắp bỏ cho người” đấy.

Ta lau mồ hôi đang lấm tấm trên trán, giở chăn với vẻ cực kỳ thân mật: “Dạ Hoa Quân nói gì thế, chỉ là ta sợ chiếc giường này nhỏ quá làm phiền đến ngài thôi, ha ha… mời ngài lên trước, mời ngài lên trước, ta quen nằm ngoài rồi”.

Hắn nửa cười nửa không, liếc ta một cái: “Vậy phiền nàng tắt đèn nhé”.

Vì thế, ta và Dạ Hoa kẻ nằm trong người nằm ngoài cũng ngủ ngon một đêm.

Khu nhà mà ta đang ở gọi là Tử Trúc Uyển, sở dĩ được đặt tên như vậy là vì trong ngoài khu nhà đều trồng đầy trúc. Ngày hè mát mẻ, đêm hè lại càng mát mẻ hơn. Chỉ một chiếc giường đơn chăn mỏng, ta và Dạ Hoa không chỉ cùng chung giường chung gối mà còn phải đắp cùng chăn. Ta nằm trên mép giường, xoay lưng lại với hắn, chân tay đều thò ra ngoài chăn, lại chẳng có tiên khí hộ thân, nên bị lạnh đến mức ho khụ khụ.

Dạ Hoa thở rất sâu, có lẽ đã say ngủ, trên người còn vương hương hoa đào thoang thoảng. Cảnh này tình này đúng thực gay go khôn xiết, ta trằn trọc bên mép giường, lần đầu tiên thấy đêm dài dằng dặc như thế này.

Dạ Hoa trở mình. Ta vội vàng lăn lại sát mép giường.

Sau lưng, Dạ Hoa cất tiếng hỏi: “Nàng có muốn ta ôm nàng ngủ không?”.

Ta đờ người ra trong giây lát.

Hắn không nói gì, lại trở mình, ta lại dịch qua mép giường theo phản xạ có điều kiện.

“Kịch” một tiếng, đã bị rơi xuống gầm giường rồi.

Hắn cười “phì” thành tiếng: “Nhìn xem, vừa nãy ta còn nghĩ, nếu như ta không ôm nàng, đêm nay nàng rơi khỏi giường lúc nào không biết, quả nhiên là vậy”.

Ta ủ rũ nói: “Là chiếc giường này quá nhỏ, giường quá nhỏ”.

Hắn bế phốc ta lên giường, đẩy vào bên trong: “Đúng thế, hai chúng ta nằm thẳng, ở giữa lại chỉ đủ cho ba, bốn người nằm, chiếc giường này quả thực quá nhỏ”.

Ta đành cười khan hai tiếng.

Vì nằm bên trong nên thành thế dễ công khó thủ, ta trằn trọc không yên, còn Dạ Hoa thì dựa ta sát sàn sạt, mùi hoa đào từng trận từng trận phả tới, đêm nay bản thượng thần đúng là chịu khổ hình dưới mười tám tầng địa ngục của U Minh Ty đây mà.

Ta đương sầu não muốn chết thì Dạ Hoa đột nhiên quay người nhìn thẳng vào ta.

Ta kinh ngạc nhìn hắn.

Hắn thờ ơ nói: “Nhớ ra một chuyện”.

Ta nín thở.

Hắn nói: “Thiển Thiển, nàng có biết Tư Âm Thần Quân không?”.

Ta ngẩn ra, kéo chăn lên: “Hầy, đệ tử thứ mười bảy của thượng thần Mặc Uyên núi Côn Luân, có nghe nói qua, nhưng chưa có duyên hội ngộ. Bảy vạn năm trước sau loạn Quỷ tộc, nghe nói đã cùng thượng thần Mặc Uyên quy ẩn”.

Dạ Hoa thở dài: “Ta cứ ngỡ nàng biết nhiều hơn thế”.

Ta ngáp một cái: “Chẳng lẽ có ẩn tình chi?”.

Hắn đáp: “Loạn Quỷ tộc diễn ra, khi đó Thiên Quân vẫn còn là thái tử, khi nhỏ ta thường nghe Thiên Quân nói, ta có thần thái giống với thượng thần Mặc Uyên kia”.

Ta cũng thầm tán thành, gật đầu một cái, không chỉ là thần thái giống, mà hình dáng cũng giống.

Hắn tiếp tục kể: “Tuy trong sử sách không ghi chép, nhưng theo lời của Thiên Quân, trong đại loạn Quỷ tộc năm đó, thượng thần Mặc Uyên đã tan thành tro bụi, mãi mãi không thể cùng thượng thần Tư Âm quy ẩn. Khi ấy, lão Thiên Quân sai mười tám thượng tiên đến núi Côn Luân lo liệu hậu sự cho thượng thần Mặc Uyên, nhưng bị Tư Âm Thần Quân cầm quạt thổi bay đi mất, mà sau đó đại đệ tử núi Côn Luân có bẩm báo lên trên, rằng Tư Âm Thần Quân cùng tiên thể của thượng thần Mặc Uyên biến mất”.

Ta làm bộ kinh ngạc, kêu lên: “Hóa ra là vậy”.

Mà trong lòng đau đớn trùng trùng. Hắn gật gật đầu: “Bảy vạn năm qua chưa từng tìm thấy tung tích của Tư Âm Thần Quân, gần đây, nghe nói Quỷ Quân Ly Kính của Quỷ tộc lại sai thuộc hạ đi tìm vị thần quân này. Hôm qua một vị Khôi tinh dưới trướng dâng lên ta một bức họa Tư Âm Thần Quân, nghe nói do chính tay Quỷ Quân Ly Kính vẽ”.

Tim ta đập thình thịch.

Quả nhiên hắn nói: “Thiển Thiển, vừa mới nhìn, ta còn tưởng đó là nàng giả nam”.

Ta cười ha ha: “Hóa ra là vậy. Nếu thế thì trên đời này có hai người giống ta như tạc. Tuy vị Tư Âm Thần Quân này ta không quen, nhưng vương hậu mà Quỷ Quân Ly Kính cưới năm đó cũng có chút máu mủ tình thân với nhà họ Bạch ta. Vương hậu của hắn chính là tiểu muội muội của đại tẩu ta, ngươi có thể gặp xem, người đó đúng là giống hệt ta”.

Hắn trầm ngâm giây lát, chậm rãi nói: “Ô? Hóa ra là vậy, phải gặp mới được”.

Ta “ừ” một tiếng.

Hắn cười: “Hình như ta nghe thấy nàng đang nghiến răng? Muội muội của đại tẩu nàng dù có giống nàng, nhưng dứt khoát cũng chẳng thế có được thần thái phong vận của nàng, đúng không?”.

Ta ngẩng đầu nhìn đình màn, ngáp một cái, không đáp lại lời hắn. Năm đó, là ta không có được thần thái phong vận của nàng ta.

Dạ Hoa thiếp đi rất nhanh, ước chừng chỉ bằng khoảng thời gian nhấp nửa chén trà đã không thấy tiếng người. Hắn được dạy dỗ rất tử tế về phép tắc khi ngủ, không ngáy cũng không nghiến răng, chân tay cũng không quờ quạng. Ta khổ sở chống chọi được hai canh giờ, cuối cùng sau nửa đêm cũng mơ màng ngủ. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, đột nhiên mông lung nhớ ra một chuyện gì đó rất quan trọng, đến khi nghĩ kỹ lại, thì thần trí đã không được tỉnh táo nữa rồi.

Đêm đó, dường như có đôi bàn tay, lành lạnh, dịu dàng ve vuốt mắt ta.

Chú thích:

14. Cung nữ, phi tần được vua chúa gọi đến giao hợp thì gọi là lâm hạnh (ND).

15. Trích trong bài Đông Quân, Sở từ, do Khuất Nguyên sáng tác. Nguyên tác: Thôn tương xuất hề đông phương, Chiếu ngô hạm hề Phù Tang. Phủ dư tư hề an khu, Dạ phách phách hề ký minh. Hạ long chu hề thừa lôi, tải vân kỳ hề ủy xà. Trường thái tức hề tương thượng, tâm đễ hồi hề cố hoài. Khương thanh sắc hề Ngu nhân, quan giả chiêm hề vong quy (ND).

16. Sáu nỗi khổ của đời người, tức “lục khổ” theo quan niệm Khổ đế của Phật giáo: Sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt được sở nguyện của mình đều là khổ (ND).

Chương 10: Cháu gái Phượng Cửu của ta

Dạ Hoa thực quá quắt.

Đây không phải là Thanh Khâu, đâu có lý gì mà ta phải đi dạo cùng hắn, ngủ nướng trên giường thêm một canh giờ thực hợp tình hợp lý, vậy mà hắn lại nằng nặc lôi ta dậy bằng được.

Xiêm y trên người hôm qua đã nhăn nhúm không ra thể thống gì, ta ngại thay, bèn dựa một bên, rót chén trà lạnh, đưa lên miệng rồi ngáp dài một cái.

Dạ Hoa có vẻ rất phấn chấn, mặc áo khoác, thắt đai cẩn thận, mới ngồi trước gương đồng, bình thản nói: “Được rồi, nàng qua đây chải đầu búi tóc cho ta”.

Ta ngẩn ra: “Ngươi đang sai ta?”.

Hắn cầm lấy chiếc lược gỗ: “Nghe Mê Cốc nói, nàng búi tóc rất đẹp”.

Ta búi tóc rất đẹp đúng là không sai, trong động Hồ Ly không có nữ tỳ phục vụ, tứ ca lại không tự chải đầu bao giờ, cho nên đều là nhờ ta búi tóc. Ngoài những kiểu cách bình thường ra, nếu tứ ca đến rừng đào mười dặm tìm Chiết Nhan, thì ta còn biết chải một số kiểu đầu mới, mỗi lần Chiết Nhan nhìn thấy đều tỏ ra thích thú. Nhưng khi Dạ Hoa ở Thanh Khâu, hắn chưa bao giờ búi tóc, mà chỉ lấy một dải lụa, buộc túm đằng sau thật gọn, nhìn trông rất dịu dàng.

Hắn cười tươi rói, đưa chiếc lược gỗ cho ta: “Hôm nay ta phải tham kiến Thiên Quân, không thể không chỉnh tề được”.

Dạ Hoa có mái tóc rất đẹp, mềm mại, trơn bóng, khi chải chiếc lược gỗ trôi tuột xuống dưới, rất tiết kiệm công sức. Nhưng khi búi thành búi trên đỉnh đầu thì lại rất khó.

Trên bàn trang điểm có một cây trâm ngọc, một chiếc mũ ngọc. Cầm cây trâm gài tóc lại, sau đó đội mũ ngọc lên trên, ô, lâu không tập luyện mà ngón nghề này vẫn chưa đến nỗi vụng.

Trong gương đồng, Dạ Hoa đương mỉm cười nhìn ta.

Ta nhìn trái ngó phải, cảm thấy kiểu tóc này tôn được vẻ khôi ngô tuấn tú, thần thái uy nghiêm của hắn, không cần phải sửa thêm gì nữa, bèn hài lòng để chiếc lược xuống bàn trang điểm.

Trong gương đồng, Dạ Hoa vẫn mỉm cười. Bàn tay phải cầm chiếc lược của ta đã bị hắn giữ chặt.

Hắn khẽ giọng nói: “Trước đây nàng…”. Đôi mắt ánh lên một điều gì đó, lãnh đạm, tựa như nước lặng đổi dòng.

Ôi, không phải hôm nay hắn, hắn nổi cơn điên đấy chứ?

Tư thế “kỹ thuật cao” ta cúi lưng ngang người, giữ nguyên tay trái trên vai hắn, tay phải bị hắn giữ chặt trên bàn trang điểm này, thật khổ sở để chuẩn bị lắng nghe chuyện trước kia của hắn.

Hắn chầm chậm thả tay ta ra, nói đến “trước đây” rồi im bặt, chỉ cười cười, rút một chuỗi ngọc từ trong tay áo ra đeo lên tay ta, dáng vẻ hơi ủy mị.

Ta đương nhiên biết đó là chuỗi ngọc gặp dữ hóa lành.

Trước gương đồng, hắn từ từ đứng dậy, gượng cười: “Nàng hãy đeo chuỗi ngọc này vào, bây giờ nàng chẳng khác một người phàm trần, tuy sẽ không đến nỗi gặp phải đại họa gì, nhưng cũng khó tránh được bất trắc”.

Ta nhìn dáng vẻ nửa mừng nửa lo của hắn hôm nay, dường như có một điều gì đó khác với ngày thường, không đáp lại, mà nhận lời hắn.

Hắn gật đầu, đưa tay khẽ vuốt mặt ta, nói: “Vậy ta về Thiên Cung đây”. Đoạn lại nói, “Đêm qua bận chuyện quan trọng, quên không nói với nàng, đợi đến ngày mùng một tháng sáu, khi kiếp mệnh tới, nàng cố gắng hết sức ngăn Nguyên Trinh lại, sai một người ngầm đẩy Đông Hoa Đế Quân xuống nước, nếu khi ấy Đông Hoa Đế Quân cứu được cô gái ngã xuống nước ấy, thì Nguyên Trinh được giải thoát, mà cũng không cản trở Đông Hoa Đế Quân thể nghiệm nỗi khổ của nhân sinh, như thế thì mọi người đều vui vẻ”.

Nói xong quay người mất dấu luôn.

Ta nghĩ đến câu nói đầu tiên và tự hỏi rốt cuộc đêm qua hắn bận chuyện trọng đại gì, nhưng lại chẳng nhớ ra điều gì hợp lý, nên lại ngẫm nghĩ về mấy câu sau cùng của hắn.

Ngoan nào, đây đúng là cách hay. Vẫn là người ngoài sáng suốt, ta nghĩ tới nghĩ lui mấy ngày nay, cuối cùng lại thành hồ đồ mất rồi.

Giải quyết xong chuyện đau đầu này, ta cảm giác như đã trút được tảng đá đè trên người nửa tháng nay, toàn thân nhẹ nhõm phơi phới.

Cho nên ta cũng thảnh thơi ngồi xuống uống trà.

Trà mới uống được nửa chén, thì bỗng nghĩ tới chuyện mà ta nhớ ra trong lúc mông lung đêm qua.

Một chuyện cực kỳ chết tiệt.

Mê Cốc từng nói Phượng Cửu xuống phàm trần báo ơn, khi ấy chỉ nói là nó nhận một mối ơn tình của một người phàm nào đó, phải đi đền đáp một phen, nên ta cũng không để tâm. Bây giờ ngẫm lại, Phượng Cửu đã hơn ba nghìn tuổi, nhưng tổng cộng chỉ nhận một đại ân của Đông Hoa. Khi làm thần tiên, Đông Hoa cao minh hơn Phượng Cửu biết bao nhiêu, đương nhiên nó muốn báo ơn cũng không báo nổi. Bây giờ nó lại đến phàm trần báo ơn, chẳng phải là đi tìm chuyển kiếp của Đông Hoa hay sao? Khó khăn lắm nó mới có thể rũ sạch mầm duyên với Đông Hoa, hai người họ sắp lại trùng phùng trong mấy ngày, mầm duyên đã đứt nay lại sắp nẩy lại rồi… Nhị ca, nhị tẩu của ta mà biết thì sẽ ra sao.

Nghĩ tới đây, ta vội vàng bật dậy thay xiêm y chạy ra sân. Lần này phải chủ động đi tìm tiểu đệ Nguyên Trinh mỗi lần gặp làm giảm tu vi ba năm của ta, thăm dò y xem nửa năm trước có một thiếu nữ giữa trán có một cái bớt hoa như lông chim phượng tiến cung hay không.

Mẹ của Phượng Cửu thuộc tộc Hồ ly đỏ, năm đó mẹ nó thành thân với nhị ca ta, ta đồ rằng họ sẽ sinh ra một con hồ ly vằn đỏ vằn trắng. Nhưng chẳng ngờ mẹ Phượng Cửu hoài thai ba năm, cuối cùng sinh hạ một tiểu hồ ly toàn thân có màu đỏ tươi như máu bồ câu, chỉ có khoang tai và bốn chân là màu trắng, đáng yêu vô cùng. Đến khi tiểu hồ ly này đầy tuổi hóa thành hình người, giữa trán có một cái bớt hoa như lông chim phượng. Tuy cái bớt này nhìn rất đẹp, nhưng khi biến hình lại rất phiền phức, chỉ cần là biến thành hình người, cho dù hình dáng ra sao đều có cái bớt này. Nhị ca ta lười nhác, vì có cái bớt hình lông phượng, vì tiểu hồ ly này sinh vào tháng chín, nên khi đầy tuổi đã đặt cho nó cái tên không nhã cũng không tục là Phượng Cửu, thêm họ Bạch nhà ta vào, đầy đủ là Bạch Phượng Cửu. Đám tiểu tiên của Thanh Khâu đều gọi ta là cô cô, sở dĩ là gọi theo Phượng Cửu.

Tiểu đệ Nguyên Trinh đúng là rất thiêng, ta vừa mới chạy ra cửa thì gặp y cầm hai cuốn kinh văn bước tới, nhìn thấy ta, hai mắt y sáng lên, cung kính gọi một tiếng sư phụ.

Lúc trước đã nói, tiểu đệ Nguyên Trinh này có tính hỏi cặn kẽ ngọn nguồn, không thể khinh suất hỏi y chuyện Phượng Cửu, ta đắn đo trong lòng một hồi, mới kéo hắn đến ngồi lên một chiếc ghế đá.

Nguyên Trinh hắng giọng, nói: “Cổ sư phụ sao thế, nhìn giống như, giống như…”.

Ta kinh hãi sờ lên cổ mình, nhưng không cảm thấy gì khác lạ.

Y lấy một chiếc gương đồng từ trong tay áo ra, ta cầm lấy soi thử, trên cổ có vết đỏ giống như muỗi cắn.

Con muỗi này to gan thật, dám hút máu bản thượng thần ta.

Nhưng để hút thành công, nó phải dùng đến một vạn tám nghìn năm, đến lúc tu thành muỗi tiên cũng không chừng. Hầy, nó đúng là một con muỗi có phúc.

Ta gật gật đầu than thở: “Đây là một vết đỏ nhỏ không đáng nhìn, nhưng con lại thấy, có người từng nói con có tấm lòng lương thiện, đến con kiến cũng chẳng nỡ giẫm, xem ra không sai”.

Nguyên Trinh đỏ mặt nhìn ta: “A?”.

Ta tiếp lời: “Con nên biết rằng, việc không thể giẫm kiến khi đi đường, không chỉ cần tới một tấm lòng lương thiện, mà còn cần tinh tế. Tấm lòng lương thiện và tinh tế thực ra là một”.

Nguyên Trinh đứng bật dậy, làm dáng vẻ đang thụ giáo.

Ta sờ cằm rồi giảng giải rất sâu xa: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn tượng. Vạn tượng đều từ không mà có, từ không sinh ra có, chính là sự linh hoạt tinh tế và tỉ mỉ. Học đạo rất cần tinh tế, tỉ mỉ. Hôm nay vi phụ muốn kiểm tra trình độ tinh tế của con (17)”.

Nguyên Trinh nghiêm trang đáp: “Xin sư phụ chỉ dạy”.

Ta thong thả nói: “Con sống trong đạo quán đến năm mười sáu tuổi, sau năm mười sáu tuổi con sống trong hoàng cung, vi sư cũng không muốn làm khó con, chỉ hỏi con có hai câu, một câu về đạo quán, một câu về hoàng cung”.

Dường như Nguyên Trinh dỏng hết tai lên.

Ta trầm ngâm nói: “Trong tòa đạo quán con ở thuở nhỏ, có một đạo cô mặc đồ trắng, vị đạo cô này thường dùng một cây phất trần, ta muốn hỏi con rằng cây phất trần này dùng gỗ gì làm thành?”.

Y nghĩ mãi mà không ra.

Ta lại hỏi: “Không cần trả lời vội, còn một câu nữa, trong vương cung của con hiện có một người, trên trán có một cái bớt hình lông phượng, ta muốn hỏi con xem, nàng ta hiện ở đâu, giữ chức gì, khuê danh ra sao?”.

Y trầm tư lúc lâu, rồi mới đáp: “Nguyên Trinh kém hiểu biết, khi ở trong đạo quán, chưa từng thấy vị đạo cô mặc đồ trắng mà sư phụ nhắc tới, trong đạo quán cũng có một đạo cô thi thoảng mặc đồ trắng, nhưng không phải lúc nào cũng mặc đồ trắng. Còn người có cái bớt hình lông phượng ở giữa trán thì Nguyên Trinh có biết, đó là Trần quý nhân sống trong Hạm Đạm viện (Hạm Đạm là hoa sen). Trần quý nhân này trước đây trên trán không có vết bớt hình lông phượng, tháng chạp năm ngoái ngã xuống hồ sen bệnh một trận, thuốc thang mà không thuyên giảm, cứ ngỡ là hương tan ngọc vỡ, sau này bỗng khỏe lại, sau đó trên trán cũng xuất hiện vết bớt hình lông phượng. Một chân nhân do mấy phi tần mời đến phán rằng vết bớt đó là do yêu khí làm nên. Phụ hoàng tuy không tin, nhưng từ đó cũng lạnh nhạt với Trần quý nhân, còn khuê danh của Trần quý nhân, quả thực đệ tử cũng không rõ”.

Hầy, quả nhiên Phượng Cửu đã chạy theo Đông Hoa rồi.

Nhưng tên chân nhân lừa ăn gạt uống đó lại coi vết bớt hoa trên trán một nữ thần thành yêu khí, hắn thật có bản lĩnh.

Nguyên Trinh nhìn ta lo sợ

Ta gật đầu nói: “Ừm, tinh tế được như vậy cũng là hiếm có, nhưng tu hành rèn luyện đạo pháp, con cần tinh tế, tỉ mỉ hơn nữa. Thôi, con về đi, hôm nay tạm thời con không cần đọc kinh văn, nên suy ngẫm về thái độ học đạo của mình trước đã”.

Nguyên Trinh cúi đầu bước đi.

Nhìn bóng dáng lẻ loi cô đơn của y, lòng bản thượng thần trỗi dậy thương xót.

Tiểu đệ Nguyên Trinh, thực ra đệ cũng quá tinh tế rồi, nếu đệ tinh tế hơn nữa thì thành Bát Công (18) mất.

Bóng Nguyên Trinh dần khuất, ta kêu bừa một tỳ nữ dẫn ta tới Hạm Đạm viện của Trần quý nhân.

Ân tình mà Phượng Cửu nợ Đông Hoa, hãy để nước Thanh Khâu ta nhận, ngày khác sẽ trả, để kẻ làm cô cô là ta và các thúc thúc của nó tới trả, hôm nay phải khuyên nhủ sao để Phượng Cửu quay về đây.

Có lẽ cung ta ở có phận vị rất cao nên đi vào hậu cung của hoàng đế cũng rất thuận lợi.

Vì đi vội nên ta không chuẩn bị thiếp bái kiến, đành chờ một thị tỳ thông báo. Không lâu sau, thị nữ này dẫn bọn ta đi vào. Cung viện này tuy không lớn lắm nhưng bài trí khá đẹp, non nước hoa cỏ chim thú đủ cả, ngâm thơ thưởng nguyệt đều hợp tình hợp cảnh.

Trong chiếc đình bên hồ có một thiếu phụ có gương mặt tròn trĩnh, đang an nhàn cho cá ăn, dáng vẻ rất bình thường, giữa trán có một vết bớt hình lông phượng, đấy chính là xác phàm mà Phượng Cửu mượn thân. Ta thở dài một cái, lúc ở Thanh Khâu, đời đời con cháu nhà họ Bạch ta đều chỉ có một nữ đinh, Phượng Cửu nhà ta phong độ phi phàm biết bao. Mà nay vì Đông Hoa, nó phải chạy đến chỗ lạnh lẽo hiu quạnh này nuôi cá, khiến người ta phải sụt sùi cảm thán.

Nghe thấy tiếng thở dài của ta, Phượng Cửu đang cho cá ăn ngoảnh đầu lại.

Ta buồn bã nói: “Tiểu Cửu, cô cô tới thăm con đây”.

Một mình nó phiêu dạt phàm trần hơn nửa năm, hẳn cô đơn quạnh quẽ khôn cùng, nghe thấy tiếng ta gọi, không kìm nổi bi thương, lập tức nhào vào lòng ta.

Ta dang rộng đôi tay.

Nó “òa” lên nức nở, nhào tới ôm chặt thị nữ dẫn chúng ta vào đang đứng sau lưng ta.

Hai cánh tay ta không biết nên thu về hay tiếp tục dang ra.

Khuôn mặt nó tràn đầy vẻ kinh ngạc, sợ hãi, vừa nức nở vừa lắc đầu nguầy nguậy: “Không – cô cô – cô cô đừng dẫn con đi – con yêu chàng – con không thể thiếu chàng – không ai có thể chia lìa chúng con – không ai có thể”.

Ta bị trận khóc của nó dọa cho phải lùi về sau một bước.

Đây chắc không phải là Hồng hồ ly nhà ta đâu.

Tuy Phượng Cửu chỉ là một tiểu nha đầu, nhưng chưa bao giờ nó gào khóc như vậy, mà nó rất can đảm. Cho dù tình cảm với Đông Hoa sâu sắc khôn cùng, luôn luôn đau lòng, nhưng cũng chưa bao giờ để lộ cho người khác hay, đại để chỉ đến chỗ Chiết Nhan uống rượu mà thôi.

Nhị ca thấy nó vẫn còn nhỏ mà lúc nào cũng say túy lúy, bèn lôi nó về đánh cho một, hai trận, đánh đến mức gần như tắt thở, bọn ta nhìn thấy mà đau lòng, nhưng nó vẫn cắn răng đến mức bật cả máu cũng không khóc. Ta và tứ ca đều phải sợ tính cách cố chấp này của nó, chọc giận nhị ca, thế là thân vẫn nằm trên giường mà còn bị thêm trận đòn nữa, bọn ta phải đón nó về động Hồ Ly để dưỡng thương.

Ta khuyên giải nó: “Rượu cũng không phải là thứ tốt đẹp gì…” thì bị tứ ca trừng mắt lườm, đành đổi thành: “Rượu do Chiết Nhan cất đương nhiên là thứ tốt, nhưng cả ngày con lấy rượu giải sầu thì thực không phải với tài nghệ của Chiết Nhan. Con phải biết rằng rượu chỉ giúp con giải thoát được một lúc, khi con tỉnh lại, những chuyện khiến con phiền não sẽ không vì con uống rượu mà được giải quyết”. Nghe xong lời khuyên này của ta, Phượng Cửu cuối cùng khóc òa lên: “Không phải con mượn rượu tiêu sầu, đương nhiên con biết uống rượu cũng không hết phiền não chỉ là nếu con không uống thì sẽ buồn đến mức phát khóc lên, con không thể khóc trước mặt Đông Hoa, cũng không thể khóc trước mặt người khác được”.

Rốt cuộc Phượng Cửu cũng chỉ là một nha đầu, ta và tứ ca nghe xong lòng bỗng nặng trĩu. Đó cũng là lần duy nhất ta nhìn thấy Phượng Cửu rơi nước mắt.

Bây giờ đối diện với con người đang ôm lấy thị nữ khóc kinh thiên động địa kia, ta chỉ biết im lặng lắc đầu.

Không muốn thấy ta đang lắc đầu, nó càng khóc dữ dội hơn: “Cô – cô – xin cô cô – xin cô cô nhón tay làm phúc – tác thành cho chúng con đi – kiếp sau con xin làm trâu làm ngựa cho cô cô – xin cô cô tác thành cho chúng con đi”.

Nàng thị nữ bị nó ôm chặt cứng đang run như lá cây trước gió.

Khóe miệng ta khẽ nhếch lên.

Nó bỗng quỳ phắt xuống, túm chặt vạt áo của mình. Thị nữ run bần bật như lá cây trước gió kia lập tức nhảy dựng lên, vừa sải chân chạy, vừa hét lên: “Chủ nhân sắp nôn ra máu rồi, ngươi ngươi, mau vời hoàng thượng; còn ngươi ngươi, mau đi lấy khăn; ngươi ngươi mau đi lấy chậu rửa mặt…”.

Ta ngậm miệng lại, hắng giọng: “Hầy con cứ từ từ nôn, đừng nôn vội quá, kẻo sặc đấy, cô cô về trước đây, về trước đây”.

Nói đoạn liền kéo thị nữ đi cùng ta tới đang đứng như trời trồng ở bên cạnh, vội vàng cáo từ.

Ta đắn đo suy nghĩ suốt dọc đường từ Hạm Đạm viện đến Tử Trúc viện, tính cách của Trần quý nhân vừa nãy không có điểm nào giống với Phượng Cửu, nhưng rõ ràng giữa trán cũng có vết bớt hình lông phượng, cũng vừa nhìn một cái là nhận ra ta là cô cô của nó. Nghe nói thần tiên như Phượng Cửu, cho dù có trú ngụ trong thân xác người phàm, thì cũng không nên bị những tâm tư của người phàm này chi phối, lần này nó lại có dáng vẻ ấy, chẳng nhẽ… ta bóp trán trầm ngâm suy ngẫm giây lát… chẳng nhẽ nó đang sử dụng… phép cấm của Thanh Khâu – lưỡng sinh chú sao?

Nói đến phép lưỡng sinh chú này, thực ra cũng không phải là phép thuật làm thương tổn thiên lý gì, chẳng qua chỉ giúp người ta thay đổi tính tình trong một giờ khắc nhất định nào đó mà thôi. Ví dụ như ở Thanh Khâu, một số tiểu tiên trong lúc họp chợ trước đây cực kỳ thích sử dụng thần chú này với bản thân. Như thế, cho gặp phải người khách khó chèo kéo đến đâu, đều có thể trưng ra khuôn mặt chân thành từ tâm can, cười rạng ngời như hoa cúc, không cần phải vài câu không xong liền ra tay đánh đuổi. Nhưng rõ ràng đây không phải là phép thuật thành thực, vi phạm tiên đức, sau này ta cùng tứ ca bàn tính, cấm luôn pháp thuật này.

Nếu như lần này Phượng Cửu thực sự niệm lưỡng sinh chú, ôi, tại sao nó phải niệm thần chú này chứ? Ta nghĩ mãi mà không hiểu nổi. Buổi chiều ta đánh xong một giấc, suy tính quyết định đêm phải đến Hạm Đạm viện một chuyến nữa.

Nhưng chẳng ngờ Phượng Cửu lại rất hiểu lòng người, không cần ta qua, mà nó lại trước.

Lúc này, ta đang ngồi trên một cái đài cao, một mình dùng bữa tối ở hậu viện. Trăng sáng sao thưa vằng vặc giữa nền trời đêm cũng có vài phần thú vị. Khi đang ăn rất vui vẻ, sau lưng nó đeo một mớ củi kinh, bỗng nhảy từ trên tường xuống, nhảy đúng lên bàn ăn của ta. Bát đũa trên bàn xô vào nhau loảng xoảng, ta vội vàng bưng chén trà né sang một bên. Phượng Cửu đau khổ bò từ trên bàn xuống, mấy thanh củi kinh (19) còng queo trên lưng dựng đứng lên, bốn chi phủ phục hành lễ trước ta: “Cô cô, đứa cháu bất tài Phượng Cửu xin cô cô trách phạt”.

Ta lau mấy giọt dầu lem trên tay áo, nhìn thấy nó giờ đây đã hiện nguyên hình, không dùng đến xác phàm của Trần quý nhân thì thấy thuận mắt hơn nhiều, bèn nói: “Quả nhiên con dùng lưỡng sinh chú?”.

Mặt nó đỏ bừng bừng, miệng khen rối rít: “Cô cô anh minh, cô cô quả thực rất anh minh”.

Ta coi lời khen ngợi của nó là chuyện đương nhiên, hồi trước ta cũng có nhiều lúc đồ hồ, nhưng sống đến bây giờ, cũng nhiều khi ta rất sáng suốt.

Vốn muốn dìu nó đứng dậy, nhưng nhìn thấy dầu mỡ bám đầy trên người nó đang sáng bóng dưới ánh trăng, thì không nỡ, đành khoát tay bảo nó đứng dậy, ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh.

Ta nâng chén trà may mắn thoát nạn trong tay lên nhấp một ngụm, nhíu mày hỏi nó: “Con đã muốn đến báo ơn của Đông Hoa, sao phải vi phạm lệnh cấm sử dụng lưỡng sinh chú?”.

Khóe miệng Phượng Cửu nhếch lên thành vòng tròn: “Sao cô cô biết con đến báo ơn Đông Hoa? Ti Mệnh Tinh Quân nói Đông Hoa Đế Quân đầu thai là chuyện cực kỳ cơ mật, bốn bể tám cõi không có ai biết hết”.

Ta thong thả uống trà, làm ra vẻ cao thâm khó dò, không nói lời nào.

Nó bỗng run lập cập: “Cô cô, người, chẳng lẽ người theo dõi nhất cử nhất động của Đông Hoa Đế Quân, chẳng nhẽ người đã ưng chàng?” rồi lại làm bộ nắm chặt tay: “Phải rồi, Đông Hoa Đế Quân đúng là tốt hơn so với Bắc Hải Thủy Quân, pháp thuật cũng cao minh hơn một chút, bối phận cũng tương xứng với cô cô, nhưng cô cô phải nhớ rằng Đông Hoa Đế Quân là vị thần tiên từ đá tảng mà thành, cô cô ưng chàng, con đường phía trước cũng thảm lắm thay!”.

Ta ngẩng đầu nhìn trăng sáng treo trên trời cao, thờ ơ đáp: “Xem ra, tứ ca cũng sắp từ Tây Sơn trở về, ban đầu lưỡng sinh chú là do huynh ấy đề xuất cấm. Ta còn nhớ khi trước ở Thanh Khâu có một tiểu tiên hồ đồ, cho rằng lệnh cấm chỉ là nói chơi thôi, nên ngang nhiên dùng đôi, ba lần, cuối cùng hình như đã bị tứ ca trục xuất khỏi Thanh Khâu”.

Phượng Cửu ngay tức khắc nhảy dựng lên khỏi ghế đá, xốc lại bó củi kinh sau lưng, chắp hai tay, cung kính nói: “Khi điệt nữ (nghĩa là cháu gái) còn làm thị tỳ ở phủ Đông Hoa Đế Quân đã từng giúp Ti Mệnh Tinh Quân. Ti Mệnh Tinh Quân trả ơn tình của điệt nữ, đợi khi Đông Hoa Đế Quân đầu thai chuyển thế, mới sai một tiên đồng thông báo cho điệt nữ, coi như trả món ân tình đó. Điệt nữ bất tài, năm xưa nhận đại ơn của Đông Hoa Đế Quân, vậy mà chậm trễ mãi không báo đáp được, nay được biết Đế Quân đầu thai chuyển kiếp, bèn nhân lúc chàng làm người phàm để trả ơn. Năm Đế Quân bốn mươi tuổi, điệt nữ đã từng vào trong giấc mộng của chàng, hỏi chàng rằng đời này có nguyện ước nào chưa thành, tình si nào chưa đạt không?”.

Ta vội ngắt lời: “Tên Đông Hoa làm từ đá tảng ấy nói cái gì? Không phải hắn nói phú quý giang sơn cũng chẳng màng, chỉ mong cầu được người một lòng một dạ với mình đấy chứ?”.

Phượng Cửu kinh ngạc vô cùng: “Cô cô, sao người lại anh minh như thế?”.

Ngụm trà trong miệng ta phun bắn ra ngoài, Đông Hoa của kiếp này, hắn cũng, cũng tầm thường thế sao?

Phượng Cửu lau trà bắn đầy mặt, cười cười tiếp tục nói: “Có lẽ lúc ở phàm trần, thuở nhỏ Đế Quân đã ít nhiều chịu sự nóng lạnh của nhân tình, nên mới xin điệt nữ ban cho một người một lòng một dạ yêu chàng, không rời không xa”.

Ta trầm ngâm nói: “Cho nên con mới tự mình tiến thân?”.

Phượng Cửu gật đầu rồi lại lắc đầu: “Thực ra cũng không thể coi là tự mình tiến thân. Ti Mệnh Tinh Quân và điệt nữ đã cùng xem qua số mệnh kiếp này của Đông Hoa Đế Quân. Kiếp này Đế Quân không thể gặp được người con gái một lòng với chàng, nhưng trong ngày lễ ra đời của Hộ pháp Vi Đà mùng một tháng sáu năm chàng ba mươi bảy tuổi, sẽ có thể gặp được người con gái mà chàng hết mực yêu thương, đáng tiếc là tình yêu của cô gái này lại dành cho con trai của chàng là thái tử Nguyên Trinh. Lần này điệt nữ đến là để báo ơn của Đế Quân, nhưng cũng không thể thay đổi được số mệnh của chàng. May mắn thay nửa năm trước một quý nhân của chàng dương xuân đã tận, điệt nữ nghĩ trước lo sau, tạm thời mượn thân xác của vị quý nhân này, muốn đem hết tấm lòng yêu mến, trước khi Đế Quân phải chịu tình kiếp của số mệnh, tạm thời làm thỏa mong ước có một người một lòng một dạ của chàng. Đến khi người con gái mà chàng yêu mến xuất hiện, điệt nữ coi như đã thành công cáo lui, như thế, cũng là thay đổi được số mệnh của chàng”.

Ta cúi đầu than: “Khi xưa con bị hắn giày vò còn chưa đủ đau lòng sao? Mà bây giờ còn tìm người một lòng một dạ cho hắn. Lúc làm thần tiên nếu hắn có ước nguyện này, con si tình với hắn biết bao năm như thế thì hắn phải biết từ lâu rồi mới phải”.

Phượng Cửu ủ dột, đáp: “Cô cô dạy rất phải. Điệt nữ vốn cho rằng đây là chuyện rất hay. Nhưng si tình với Đế Quân suốt hai nghìn năm, lần này tuy đoạn tình, nhưng sớm đã tìm lại cảm giác si mê chàng như thuở trước, theo lý mà nói thì cũng chẳng khó. Nhưng sớm biết chân tình không phải nói thể hiện là thể hiện được liền, con nung nấu bao ngày, đợi mượn được thân xác của Trần quý nhân đến gặp Đế Quân, nhưng thực sự chẳng tìm nổi chút cảm giác yêu thương nào, đến một hai câu nói cũng không nói nổi, điệt nữ cảm thấy rất có lỗi với Đế Quân, vì thế cảm thấy rầu rĩ vô cùng”.

Ta an ủi nó: “Tro tàn đâu dễ nhen lửa, tình xưa cũng khó thắp, con đâu cần đau lòng như thế”.

Nó nghiêm nghị đáp: “Cuối cùng điệt nữ cũng đã hạ phàm, lại nhận thêm một món nợ ân tình nữa của minh chủ U Minh Ty, giữ được xác phàm của Trần quý nhân, nếu buông tay như thế, thì đã không báo được ơn, còn thiệt thòi rất nhiều, điệt nữ khổ tâm suy nghĩ hai ngày”, nó ngừng lại rồi nói tiếp, “điệt nữ chỉ còn cách niệm lưỡng sinh chú trên người mình. Bị pháp thuật trói buộc, ban ngày sẽ phải theo tính cách của Trần quý nhân làm điệu bộ yêu thương tôn sùng Đế Quân, khi mặt trời xuống núi mới được giải thoát. Lại không nghĩ rằng tính tình của Trần quý nhân kiếp trước là như vậy, mỗi khi đêm về, nhớ lại hình dáng ban ngày, điệt nữ đều cảm thấy khổ sở vô cùng, thực là mất mặt quá đi thôi”.

Ta nói ngược với lòng mình: “Con không cần áy náy làm gì, cũng không có gì là mất mặt cả”. Đột nhiên nhớ ra chuyện quan trọng, ta bèn hỏi nó, “Từ lúc con hóa thân thành Trần quý nhân để báo ơn đến nay, có cho Đông Hoa lợi dụng tý nào không?”.

Nó ngẩn người ra, lắc đầu nguầy nguậy: “Trần quý nhân trước đây cũng không được sủng ái. Con mượn thân xác nàng ta, trên trán lại nổi vết bớt, bị một tên chân nhân thối phán là yêu hoa, Đế Quân tuy không đày con vào lãnh cung, nhưng cũng chẳng thèm tới Hạm Đạm viện”.

Ta kêu lên kinh ngạc: “Vậy mỗi ngày con diễn bộ dạng yêu hắn tới mức chết đi sống lại như thế để làm gì?”.

Nó trịnh trọng thưa: “Cô cô nên nhớ chân thành yêu một người, là một chuyện cần phải hết lòng tận tụy, không thể trước mặt thì tỏ ra yêu, sau lưng lại tỏ ra không yêu”.

Ta đành ngáp một cái.

Phượng Cửu giờ đây thực khiến người ta an lòng. Nếu nó có thể báo ơn một cách thuận lợi, không cần ta và các thúc thúc của nó lo lắng, thì đâu có gì là không tốt chứ. Ta nghĩ vậy, đang định dắt Phượng Cửu còn đang dầu mỡ chảy tong tong trên mình đi về, tự tay rửa mặt mũi cho nó đi ngủ, thì đất bằng nổi cơn gió lành ào tới.

Tử Trúc Uyển xem ra đúng là đất lành.

Đêm nay, xem ra là thời khắc đẹp.

Chiết Nhan hiện hình giữa không trung, thần sắc hơi mỏi mệt. Trời cao đất rộng, cảnh tượng đêm nay thật hiếm thấy. Không nhẽ lão lại làm gì khiến tứ ca nổi giận sao?

Ta vẫn lặng im, nhấp ngụm trà.

Quả nhiên lão ta lên tiếng: “Nha đầu, mấy hôm nay Chân Chân có tới tìm người không?”.

Giọng nói ấy khiến cho Phượng Cửu run lên bần bật, đã bao năm rồi nha đầu này vẫn còn thói quen ấy, thật là đáng thương.

Ta lắc đầu đáp: “Không phải tứ ca đi Tây Sơn tìm vật cưỡi của huynh ấy là Tất Phương điểu sao?”.

Lão ta bối rối cười: “Mấy hôm trước về rồi”. Rồi lại tiếp tục vò đầu, nói: “Tất Phương điểu của hắn đúng là tính tình hoang dại khó thuần”.

Lúc sắp đi, lão lại quay đầu nói với ta: “Có một chuyện quên nói với ngươi, sau hôm ngươi đến Đông Hải dự tiệc, cháu của Thiên Quân Dạ Hoa đến rừng đào tìm ta, hỏi dò ta chuyện cũ ba trăm năm trước của ngươi”.

Ta sửng sốt kêu lên: “A?”.

Lão ta chau mày nói tiếp: “Ta bảo hắn rằng năm trăm năm trước ngươi mắc trọng bệnh, ngủ liền hơn hai trăm năm mới tỉnh lại, hắn không hỏi gì thêm liền đi. Nha đầu, hôn sự của ngươi với hắn không phải lại hỏng rồi chứ?”.

Trận ác chiến với Kình Thương năm trăm năm trước không thể cho người ngoài biết, rốt cuộc Thanh Khâu và Kình Thương có hận thù gì mà thượng thần của Thanh Khâu lại đi đánh Kình Thương có chút không thể nói rõ được.

Ta lặng im một lát mới trả lời lão: “Không phải vậy đâu, Dạ Hoa chưa từng có vẻ muốn từ hôn”.

Lão ta gật đầu nói: “Vậy thì tốt”, rồi quay sang nói với Phượng Cửu: “Chân Chân rất nhớ tài nghệ nấu nướng của ngươi, lúc nào rảnh rỗi nhớ đến rừng đào chơi một chuyến nhé”. Phượng Cửu đang định đáp lời, lão lại nói: “Lưỡng sinh chú trên người ngươi cũng không tồi đâu” rồi vội vàng đi mất tăm.

Phượng Cửu ấm ức nhìn ta: “Cô cô, lão uy hiếp con”.

Muốn tìm một nhân tài dám đẩy hoàng đế giữa đám đông xuống nước ở trần gian quả thực khó như mò kim đáy bể. Vạn sự giúp Nguyên Trinh vượt qua kiếp nạn đều chuẩn bị sẵn sàng, duy chỉ thiếu có gió đông đẩy người này. Vốn ta định nhờ Phượng Cửu gánh vác, kết quả là nó ngẫm nghĩ hồi lâu rồi thành thực thưa: “Con bị lưỡng sinh chú trói thân, cứ đến ban ngày là quên mất bản tính của mình, chỉ còn lại tính tình bẩm sinh của Trần quý nhân, nhớ nhung Đế Quân ngày ngày rơi lệ đêm đêm sầu não đến nỗi nôn ra máu. Theo như tính tình của Trần quý nhân thì không ngăn người ta đẩy người, làm rối kế hoạch của cô cô là đã tốt lắm rồi, cô cô bảo con tự tay đẩy Đế Quân xuống nước thực là không chuyện không thể làm được”.

Ta đắn đo, ngẫm ra có lý, nên cũng không miễn cưỡng nữa. Nếu thực sự không tìm được người nào, thì chỉ có cách ta làm mà thôi. Nhưng hoàng đế vốn không thích người tu đạo, đến lúc đó ta có thể lội nước mò cá leo lên thuyền của hoàng đế hay không cũng là một câu hỏi lớn.

May mà Nguyên Trinh có một người mẹ hết lòng vì y, ta không nói đến cái người ngồi trong đạo quán kia. Đương nhiên người mẹ ở trong đạo quán cũng rất lo cho y, nhưng trước sau cũng chỉ lo về phương diện tu tiên học đạo, còn chuyện vặt vãnh đời thường thì chỉ hỏi han qua loa đôi chút.

Thế nên người mẹ dốc hết tâm can vì thần tiên Nguyên Trinh, chính là Thiếu Tân.

Lần này Thiếu Tân hạ phàm là muốn xem xem kiếp nạn của Nguyên Trinh được độ hóa ra sao, liền bị ta tóm được, đành phải thiệt thòi nhận trách nhiệm đẩy hoàng đế xuống nước.

Chủ ý của ta rất hợp lý. Đến lúc đó nàng ta dùng tiên thuật ẩn thân, nhân lúc mỹ nhân định mệnh xuất hiện, mọi người đều tập trung ngắm mỹ nhân, Thiếu Tân đến sau hoàng đế khẽ đẩy một cái, tiện lợi biết bao, nhanh gọn biết bao, hiệu quả biết bao. Nhưng dùng tiên thuật để làm chuyện thay đổi số mệnh của Nguyên Trinh này, chung quy vẫn hơi thất đức, nàng ta lại là thai phụ, nếu mà pháp lực giáng lại bản thân, thì sẽ phải chịu ít nhiều báo ứng.

Ta nhìn Thiếu Tân đang vác cái bụng to như bụng trống, trầm tư nói: “Ngươi làm việc này e rằng hơi nguy hiểm, chi bằng tìm một người khỏe mạnh một chút”.

Thiếu Tân suy nghĩ một hồi, nói có thể nhờ phu quân của nàng ta là Bắc Hải Thủy Quân Tang Tịch đến hoàn thành chuyện thất đức này.

Chú thích:

17. Ý trong chương 42, sách Đạo đức kinh, tương truyền của Lão Tử.

18. Bát công: Thời Hán, chỉ tám người: Tô Phi, Lý Thượng, Tả Ngô, Điền Do, Lôi Bị, Mao Bị, Ngũ Bị, Tấn Xương đều là môn khách của Hoài Nam Vương Lưu An. Trong sách sử các đời đều coi đây là những người tài, đạo hành gần như thần tiên (ND).

19. Người xưa đeo roi hoặc củi kinh trên lưng là có ý đến nhận tội (ND).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s