TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA (3 cuốn) ~2

Tác giả : Đường Thất Công Tử

Cuốn 2

Chương 11: Độ kiếp cũng cần kỹ thuật

Mấy ngày sau đã là ngày mùng một tháng sáu.

Sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân viết không sai, hoàng đế quả nhiên dẫn theo văn võ bá quan cùng các phi tần chơi thuyền trên sông Sấu Ngọc. Từ khi ta vào hoàng cung đến nay, vì không được hoàng đế coi trọng, tuy danh nghĩa là sư phụ của thái tử nhưng chưa từng được phong phẩm trật nào. Nhưng mấy tên quan nhỏ làm việc ở bộ Lễ cũng có con mắt, biết được ta là cao nhân, xếp ta vào hàng bách quan, trên chiếc thuyền rồng chơi sông đó dồn lại mấy viên quan hàng bát phẩm, cũng coi như là có chỗ. Nhưng vị trí này chỉ có thể nhìn thấy gáy của hoàng đế, một cái gáy khác cách hoàng đế khoảng ba trượng, nhang nhác giống Trần quý nhân.

Mão Nhật Tinh Quân cũng rất sĩ diện, trong ngày mà tiểu đệ Nguyên Trinh cùng Đông Hoa Đế Quân song song chịu kiếp nạn, y chiếu rọi gay gắt trên đầu người ta. Giữa bầu không dăm đám mây trôi bồng bềnh, giống như đám hơi nóng sắp tản đi, thật là uể oải.

Sấu Ngọc không phải là con sông rộng, mà thuyền rồng của hoàng đế thì lớn, chiếm đến nửa mặt sông.

Hai bên bờ sông dân chúng chen chúc đông nghịt người, có lẽ trời vừa tang tảng sáng họ đã đến bờ sông để xí vị trí đẹp. Nhưng khúc sông mà hoàng đế du ngoạn này cũng chẳng dài, dân chúng kinh thành thì đông, có rất nhiều người không có chỗ trên mặt đất liền trèo cả lên cây hoặc lên nhà dân gần đó để nhìn.

Đám phu chèo thuyền vất vả vô cùng, vì trên đê bao bờ sông dân chen như nêm, nên phải chèo thuyền ra giữa dòng, không lệch về bờ trái một thước cũng không lệch về bờ phải một thước, để tỏ rõ ơn mưa móc của hoàng đế tưới tắm bốn bể, tất cả như nhau, không thiên vị dân chúng bên bờ trái, cũng chẳng thiên tư bá tính bên bờ phải. Vì đây là hành động cực kỳ tinh tế, có câu rằng chậm mà kỹ, thế nên thuyền cứ từ từ trôi đi.

Dưới ánh nắng mặt trời, người trên thuyền đều bị hun đến mức hai chân run cầm cập.

Buổi trưa đã dần tới. Ta nhét hai chiếc lá vàng vào tay thằng nhóc hoạn quan đang bận rộn sau thuyền, nhờ y đi mời thái tử. Nhóc hoạn quan này chân tay lanh lợi, ta vừa mới nhắm mắt nghỉ một lát, Nguyên Trinh đã vui vẻ chạy tới.

Hôm nay y bận một chiếc áo bào gấm màu xanh da trời thêu hoa, thiếu niên anh tuấn, nhìn thấy ta, cười tươi hớn hở hỏi: “Sư phụ kêu Nguyên Trinh tới không biết có chuyện quan trọng gì không?”.

Tuy y có cái tính hay hỏi rành rẽ ngọn nguồn, nhưng ta đã sớm định liệu, trước tiên im lặng một lát, làm ra vẻ thần bí, vừa túm tay áo vừa than: “Ngực vi sư vừa nãy xuất hiện một luồng đạo quang, rất nhiều huyền lý mà bình thường không hiểu giờ đã rành rẽ, vi sư nhớ tới con luôn một lòng hướng tới đạo pháp, nay đã đắc đạo, muốn truyền lại cho con, chẳng hay con có muốn nghe không?”.

Tiểu đệ Nguyên Trinh lập tức chắp tay, cúi đầu lắng nghe.

Ta nghiêm trang hắng giọng.

Lúc học nghệ ở Côn Luân, ta tuy không có tài năng gì, phàm là bài giảng có liên quan đến chữ “pháp” như đạo pháp, Phật pháp ta đều học rất qua loa. Nhưng cho dù những giờ giảng năm đó của Mặc Uyên ta đều gà gật, thì trong lúc gà gật cũng nhận được sự hun đúc suốt mấy trăm năm, giảng giải về đạo pháp cho một người phàm trong một canh giờ thì cũng không thành vấn đề.

Ta vừa giảng đạo cho Nguyên Trinh, vừa đợi mỹ nhân định mệnh trong cuốn sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân, thấy trời sắp quá trưa, lòng cũng hơi sốt ruột.

Giảng đến đoạn cuối, Nguyên Trinh muốn nói nhưng lại ngừng lúc lâu, cuối cùng mới chen lời: “Sư phụ, ban nãy đoạn song tu trong phòng, dưỡng khí di thần người đã giảng cả thảy bốn lần rồi ạ”. Ta hận sắt không thành thép được (20), bèn nói: “Vi sư giảng cả thảy bốn lần là có đạo lý của bốn lần. Con số bốn này tượng trưng cho cái gì, con nên ngẫm kỹ; đoạn đạo pháp nói cái gì, con cũng nên ngẫm kỹ; tại sao vi sư lại chọn đoạn này để giảng bốn lần, con cũng nên ngẫm kỹ; điều cốt yếu nhất của việc học đạo chính là chữ “ngẫm” này, giống như con không hiểu được khổ tâm của vi sư lúc này đây, để tu được đạo thực không dễ đâu”.

Nguyên Trinh xấu hổ cúi gằm mặt.

Vì bị y ngắt lời như thế, ta phải nghĩ một lúc mới nhớ ra mình đang giảng cho y đoạn nào mà tới tận bốn lần? Hầy, tạm thời mặc kệ y, tiếp tục nói về song tu trong phòng, dưỡng khí di thần nào.

Ta giảng khô cả họng, trà đã rót đầy hai bình lớn, mỹ nhân trong cuốn sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân cuối cùng cũng đã xuất hiện. Thực ra ta chưa nhìn thấy mỹ nhân ấy, vì chỗ ta ngồi là cuối thuyền, đương nhiên nhìn ra xung quanh toàn là các loại gáy của người ta mà thôi, sớm biết mỹ nhân đã xuất hiện, là vì ta nhìn thấy đại bàng cánh vàng luôn bên cạnh Phật Tổ ở Tây Thiên – do Ti Mệnh Tinh Quân không tiếc công sức mượn về – đang quẩn quanh ở chân trời.

Ta sống đã nhiều năm thế này, cũng chưa bao giờ chứng kiến hoàng đế nhảy xuống nước cứu mỹ nhân, khoảnh khắc nữa sẽ được đã mắt, nhất thời máu nóng bừng bừng. Nhưng vì còn phải cầm chân tiểu đệ Nguyên Trinh, nên chí ít cũng phải làm bộ trấn tĩnh, khổ sở nhẫn nhịn.

Tiếng hô hoán của dân chúng ven bờ cũng dần ngớt đi, toàn thuyền lặng phắc, đại bàng cánh vàng vẫn còn là một chấm nhỏ nơi chân trời, hẳn sự im lặng đáng kinh ngạc kia không phải do nó gây nên.

Có lẽ đám người im bặt đó đang mê mẩn trước sự xuất hiện của mỹ nhân.

Tiểu đệ Nguyên Trinh còn đang mê đắm trong cảnh giới của đạo pháp bác đại tinh thâm, không thể tự thức tỉnh, chưa ý thức được cảnh tượng này, ta rất vui mừng, vừa tiếp tục hoằng dương đạo pháp với y, vừa thầm liếc con đại bàng cánh vàng bay đến càng lúc càng gần kia.

Con đại bàng cánh vàng bên cạnh Phật Tổ này vô cùng uy nghiêm, mỗi lần đập cánh bay được ba ngàn dặm, lần này lại sắm vai một con chim thường, nếu bay mạnh mẽ quá thì không hợp, vì thế nó co đôi cánh lại, bay chầm chậm trên bầu trời, chầm chậm lướt qua, hẳn chưa bao giờ nó phải chịu gò bó thế này, nó rủ đầu, dáng vẻ rất tủi hổ.

Ta nhìn thấy đại bàng cánh vàng khổ sở đến giữa khoảng không trên sông Sấu Ngọc, đầu tiên nó khẽ khàng đập cánh lượn một vòng, sau lại khẽ khàng vươn đôi cánh rộng ra một chút, tiếp tục khẽ khàng chúi đầu xuống, lại khẽ khàng bay vọt lên trên. Ta có cảm giác, cả đời này chưa bao giờ nó tao nhã, thoát tục đến như thế.

Nhưng những động tác vừa khiêm nhượng vừa nghiêm trang của nó lại chẳng ra làm sao trong mắt người trần mắt thịt, thế nên họ đều kinh sợ, hò hét đủ kiểu. Một ông lão bên cạnh ta run lên cầm cập, tay chỉ trỏ, miệng lào thào nói: “Trên đời sao lại có con đại bàng to đến thế, con đại bàng này sao mà hung dữ, bay sao mà nhanh thế!”.

Nguyên Trinh vẫn đang đắm chìm trong thế giới đạo học vi diệu, y đang khổ sở suy tư. Ta băn khoăn mỹ nhân kia đáng nhẽ đã phải rơi xuống nước rồi, bèn bình tĩnh chờ Tang Tịch ở đầu thuyền đẩy hoàng đế xuống “tõm” một tiếng.

Đầu thuyền quả nhiên vang lên một tiếng “tõm”, ta sung sướng trong lòng gật gật đầu, rất tốt, Tang Tịch đã đẩy Đông Hoa xuống nước rồi.

Đầu ta còn chưa gật xong thì bên kia đã nghe thấy tiếng Trần quý nhân kêu lên thất thanh: “Bệ, bệ hạ không biết bơi…” rồi tiếp theo lại một tiếng “tõm” nữa vang lên. Tiếp theo rất nhiều tiếng “tõm” khác vang lên.

Ta ngây người ra.

Mẹ ơi.

Nghìn tính vạn tính nhưng lại chẳng tính được kiếp này đầu thai Đông Hoa là một con vịt cạn, làm sao bảo hắn cứu mỹ nhân được đây?

Ta hớt hơ hớt hải chạy đến đầu thuyền, Nguyên Trinh hẳn đã bị tiếng thét lúc nãy của Trần quý nhân làm cho sực tỉnh, vội vàng kích động chạy lên trước ta. Tuy đã vỡ lở như thế này, nhưng bây giờ cũng không thể để Nguyên Trinh rơi xuống nước. Cho dù có liên lụy đến số mệnh của Đông Hoa thì cũng phải thay đổi, vẫn còn tốt hơn là cả hai số mệnh đều không thể thay đổi. Bản thượng thần trong lúc nhốn nháo vẫn giữ bình tĩnh, trong chớp mắt đã đưa ra quyết sách sáng suốt này, nên sống chết giữ chặt tay Nguyên Trinh.

Nguyên Trinh vừa chạy vừa nhìn ta một cái đầy hàm ý rồi lại tiếp tục chạy. Đã có thái tử mở đường, hai chúng ta chạy một mạch đến đầu thuyền, vượt qua ba tầng bảy lớp người, đứng ngay sau lan can ở đầu thuyền.

Từ lan can nhìn ra phía trước.

Đây đúng là một cảnh tượng kỳ lạ.

Khắp sông Sấu Ngọc quan lớn quan nhỏ lóp ngóp lặn ngụp hò hét, kẻ không biết bơi thì vừa sặc sụa vừa kêu cứu, kẻ biết bơi thì bơi qua bơi lại vừa bơi vừa hò hét gọi hoàng đế, gặp phải bạn đồng liêu tuy không biết bơi nhưng cũng nhảy xuống, bèn vừa kéo vừa bơi vừa tìm hoàng đế.

Nhưng vì người trên sông quá nhiều, cuộc tìm kiếm này vì thế mà trở nên thật vất vả.

Ta đứng trên mũi thuyền, cúi xuống nhìn cả quãng sông, nhìn rõ một chút thì thấy hoàng đế bệ hạ mà đám quan tìm kiếm trên sông Sấu Ngọc kia đã nằm trong vòng tay của Trần quý nhân nhỏ bé, đang được chật vật đưa lên thuyền rồng.

Chứng kiến cảnh tượng này, ta đoán rằng sau khi hoàng đế bị Tang Tịch thần không biết quỷ không hay đẩy xuống sông, Trần quý nhân hét lên một tiếng “Bệ hạ không biết bơi” đã thức tỉnh đám người đang say sưa, đám trung thần dưới trướng của hoàng đế để biểu thị lòng trung trinh liền vội vàng nhảy xuống nước cứu giá. Không ít kẻ tuy không biết bơi nhưng, bị ảnh hưởng tâm lý đám đông, cũng cắn răng vén áo nhảy xuống. Còn có một số thành phần lý trí, tuy không mù quáng a dua theo đám đông, nhưng nghĩ rằng người khác nhảy xuống mà ta không nhảy thì biết ăn nói ra sao, bèn bi phẫn mà nhảy theo. Thị vệ bên cạnh hoàng đế tất nhiên là biết bơi, vốn họ chỉ muốn cứu một mình hoàng đế, nhưng lại thấy mấy con vịt cạn nhảy xuống, huống hồ lại là vịt cạn rường cột nước nhà, nên không cứu cũng không được, vì thế đã mệt lại càng thêm mệt. Lúc này, Trần quý nhân đã đưa được hoàng đế lên thuyền, còn thị vệ của hoàng đế phải bận rộn cứu các vị rường cột quốc gia không biết bơi kia.

Nhốn nháo như thế, nên chẳng ai thèm đoái hoài tới mỹ nhân rơi xuống nước trong cuốn sổ số mệnh kia.

Nguyên Trinh chỉ chăm chăm lo cho phụ hoàng của y, đương nhiên cũng chẳng màng đến mỹ nhân rơi xuống nước kia, mấy lần muốn nhảy xuống cứu phụ hoàng y, may mà bị mấy lão đại thần bảy mươi, tám mươi tuổi chưa kịp nhảy xuống sông ngăn lại. Hoàng đế ốc còn không lo nổi mình ốc, làm gì có sức mà quan tâm tới mỹ nhân kia.

Vừa nãy ta nhìn thấy, mỹ nhân kia tự mình bơi vào bờ, vừa khóc vừa lủi thủi đi mất.

Hoàng đế bị ngâm nước tới mức nửa sống nửa chết.

Vì Trần quý nhân là phi tần duy nhất nhảy xuống sông sau hoàng đế, lại còn tự tay cứu hoàng đế lên, địa vị đương nhiên có khác với mọi người… Đám phi tần bị hoàng hậu – người biết đến toàn cục bảo đứng sau một bên khóc lóc thút thít, chỉ còn có Trần quý nhân là có thể bò rạp bên cạnh long thể của hoàng đế, khóc váng trời tối đất: “Bệ hạ – người tỉnh đi – người tỉnh đi – người không thể vứt bỏ thần thiếp như thế”.

Gào rồi lại ôm ngực nôn ra một bụm máu, gào thêm hai câu lại nôn thêm một bụm máu nữa.

Mấy thái y già dày dặn kinh nghiệm đi theo hoảng hốt chạy qua tách Trần quý nhân và hoàng đế ra, phân công rất chuyên nghiệp, mỗi người đều tự mở hòm thuốc của mình, hỏi han bắt mạch riêng cho hoàng đế rồi tới Trần quý nhân.

Chuyến du ngoạn này cuối cùng xôi hỏng bỏng không, thuyền rồng rốt cuộc có thể phát huy sở trường lướt trên sóng nước của nó, những viên quan chèo thuyền không cẩn thận giữ tốc độ lúc trước, sau mệnh lệnh của thái tử, họ đều hô vang giơ cao mái chèo, “soạt” một tiếng, thuyền rồng liền lao vút đi về phía hoàng cung.

Ta nán lại đuôi thuyền, vẫy tên nhóc hoạn quan ban nãy đi mời Nguyên Trinh cho ta, đòi một bình nước lọc. Kiếp số của Nguyên Trinh đã được hóa giải, nhưng lại không may liên lụy đến Đông Hoa và mỹ nhân rơi xuống nước bị bỏ qua kia. Đương nhiên ta biết Đông Hoa thân là chúa của các thần, bao chuyện phiền toái vụn vặt, có thể thu xếp thời giờ để xuống đầu thai một lần ở hạ giới không phải là dễ, lần này cơ duyên trải nghiệm tình kiếp của hắn lại bị ta hủy hoại, ta cũng cảm thấy có lỗi.

Lau hết mồ hôi, uống một ngụm nước, việc lần này của Nguyên Trinh, rốt cuộc bản thượng thần đã thực hiện không êm đẹp.

Tuy rằng đã thực hiện không êm đẹp, nhưng tốt xấu gì cũng đã làm xong.

Bấm tay nhẩm tính, ta đã ở dưới phàm trần suốt mấy ngày, phàm trần giờ đây đâu còn thú vị như năm nào. Ta định ngày mai sẽ đến đạo quán sau hoàng cung, từ biệt bà mẹ đạo cô của Nguyên Trinh, coi như là có trước có sau, rồi quay về Thanh Khâu. Nhưng bây giờ trên người ta không còn một chút pháp lực, làm thế nào để về được Thanh Khâu cũng là một vấn đề.

Trước đó Phượng Cửu có nói với ta, qua lễ sinh nhật của Vi Đà mùng một tháng sáu, đợi Đông Hoa gặp được người con gái mà hắn một lòng một dạ yêu thương, ấy là lúc nó nên đi. Lần này số mệnh của Đông Hoa tuy có bị thay đổi đôi chút, nhưng kết cục thì cũng không can hệ gì nhiều đến nó, còn chưa kể đến chuyện trong cơn nguy hiểm, nó dám bất chấp tính mạng để cứu Đông Hoa, ước nguyện báo ơn đã được thực hiện rồi. Ta ngẫm nghĩ một lát, sau khi mặt trời xuống núi ta sẽ đi tìm Phượng Cửu, ngày mai cùng nó quay về Thanh Khâu.

Ta về Tử Trúc viện đánh một giấc.

Khi đôi tay mềm mại của thị nữ lay ta tỉnh dậy thì trời cũng đã nhá nhem tối.

Thong thả ăn mấy miếng cơm, kêu thị nữ mang một chiếc đèn lồng tới, rồi cùng ta đi tới Hạm Đạm viện.

Ban ngày, người ta thật khó phân biệt đông tây nam bắc ở hoàng cung, về đêm, xung quanh đèn đuốc sáng trưng vàng vàng tối tối, ta đã vào hoàng cung gần hai tháng, nhưng đài nào, điện nào, đều rối như tơ vò. Thị nữ cầm đèn lồng rất tỏ tường đường đi lối lại, còn ta chỉ biết lặng lẽ theo sau, trong lòng không khỏi khâm phục nàng ta.

Đi qua một cái đình trong hoa viên, chẳng ngờ bị tiểu đệ Nguyên Trinh đột nhiên xuất hiện tóm được. Thị nữ cúi mình, chào “Thái tử điện hạ”. Hai tay Nguyên Trinh vẫn giữ chặt tay áo, im lặng gật đầu rồi quay sang nhìn ta, thì thào hỏi: “Nguyên Trinh có việc muốn bàn với sư phụ, chẳng hay sư phụ có thể qua đình kia với Nguyên Trinh không?”.

Đến lại gần nhìn, dáng vẻ của y dường như hơi bối rối, ngại ngùng, lòng ta thoáng run sợ, buổi chiều vì y phải đi thăm cha mình, ta không đi cùng y được, bộ dạng bây giờ của y, chẳng lẽ đã bị sợi chỉ hồng định mệnh quấn lấy mỹ nhân rơi xuống nước rồi sao? Nếu quả như vậy, cuốn sổ số mệnh của Ti Mệnh Tinh Quân quả là ghê gớm.

Nguyên Trinh dẫn ta đến cái đình đó rồi ngồi xuống. Gió từ mặt hồ thổi tới hơi lành lạnh.

Ta nhìn dáng vẻ tình xuân phơi phới của y, không nói gì mà lẳng lặng ngồi xuống ghế đá.

Y cũng ngô nghê, tự vui vẻ hồi lâu, mãi sau mới rón rén lấy từ trong tay áo ra một vật gì đó, đưa đến trước mặt ta tựa như dâng bảo vật: “Sư phụ, người nhìn xem, nó có đáng yêu hay không?”.

Ta đủng đỉnh liếc nhìn vào bàn tay y một cái, rồi thầm than một tiếng trong lòng, Nguyên Trinh ơi là Nguyên Trinh, đứa trẻ như ngươi sao lại khiến người ta lo lắng đến thế, ngươi có biết trong tay người đang giữ thứ gì không?

Quả nhiên tiểu đệ Nguyên Trinh không biết trong tay mình là thứ gì, nhíu mày căng thẳng hỏi: “Trưa nay khi thuyền chuẩn bị cập bờ, vì phải quản bách quan nên Nguyên Trinh rớt lại sau cùng. Bé cưng này rơi từ trên trời rơi xuống, a, khi ấy nó không nhỏ như thế này, đôi cánh dang ra to bằng một nửa gian nhà, cực kỳ oai nghiêm. Vừa nhìn thấy là sà đến người Nguyên Trinh, bé cưng rất biết thương xót người ta, sợ làm Nguyên Trinh bị thương, lập tức thu nhỏ lại như thế này, rồi sà vào lòng Nguyên Trinh”.

Bé cưng đang im thin thít rúc trong lòng bàn tay Nguyên Trinh – đại bàng cánh vàng đậu trước tòa sen của Phật Tổ Như Lai ở đất Phật Tây Thiên, nay thu nhỏ bằng con chim sẻ, tuy rằng nó chỉ nhỏ như con chim sẻ, nhưng toàn thân không bị mất đi màu vàng lấp lánh. Nó đang chúi đầu dưới quầng sáng vàng, dáng vẻ vô cùng ủ dột, sợ sệt, nghe thấy hai tiếng “bé cưng” là lại nhắm nghiền mắt, run lên bần bật. Nhìn kỹ lại, hai chân nó đang đeo một chiếc chuông. Chiếc chuông này là một vật báu, vốn được gọi là chuông khóa tiên, là thứ dùng để giam linh thú, linh cầm ở trên Thiên Đình. Chẳng trách đại bàng cánh vàng không thể khôi phục lại cơ thể, chỉ có thể biến thành miếng thịt nhỏ xíu nằm trên thớt, mặc cho người ta trêu đùa.

Lúc trưa, khi con đại bàng cánh vàng này từ trên trời bay xuống ta đã hơi lo sợ, nó co chân co cánh bay như vậy, khó mà tránh được bay ở lưng chừng sẽ bị chuột rút. Muốn làm cho điều ta lo lắng ứng nghiệm, thì nó mới ngoan ngoãn sà vào lòng Nguyên Trinh chăng?

Ta chăm chú nhìn chiếc chuông đeo trên chân của đại bàng cánh vàng, Nguyên Trinh bèn bước tới, nói: “Cái này là sư phụ trước cho con, năm con mười hai, mười ba tuổi, sau đạo quán có một con sư tử tinh khóc rống lên đòi làm vật cưỡi của con, sư phụ liền cho con để khống chế con sư tử tinh kia. Sau con sư tử tinh cái này bị một con sư tử tinh đực rủ đi mất, chiếc chuông từ đó không biết dùng vào việc gì, lần này vừa hay dùng cho bé cưng”.

Bé cưng lại run cầm cập.

Ta gật đầu “à” rồi lại “ừ”, thành thật khuyên y: “Con nên suy nghĩ cho kỹ, ngài, ừm, thứ trên tay con thực ra có chủ rồi, nếu con giấu nó đi, đến khi người chủ đó tìm thấy, e rằng sẽ rất khó xử”.

Y chau mày, gương mặt u oán, nói: “Cho nên Nguyên Trinh mới bàn bạc với sư phụ, sư phụ là cao nhân, có thể cùng Nguyên Trinh chăm nó được không? Bé cưng là linh thú, chủ nhân của nó đương nhiên cũng không phải phàm nhân, Nguyên Trinh chỉ là một người phàm, dương thọ có hạn, đợi đến khi Nguyên Trinh mệnh tận nơi chín suối, đương nhiên sẽ trả bé cưng cho người ấy”.

Ta nhìn bé cưng một cái, bé cưng lại cực lực lắc đầu. Nhưng lần này nó là một con chim, không thể hóa thành người như mọi khi, đầu vừa mới lắc thì toàn thân đã rung lên theo. Nguyên Trinh giơ nó cao ngang cổ ta, nói: “Sư phụ, người xem, bé cưng nghe con nói sẽ nuôi nó, cũng phấn chấn đây này”.

Bé cưng ngã xuống làm bộ rúc đầu đi ngủ.

Nguyên Trinh nhìn ta đầy tha thiết hy vọng, đầu ta nóng bừng, cảm thấy lời của y cũng có lý, lại nghĩ lần này y đã bị ta phá hỏng nhân duyên, phần đời từ nay về sau sẽ vô cùng vô vị, nuôi một con linh thú quý hiếm ở bên mình, ít nhiều cũng có thể giết thời gian; rồi lại nghĩ tới y đã gọi ta một tiếng sư phụ, thì cũng coi như là đệ tử của ta, lúc đầu đến một món quà nhân lúc mới nhận thầy ta cũng chẳng có cho hắn, thực sự cũng có chút chẳng ra sao. Lại cảm thấy, đi Tây Thiên nói với Phật tổ rằng, cho ta mượn con đại bàng cánh vàng một thời gian cũng không phải là chuyện lớn lắm.

Ta nghiêm trang gật đầu, nói: “Được”.

Bé cưng kêu “két” một tiếng.

Nguyên Trinh mừng rỡ cất bé cưng vào tay áo, nắm chặt tay ta nói: “Sư phụ, người đồng ý rồi, không phải Nguyên Trinh nằm mơ ư? Trước đây Nguyên Trinh còn không chắc rằng đây chỉ là sự si mê của Nguyên Trinh, chẳng ngờ sư phụ lại đồng ý với Nguyên Trinh…”.

Y còn chuẩn bị nói tiếp thì trên không vẳng tới một giọng nói trong mà rõ: “Hai người đang làm gì vậy?”.

Giọng nói này nghe rất quen.

Ta kinh ngạc nhìn lên không trung.

Dạ Hoa Quân hơn một tháng nay chưa gặp đang quay lưng về phía ánh trăng lạnh lẽo, khuôn mặt lạnh lùng, nhìn ta và tiểu đệ Nguyên Trinh, ánh mắt sáng rực. Sau lưng hắn có một vị thần tiên, mặc áo màu xanh ngọc, bờ môi hé cười, dung mạo dịu dàng.

Ở phàm trần hơn tháng rưỡi, ngoài Phượng Cửu trú trong Hạm Đạm viện, cả ngày gặp tới gặp lui cũng chỉ vài ba gương mặt, bây giờ nhìn thấy người quen, lại là người quen có thể giải phóng pháp lực đã bị phong kín của ta, ta không khỏi có chút kích động.

Những vở kịch mà ta xem trong lúc rảnh rỗi gần đây, đều là tri kỷ bạn tốt lâu ngày xa cách lúc trùng phùng, chắc chắn sẽ anh nắm tay tôi, tôi nắm tay anh thân thân mật mật, anh gọi một tiếng hiền huynh, tôi gọi một tiếng ngu đệ, lại cùng nhau nâng đôi chén rượu, tình nồng ý đượm, khiến ta cảm động khôn cùng.

Tuy ta và Dạ Hoa chia tay nhau chưa bao lâu, nhưng cũng có thể được coi là một phen tiểu biệt (21), giờ hắn lạnh lùng đứng giữa không trung, cũng chẳng buồn chào ta một tiếng hẳn hoi, ta cảm thấy cực kỳ khó chịu.

Cánh tay Nguyên Trinh nắm lấy tay ta cũng hơi run run. Ta nhìn động viên y một cái, nghiêm túc nói với hai vị thần tiên đang lơ lửng giữa bầu không: “Hai vị mau xuống đi, trăng tối gió cao, hai vị phất phơ bay lượn, gặp kẻ phàm trần không thể thưởng thức, dọa cho họ sợ thì không hay đâu”.

Những lời này ta nói rất “oai”, thần tiên áo màu xanh ngọc phía sau chắp tay, cưỡi mây xuống trước, Dạ Hoa lườm Nguyên Trinh một cái, rồi cũng xuống sau.

Nguyên Trinh rõ ràng là một kẻ phàm trần không thể thưởng thức, ta đồ rằng hôm nay y rất kinh hãi, đang định gọi thị nữ cầm đèn lồng đứng xa xa lại, bảo đưa y về nghỉ trước, thì nhìn qua, thị nữ đó đã ngã xuống đất, đèn lồng chỏng chơ bên cạnh, hầy, xem ra nàng ta đúng là không thể thưởng thức tư thế thần tiên của Dạ Hoa.

Cánh tay Nguyên Trinh càng lúc càng run tợn, ta thầm than một tiếng, đồ đệ đầu tiên của cuộc đời Bạch Thiển ta, sao lại vừa thấy thần tiên là chân nhũn ra, thật chẳng ra sao cả.

Ta cảm thấy mình nên đưa tay xoa đầu y một cách hiền hậu, để vỗ về đôi chút.

Tay còn chưa kịp nhấc lên, thì đã bị gương mặt đỏ bừng của y dọa cho một trận.

Lúc này, khuôn mặt Nguyên Trinh đương đỏ như trứng vịt muối, đôi con ngươi long lanh phát sáng nhìn ta chằm chằm: “Sư, sư phụ, con, con đã nhìn thấy thần tiên, con, con lần đầu tiên nhìn thấy thần tiên sống, thần tiên sống…”.

Ta im lặng rụt tay lại. Y vui vẻ bước hai bước tới trước mặt Dạ Hoa, cung kính chắp tay, nói: “Thần Hiên Viên (22) thời thượng cổ tu đức hưng binh, đặt ra ngũ khí, dạy trồng ngũ cốc, vỗ về vạn dân, đo đạc bốn phương, khiến phượng hoàng đến bay vờn trên cầu, lần này hai vị thần tiên giữa đêm tới đây, có phải vì phụ hoàng ta công đức hiển hách, đã được trên trời nghe thấu chăng?”.

Ta thầm thở dài hai tiếng, tiểu tử, không phải là công đức của lão hoàng đế nhà ngươi lan tới trời cao, mà là nợ tình giữa ngươi và lão hoàng đế nhà ngươi đã được trên trời nghe thấu.

Dạ Hoa nửa cười nửa không, dò xét Nguyên Trinh một hồi, mắt lại liếc xéo ta một cái: “Đã để thái tử phải thất vọng rồi, bản quân lần này hạ phàm là muốn tìm vợ, hoàn toàn là việc riêng”.

Nhìn ánh mắt hắn mà ta sởn da gà. Nguyên Trinh nhìn hắn, ta nhìn theo ánh mắt hắn sang phía ta, ôm đầu, nét mặt hết sức hoang mang.

Ta cười nịnh Nguyên Trinh: “Là tới tìm ta, tìm ta”.

Nguyên Trinh run lẩy bẩy như vịt con, hết sức kinh ngạc nhìn ta. Dạ Hoa nghiêng đầu, hân hoan ngắm nhìn mặt hồ đen như sơn bên cạnh tòa đình.

Ta thầm nhủ, cảm thấy duyên pháp với Nguyên Trinh đã hết, ngày mai ta sẽ rời đi, Dạ Hoa đến thật đúng lúc, hôm nay họ có duyên tiên hội ngộ, ta cũng nhân cơ hội này kiếm cớ, cáo biệt với Nguyên Trinh từ đây.

Lý do ta còn chưa nghĩ thấu đáo, vị thần tiên mặc áo xanh ngọc đứng bên im lặng nãy giờ đã rọi một luồng kim quang thẳng mặt Nguyên Trinh, Nguyên Trinh lập tức ngã nhào.

Thần tiên áo xanh cười tươi với ta: “Cô cô không cần lo lắng, tiểu thần chẳng qua chỉ xóa đi ký ức của điện hạ Nguyên Trinh về quân thượng và tiểu thần trong đêm nay mà thôi. Nhờ cô cô tài tình, số mệnh của điện hạ Nguyên Trinh đến nay đã vô cùng viên mãn, tiểu thần chỉ lo y vì gặp được hai vị thần tiên thực sự mà nảy sinh phiền não và nghiệp chướng. Huống hồ mệnh kiếp lần này của Đế Quân lại vì điện hạ Nguyên Trinh mà có chút thay đổi, chuyến này tiểu thần đến đây là muốn bổ cứu một chút, phải phiền cô cô dẫn đường, tiểu thần muốn tìm điện hạ Phượng Cửu nhờ giúp đỡ”.

Vị áo xanh này thực biết ăn nói, mệnh kiếp này của Đông Hoa bị tiểu đệ Nguyên Trinh làm liên lụy, chẳng phải là chỉ có chút thay đổi mà thôi.

Ta là một thần tiên rộng lượng, mấy câu trách móc của hắn kể ra cũng có lý, huống hồ hắn đã nói như vậy, dung mạo cũng rất hiền hòa, thì sẽ không thể nói gì Nguyên Trinh. Trái phải đều trách rồi, vậy thì cứ tiếp tục trách nữa đi.

Dạ Hoa bình thản nói với thần tiên áo xanh: “Ngài mời nàng ấy dẫn đường, thì có đi tới sáng mai, đi hết hoàng cung cũng chưa chắc đã đến được cung Phượng Cửu ở. Chẳng thà gọi một thổ địa lên hỏi cho xong”.

Vị thần tiên áo xanh nhìn ta nghi hoặc, rồi gọi thổ địa lên.

Ta cười khan hai tiếng.

Hôm nay Dạ Hoa rất khác thường, nói năng mờ ám, lại hơi gay gắt, e rằng hôm nay trên Thiên Đình đã gặp phải chuyện gì bực mình.

Vì ta đã độ hóa cho số mệnh của Nguyên Trinh xong, Dạ Hoa đương nhiên không thể tiếp tục phong bế pháp lực của ta. Vừa hay thần tiên áo xanh cũng gọi thổ địa lên rồi, ta bèn cùng ba người bọn họ đến Hạm Đạm viện, coi như cũng hưởng lợi.

Lúc chuẩn bị đi thấy Nguyên Trinh còn sõng xoài trên đất, đêm khuya gió lạnh, cơ thể của tiểu đệ Nguyên Trinh tuy không phải là yếu đuối nhưng cũng chẳng phải tráng kiện, ốm một trận thì sẽ rất khổ sở. Bản thượng thần vốn từ bi bác ái, thường không quen nhìn người ta chịu khổ, bèn nhờ thần tiên áo xanh kia làm phép đưa tiểu đệ Nguyên Trinh về tẩm điện nghỉ ngơi.

Dạ Hoa lạnh lùng lườm ta một cái.

Trên đường đi, ta ngẫm nghĩ mới hiểu, theo những lời vừa rồi của vị thần tiên áo xanh kia, có thể biết được y chính là Ti Mệnh Tinh Quân dưới trướng của Nam Cực Trường Sinh Đại Đế.

Dạ Hoa từng nói vị Tinh Quân này tính cách cổ quái, nhưng theo ta thấy, y rất hiền hòa.

Lần này hắn cùng với Ti Mệnh Tinh Quân đến đây để bổ cứu cho số mệnh của Đông Hoa, mấy câu kiếm ta chẳng qua chỉ là nói chơi thôi. Ta bản tính thật thà, thẳng ruột ngựa, nhìn thấy không khí lạnh lẽo trên đường đi, không kìm được bèn cười cười với Dạ Hoa: “Vừa nãy ta nghe ngươi nói là đến để tìm vợ, bây giờ lại vội vàng chạy đến chỗ của Phượng Cửu, hầy, không phải thấy Phượng Cửu nhà ta yểu điệu thướt tha, nên thầm mến mộ rồi chăng?”.

Hắn nhìn ta một cái, khẽ cười ý nhị, nhưng không đáp lại.

Vốn định chọc cho hắn cười, nào ngờ gặp phải tên đầu sắt, ta cụt hứng, cũng không thèm nói gì nữa.

Ti Mệnh Tinh Quân áo xanh đi đầu cười “phì” một tiếng: “A, hôm nay quân thượng lòng nóng như lửa đốt, gọi tiểu thần từ hội Bàn Đào của Thiên Hậu nương nương về, nói là lúc thay đổi số mệnh của điện hạ Nguyên Trinh có một vị thượng thần không cẩn thận đã làm thay đổi cả số mệnh của Đông Hoa Đế Quân, vì thế Đông Hoa Đế Quân không thể trải qua kiếp số, khi quay trở lại chính thân sợ rằng sẽ nảy sinh hiềm khích với vị thượng thần ấy. Tiểu thần còn chưa được thưởng thức hội Bàn Đào của Thiên Hậu nương nương đã bị kéo xuống phàm trần để đi bổ cứu, chẳng ngờ vị thượng thần đó lại chính là cháu gái Phượng Cửu điện hạ của cô cô. Lúc trước khi tiểu thần gặp Phượng Cửu điện hạ, nàng ấy vẫn còn là một thần nữ, bây giờ đã tu thành thượng thần, thật nhanh quá!”.

Dạ Hoa ho một tiếng.

Ta cười ha ha với Ti Mệnh: “Quá nhanh, quá nhanh”.

Đã đến cửa Hạm Đạm viện, Dạ Hoa đứng bên cạnh ta, khẽ nói: “Ti Mệnh đến bổ cứu số mệnh của Đông Hoa, còn ta nhân tiện đến thăm nàng”. Nói đoạn ẩn đi tiên thân, bước vào cửa lớn của Hạm Đạm viện.

Ta ngẩn người.

Thổ địa rất ngoan ngoãn, làm trọn bổn phận, dẫn chúng ta đến Hạm Đạm viện xong thì cáo từ. Ti Mệnh Tinh Quân bộ dạng cung kính bên cạnh ta, ta cũng ẩn đi tiên thân, cùng Dạ Hoa đi vào trong Hạm Đạm viện. Hôm nay tòa Hạm Đạm viện này đón biết bao thần tiên, một nghìn tám trăm năm sau, nơi này sẽ mãi là phúc địa.

Phượng Cửu đang chong đèn trầm tư, buồn bã khôn xiết, hẳn đang nhớ về mấy câu gào khóc trước mặt đông đủ văn võ bá quan, phi tần lúc ban ngày, cảm thấy rất mất mặt. Nhìn thấy ba thần tiên chúng ta hiện thân trước mặt, thì chẳng chút hoảng hốt, chỉ thản nhiên gọi bên ngoài: “Ngọc Đang, khách đến, dâng trà”.

Ta đưa tay chắn ngang môi nó: “Tiểu tổ tông ơi, mau tỉnh lại đi”.

Phượng Cửu giật mình ngã xuống đất, tỉnh táo lại, nhìn rồi ôm chặt lấy eo ta, nén giọng thổn thức: “Cô cô, ban ngày con mất mặt quá”.

Ta an ủi nó: “May mà lúc ấy con mượn thân xác của Trần quý nhân, người mất mặt chính là Trần quý nhân”. Phượng Cửu vùi đầu trong lòng ta, lắc đầu nguầy nguậy: “Con làm hỏng số mệnh của Đế Quân rồi. Ban nãy con ngẫm kỹ một lượt. Lúc con nhảy từ trên thuyền xuống cứu Đế Quân, con đã nhìn thấy thiếu nữ bị đại bàng cánh vàng hất xuống nước rõ là biết bơi, nếu con không đa sự nhảy xuống, không chừng thiếu nữ đó đã cứu Đế Quân lên, nếu thế hai người họ đều không bị lỡ làng. Con định hôm nay sẽ quay về Thanh Khâu, vị Trần quý nhân mà con mượn thân xác này vốn không được sủng ái, nếu đêm nay nàng ta thăng thiên thì cũng chẳng gây ra chuyện gì lớn. Nhưng lần này con đa sự nên đã cứu Đế Quân, hôm nay trong lúc hôn mê Đế Quân cứ nắm chặt tay con, khi tỉnh lại hai mắt nhìn con chằm chằm, nặng tình đến mức có thể vắt ra nước được”.

Ta ngắt lời: “Có lẽ con nhìn nhầm, hắn bị ngâm trong nước quá lâu, đến mức đôi mắt cũng sũng nước không chừng”.

Phượng Cửu ngẩng đầu, nhìn ta ai oán: “Nhưng chàng còn nói sẽ thăng phẩm cấp cho con”.

Ta im lặng vỗ vỗ vào lưng nó.

Ti Mệnh Tinh Quân bưng chén trà hứng chí bước qua: “Ý của điện hạ là, lần này Đông Hoa Đế Quân đã nảy sinh tình ý với điện hạ?”.

Chắc là lúc này Phượng Cửu mới phát hiện trong phòng còn hai vị thần tiên khác. Ta liếc nhìn Dạ Hoa đang ngồi uống trà bên cạnh, nói với Phượng Cửu: “Đây là Dạ Hoa – thái tử của Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên”.

Chẳng ngờ Phượng Cửu chẳng thèm nể nang Dạ Hoa, hai mắt cứ nhìn chằm chằm vào Ti Mệnh Tinh Quân, nhìn hồi lâu, mới thảm thiết nói: “Ti Mệnh, sao ngài viết số mệnh gì thế này?”.

Ta cảm thấy Phượng Cửu không thèm đoái hoài đến Dạ Hoa thì cũng không hay lắm, bèn cười hối lỗi với Dạ Hoa, hắn cũng cười đáp lại, tiếp tục thong thả uống trà.

Câu “số mệnh gì thế này” ngẫm ra có ý châm biếm Ti Mệnh Tinh Quân. Thí dụ như bạn không thể nói với trạng nguyên là trên người anh không có vết mực nào, bạn không thể nói với hoa khôi của lầu xanh là dung mạo nàng quá tầm thường. Xét cho cùng, một người mà phải chối bỏ cái cần câu cơm, thì tuyệt đối không thể sỉ nhục được.

Ti Mệnh nâng chén trà, khóe môi nhếch lên: “Ban đầu sắp đặt số mệnh của Đế Quân, đúng là sắp đặt còn lỏng lẻo, Đế Quân nay đã nảy sinh tình ý với điện hạ, vậy nên giờ chỉ có thể mời điện hạ chịu thiệt thòi diễn cùng Đế Quân. Lần này Đế Quân đầu thai, trong những kiếp số cần trải nghiệm thì tình kiếp đứng đầu. Tình kiếp của Đế Quân vốn do thiếu nữ rơi xuống nước tạo ra, vì thế, bây giờ chỉ có thể nhờ đến điện hạ”.

Phượng Cửu ấm ức nói: “Tại sao phải do ta tạo? Mối nợ ơn tình ta nợ chàng đã báo đáp, ngươi không nghĩ giúp ta cách thoát thân, mà còn giữ ta lại để giúp chàng tạo kiếp, Ti Mệnh, uổng cho mối giao tình bao năm qua của chúng ta!”.

Ti Mệnh nhàn tản đậy nắp chén trà lại: “Đúng như điện hạ vừa nói, là do điện hạ làm rối loạn số mệnh của Đế Quân, để điện hạ tạo kiếp cho Đế Quân coi như là bồi thường. Nếu điện hạ cố chấp không chịu, đợi đến khi Đế Quân sống hết kiếp này, quay trở lại chính thân, thì đến chịu tội với Đế Quân cũng không muộn”.

Ta không kìm được: “Việc này chẳng liên quan gì tới Tiểu Cửu, là do ta thay đổi số mệnh của Nguyên Trinh mới dẫn đến những chuyện này…”.

Ti Mệnh đứng lên, cung kính nói: “Cô cô không biết đấy thôi, thiên mệnh có lý lẽ này, một vòng mà lại thắt thêm một vòng nữa, cái nhân của vòng bên trên sẽ sinh ra cái quả của vòng phía dưới, điện hạ Phượng Cửu chính là cái nhân bên trên của cái quả Đế Quân. Điện hạ Phượng Cửu đã bị cuốn vào vòng xoáy này, hơn nữa nàng còn dùng lưỡng sinh chú để làm phép, nếu số mệnh của Đế Quân bị thay đổi, điện hạ đương nhiên sẽ bị pháp thuật giáng lại bản thân. Cách mà tiểu thần đề xuất ban nãy chính là cách chu toàn nhất”.

Ta nhìn Phượng Cửu bằng ánh mắt thương cảm vô hạn.

Phượng Cửu âu sầu ngã xuống ghế, âu sầu xoáy cốc trà, âu sầu nhấp một ngụm, rồi từ từ nghiêm túc nói với Ti Mệnh: “Nếu đã để ta tạo kiếp, vậy hãy nói xem ta nên tạo kiếp như thế nào?”.

Nó đã nhận lệnh rồi.

Ti Mệnh Tinh Quân khẽ nói: “Chỉ cần điện hạ ngọt ngào với Đế Quân, chiếm trọn trái tim của Đế Quân, đợi đến khi Đế Quân nặng tình với điện hạ, lúc đó mới giẫm đạp đi giẫm đạp lại trái tim của Đế Quân là được”.

Phượng Cửu ho khụ khụ một cái, ta cũng ho khụ khụ một cái.

Ti Mệnh bổ sung: “Tiểu thần đã chọn cho điện hạ mấy màn kịch, lúc đó sẽ chỉ dẫn cho điện hạ phải làm thế nào, a, làm thế nào để giẫm đạp lên trái tim người ta”.

Phượng Cửu nhoài ra bàn òa khóc.

Lại nghe bên ngoài có tiếng thông báo hoàng đế giá đáo. Ta thương xót xoa xoa đầu Phượng Cửu, cùng Dạ Hoa, Ti Mệnh xuyên tường mà đi.

Hai người họ dẫn thẳng ta đến bên ngoài Tử Trúc Uyển, Dạ Hoa ôm lấy ta, nói: “Ta còn có một số việc phải làm, ngày mai nàng cứ về Thanh Khâu trước, vài ba ngày sau ta sẽ tới”. Nói đoạn quay người đi mất. Vừa nãy Ti Mệnh nói, họ đều chuồn từ hội Bàn Đào, bay giờ phải mau mau trở về.

Ta đứng nguyên tại chỗ một lát, cảm thấy cảm giác phảng phất khi nãy rất quen thuộc, bèn nhẩm tính Dạ Hoa đã ở Thanh Khâu rất lâu, nghe hắn nói những lời này, không giống như sắp đi, vậy rốt cuộc bao giờ hắn sẽ đi? Ngẫm nghĩ một lát, cảm thấy cơn buồn ngủ ập tới bủa vây, ta liền quay mình đi vào phòng ngủ.

Chú thích:

20. Hận sắt không thành thép: Hồi thứ 96, tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần có viết: “Chỉ vì Bảo Ngọc không tiến bộ, cho nên ta luôn hận anh ta, cũng chẳng qua là “hận sắt không thành thép được mà thôi”. Ý chỉ vì hy vọng ai đó tiến bộ nhưng không thành thì bất mãn, sốt ruột mong người đó giỏi lên (ND).”

21. Chia tay trong thời gian ngắn ngủi (ND).

22. Hiên Viên tức Hoàng Đế, họ Cơ, một trong ngũ đế, vì sống ở núi Hiên Viên nên được gọi là Hiên Viên. Ông ra đời, dựng nghiệp và định đô ở Hữu Hùng (nay thuộc Tân Trịnh, Hà Nam), vì thế mà được gọi là Hữu Hùng Thị, vì có tên thụy là Thổ Đức, nên được gọi là Hoàng Đế. Từng đánh thắng Viêm đế ở Phản Tuyền, thắng Xí Vưu ở Trác Lộc nên được các chư hầu tôn làm thiên tử, người đời sau tôn là ông tổ của dân tộc Trung Hoa. Ông có công đánh giặc dẹp phản, bình định thiên hạ, thống nhất bộ tộc, chế ra lễ nhac, giáo hóa cho dân chúng, giúp dân an cư lạc nghiệp (ND).

Chương 12: Quyết chiến cung Đại Tử Minh

Ngày hôm sau, đến giờ Tỵ ta mới trở dậy, sau khi ngủ một giấc đã đời.

Lúc từ biệt Nguyên Trinh và mẹ y, mẹ y lưu luyến chẳng nỡ rời, nhưng vì ta là một cao nhân, bà ấy tự biết chẳng thể níu kéo, đành sụt sùi mấy tiếng, rồi cũng từ biệt ta.

Vì chuyện này cho nên đến gần trưa ta mới về tới Thanh Khâu.

Ta chỉ ở hạ giới có hai tháng, Thanh Khâu đương nhiên cũng không thay đổi gì nhiều, non vẫn non ấy, nước vẫn nước ấy. Mão Nhật Tinh Quân vẫn hết sức ưu ái nơi đây, nắng chiếu vừa phải, không gắt cũng không nhạt.

Trước cửa động Hồ Ly gặp lại Mê Cốc mới xa ít ngày, ta trêu: “Những ngày qua, không có ta sai bảo, chắc ngươi sống khổ sở lắm nhỉ”.

Mê Cốc cười cười đầy ẩn ý, sau đó ngạc nhiên nói: “Cô cô chẳng phải quay về hôm qua sao, rồi đi làm một việc quan trọng, sao giờ lại nói như thể vừa mới từ cõi phàm quay về”.

Ta ngẩn ra phút chốc, cũng sửng sốt đáp: “Hôm qua ta vẫn còn ở hạ giới, đúng là bây giờ mới quay về”.

Khuôn mặt Mê Cốc dần dần trắng bệch, lẩm nhẩm: “Người hôm qua quay về là…”.

Ta lại ngây ra, run người.

Nếu người nào biến thành ta, với tu vi của Mê Cốc thì tuyệt nhiên không thể không nhận ra. Nếu trên thế gian này có một người đến Mê Cốc cũng tưởng lầm là ta, thì người đó chỉ có thể là…

Ta nhắm mắt lại.

Huyền Nữ.

Được lắm, được lắm, bảy vạn năm nay ta chưa từng đi quấy rầy ngươi, ngươi lại đến Thanh Khâu tìm ta rồi.

Ta hít một hơi thật sâu: “Người hôm qua tới là Huyền Nữ”.

Hai mắt Mê Cốc trợn lên, mặt trắng bệch.

Ta nhìn thần sắc của lão rất khác lạ, bèn hỏi: “Hôm qua ả ta làm sao?”.

Mê Cốc run run đáp: “Hôm qua, hôm qua, lúc nàng ta tới, nói với ta, nói đã tìm được một phép thuật mới để giữ tiên thể của thượng thần Mặc Uyên, bảo ta giao tiên thể của thượng thần cho mình. Ta, ta cứ tưởng nàng ta là cô cô, nên bèn, bèn tới động Viêm Hoa ôm tiên thể của thượng thần tới. Vừa hay, vừa hay tiểu điện hạ ngủ trưa tỉnh dậy, nhìn thấy cô cô, không, nhìn thấy nàng ta mà tưởng là cô cô, nên rất mừng, nàng ta bèn, nàng ta bèn dẫn tiểu điện hạ đi cùng”.

Ta choáng váng, nắm chặt tay áo Mê Cốc hỏi: “Ý lão nói là ả ta đã đưa sư phụ và A Ly đi rồi ư?”.

Sắc mặt Mê Cốc nhợt nhạt, nhìn chằm chằm vào mắt ta: “Cô cô, là ta giao tiên thể của thượng thần Mặc Uyên cho ả, người đánh chết ta đi”.

Sấm dậy giữa tầng không, mây đen ùn ùn, chớp lòe sáng chói, chiếc quạt Ngọc Thanh Côn Luân hơn năm trăm nay chưa từng sử dụng đang hiện chân hình trên mặt hồ, lừng lững giữa cột nước cao bảy trượng, phản chiếu đôi mắt đỏ ngầu của ta.

Ta cười: “Quạt ơi, hôm nay e là phải để ngươi nếm thử máu tươi rồi”.

Phía sau ta Mê Cốc lắp bắp gọi ta: “Cô cô”.

Ta quay mặt lại nhìn lão, an ủi: “Chẳng qua ta chỉ đi đánh nhau một trận, đưa sư phụ và cục bột nhỏ về, ngươi không cần hoảng sợ như thế, ầy, cứ đun một nồi nước trước đã, đợi ta quay về sẽ tắm rửa tẩy trần”.

Rồi lấy dải lụa trắng băng chặt hai mắt lại, niệm quyết, cưỡi một đám mây đen kịt bay thẳng đến cung Đại Tử Minh. T

hời thượng cổ, một số Ma Tộc do nghiệp chướng quá nặng sẽ bị trời phạt, sinh ra thai chết. Có một ma nữ tên là Tiếp Ngu vì sát nghiệp quá nặng, từng liên tiếp mang thai ba lần đều sinh con chết yểu. Sau này Tiếp Ngu nghĩ ra một cách, dùng pháp thuật để nuôi dưỡng hồn phách của đứa bé chết yểu, lại giết một vị thượng tiên, rồi đặt hồn phách của đứa bé chết yểu kia vào tiên thể của vị thượng tiên này, đứa bé chết yểu sẽ sống lại. Một vạn năm sau loạn Quỷ tộc, Chiết Nhan đến Thanh Khâu thăm ta, từng vô tình hữu ý nhắc đến, vương hậu của Ly Kính đã sinh ra một cái thai chết.

Huyền Nữ, nếu lần này ngươi dám làm càn động tới tiên thể của Mặc Uyên, đừng trách bản thượng thần không nể tình hữu nghị giữa hai tộc mà đại khai sát giới, dùng máu để rửa cung Đại Tử Minh.

Cửa cung Đại Tử Minh canh gác cẩn mật bảy vạn năm trước giờ đây chẳng ai đứng gác, đúng là tự mình hại mình.

Nếu ta vẫn là Bạch Thiển của bảy vạn năm trước, vẫn là Bạch Thiển phải chờ Mặc Uyên đêm xuống đến cứu… Ta cười nhạt một tiếng, quạt Côn Luân trong tay hơi rung động, ta khẽ áp nó bên bờ môi, khẽ nói: “Có phải mi ngửi thấy mùi máu rồi không?”.

Trước điện Lưu Ảnh của vương hậu cung Đại Tử Minh, Huyền Nữ đang quỳ trước một chiếc giường vàng, bên trái bên phải chen chúc đầy quỷ tướng. Ả cười nói: “Thiển Thiển, bảy vạn năm chẳng hay tung tích, nghe bệ hạ nói Tư Âm Thần Quân là một nữ tử, bản cung đã đoán được đó là ngươi. Khi gặp Tư Âm ở núi Côn Luân, bản cung đã rất kinh ngạc, ngoài Thiển Thiển nhà ngươi ra, đâu có ai giống bản cung đến vậy”.

Ta cười dịu dàng: “Vương hậu nói vui rồi, dáng vẻ của ngươi đâu phải như thế này, trí nhớ của lão thân tốt lắm, đến nay vẫn nhớ khuôn mặt ban đầu của ngươi, vương hậu, ngươi quên rồi sao? Hầy, thượng thần Chiết Nhan ở rừng đào mười dặm gần đây rảnh rỗi, nếu vương hậu thực sự đã quên, lão thân cũng chẳng ngại phiền hà, tình nguyện dẫn ngươi tới đó, giúp ngươi nhớ kỹ lại”.

Gương mặt ả từ đỏ chuyển sang trắng, rồi từ trắng chuyển sang tím tái, thực rất khó coi, sau khi đỏ sang trắng, trắng sang tím, ả bèn cười ha hả: “Cho dù nói thế nào, hôm nay ta vẫn sẽ lấy mạng của ngươi, thế gian này sẽ không còn ai giống với bản cung nữa. Từ hôm qua ta cướp được tiên thể của Mặc Uyên và con trai ngươi, bản cung đã biết ngươi sẽ tìm bản cung, bản cung luôn chờ ngươi ở đây. Lúc đầu bản cung đã sớm biết, vốn chẳng có ngọc hồn, ngươi cũng sẽ giữ được tiên thể của Mặc Uyên, chậc chậc, người quả nhiên không làm bản cung thất vọng, chỉ là khiến bản cung phải tìm lâu đến thế, đúng là đã đắc tội. Tiên thể của Mặc Uyên được ngươi bảo quản rất tốt, không ngờ con trai của bản cung có thể có được một cơ thể tốt như vậy, Thiển Thiển, xét ngươi có công lao ấy, bản cung sẽ cho ngươi chết thật thoải mái”. Nói đoạn ả lùi ra sau giường vàng một bước, hai hàng quỷ tướng đồng loạt lao về phía ta.

Ta cười lạnh, nói: “Để xem các ngươi có bản lĩnh gì đã!”.

Một tiếng hét như sấm dậy giữa không trung, chiếc quạt Ngọc Thanh Côn Luân từ tay ta vút tới, cuồng phong tứ phía gào thét nổi lên, quạt Côn Luân dài ba xích, ta nhảy vọt lên, nắm chặt nó trong tay, binh khí trong tay quỷ tướng phía dưới đồng loạt đâm tới.

Chiếc quạt vẽ một vòng, gạt bay hết thảy đao thương giáo mác của bọn chúng, rồi lại phất một cái, nhát nào nhát ấy đều chí mệnh. Chiết quạt này đã lâu không dùng đánh trận, phen này quạt rất mạnh, lần lượt xuyên qua những cơ thể máu thịt, khiến máu loang ướt đất. Trong hai hàng quỷ tướng này cũng có tên đánh rất khá, góc độ mà binh khí sắc nhọn đâm tới vừa hiểm hóc mà lại mạnh mẽ, mấy lần suýt nữa đã đâm trúng ta, may mà ta né kịp. Lúc đó ta vẫn chiếm thế thượng phong, nhưng bọn chúng quá đông, dàn trận từ buổi trưa, đánh cho đến lúc mặt trời khuất núi, bọn quỷ tướng bị chết, thương còn lại vài tên. Lưng ta cũng bị chém một nhát, dải lụa trắng băng mắt trong lúc đánh không cẩn thận đã bị rơi xuống đất. Đôi mắt chính là điểm yếu của ta, Huyền Nữ đứng bên ngoài bỗng móc ra một viên minh châu sáng lóa, chói đến mức đôi mắt ta đau nhói như dao đâm, vừa mới xao nhãng đã bị đâm một kiếm trúng ngực. Huyền Nữ cười ha ha: “Nếu bây giờ bệ hạ ở trong cung, có lẽ ngươi còn cơ hội sống sót, nhưng ngươi lại khéo tìm đến cái chết như vậy, bệ hạ đang đi ăn, chậc chậc chậc, thương tích đầy mình khiến người ta thật đau lòng, phen này xem ai cứu ngươi? Hộc Na, mau lấy mạng ả cho ta!”.

Chưa được nhìn Mặc Uyên một cái đã phải chết ở đây, thật nực cười biết bao, vết thương trên người sao bằng vết thương trong tim. Vết kiếm trước ngực xuyên qua sau lưng, quỷ tướng tên Hộc Na đâm trúng ta rõ ràng rất đắc ý, mà hễ đắc ý thì sẽ thiếu cảnh giác, ta giữ chặt lưỡi kiếm ấy, chiếc quạt vung lên mạnh mẽ, hắn còn chưa kịp phản ứng, đầu đã bị cắt phăng đi. Cho nên khi đánh nhau, chớ nên khinh suất. Ánh vàng chiếu làm ta không thể mở mắt ra được, nhưng lại không thể không mở mắt, có thứ gì đó chảy ra từ khóe mắt, Huyền Nữ vừa nãy còn vênh vang khoái chí giờ đã bặt tiếng. Chỉ có hai quỷ tướng vẫn đang bám dai như đỉa, nhưng rốt cuộc lại thiếu một người thứ ba đến ngăn ta, chiếc quạt đã uống máu lại càng khát máu hơn, chỉ chớp mắt, chúng trở thành tế phẩm cho chiếc quạt của ta.

Huyền Nữ giơ viên minh châu run rẩy nói: “Ngươi đừng qua đây, ngươi mà qua đây, ta sẽ hủy tiên thể của Mặc Uyên và giết con trai ngươi”. Sau lưng ả có hai cỗ quan tài bằng băng không biết được chuyển đến từ lúc nào, một cỗ lớn, một cỗ nhỏ, nằm trên cỗ lớn là Mặc Uyên, nằm trong cỗ nhỏ là cục bột nhỏ. Trước mắt ta chỉ có một màu đỏ ngầu, nhưng trong máu đó vẫn gắng nhìn ra được gương mặt nhợt nhạt của Mặc Uyên.

Ta dừng bước chân. Chiếc quạt rơi xuống đất. Ta nổi giận đùng đùng, quát: “Ngươi đã làm gì A Ly?”.

Ả vẫn run rẩy nhưng đã cố gắng trấn tĩnh hơn, đứng dựa vào quan tài băng, nói: “Giờ nó chỉ ngủ thiếp đi thôi, nhưng nếu ngươi tiến lên bước nữa, ta không dám đảm bảo nó sẽ không sao đâu”.

Ta nhìn ả trừng trừng, dường như máu trong khóe mắt chảy ra càng nhanh hơn.

Ả cười khoái chí: “Mau nhổ lưỡi kiếm ở ngực ngươi ra, rồi lấy chiếc quạt trong tay dâng cho ta”.

Ta không đáp, tiếp tục nắm chặt chiếc quạt tiến tới.

Ả hoảng loạn, gào lên: “Ngươi không được lại đây, ngươi mà dám bước tới ta sẽ đâm nó một nhát chết tươi”.

Quả nhiên, trong tay ả có một con dao.

Ta nhếch mép cười, nói: “Hôm nay bước vào cung Đại Tử Minh này, ta đã không muốn đi ra, ngươi giết nó đi. Ngươi giết nó, ta sẽ giết ngươi báo thù cho nó, chắc là nó cũng vui vẻ lắm. Ta giữ Mặc Uyên bảy vạn năm, người chẳng trở về, ta cũng sống hoài sống phí, nếu như A Ly sợ ra đi một mình, ta sẽ đi cùng với nó. Ngươi và ta sống lâu như vậy trên đời, cũng đã thấu hết lẽ tử sinh rồi”.

Ả bắt đầu nói năng lung tung, hoảng loạn hét lên: “Ngươi điên rồi, ngươi điên rồi”. Ta lau vệt máu tươi chảy nơi khóe mắt, cảm thấy mình cũng hơi điên, nhưng cũng không đến mức quá điên. Con người trước mặt này, ả làm nhục tôn sư của ta, làm hại người thân của ta, hôm nay không chém được ả bằng quạt Côn Luân, sao ta có thể nuốt được cục tức này?

Hễ quạt Côn Luân Ngọc Thanh mà nổi giận thì chấn động chín châu. Hôm nay nó đã uống đủ máu, hưng phấn vô cùng. Trên đỉnh cung Đại Tử Minh sấm chớp chói lòa, mưa trút xối xả rửa mặt đất đầy máu thành một dòng sông đỏ máu. Huyền Nữ nén giọng kêu lên: “Ngươi không thể giết ta. Ngươi giết ta, bệ hạ sẽ san bằng Thanh Khâu nhà ngươi, sao ngươi dám để liên lụy đến con dân của mình?”.

Ta cười nhạt: “Lúc đó chúng ta đều chết rồi, người chết còn quản chuyện sau này làm gì?”.

Huống hồ con dân của Thanh Khâu tuy không thiện chiến nhưng cũng không phải là không biết chiến đấu, Ly Kính muốn san bằng Thanh Khâu e là cũng chẳng dễ.

Nghĩ tới đây, ta buộc phải bổ sung thêm đôi câu: “Nếu ngươi thực sự lo lắng những chuyện sau này, chẳng bằng hãy lo lắng thái tử của Thiên tộc sẽ san bằng Quỷ tộc các ngươi. Lần này ngươi bắt con trai của hắn về, còn định giết con trai duy nhất của hắn, với cá tính của hắn, chắc chắn Quỷ tộc sẽ bị san bằng”.

Ả hình như không có phản ứng, ta cũng không định đợi ả phản ứng lại, quạt Côn Luân đã tích đủ sức mạnh, trong ánh chớp lóe lên, từ tay ta nó vọt lên rất nhanh, bỗng có một bóng người vọt lên chắn trước mặt Huyền Nữ, xoay ngược hướng tấn công của quạt Côn Luân bắn lại về phía ta. Huyền Nữ hoảng sợ túm lấy tay áo người kia, run rẩy gọi bệ hạ.

Quạt Côn Luân dùng sức đủ để giết người, bay đi quá nhanh, lại bị chặn lại nên chiều về còn mạnh hơn, vừa nãy ta dùng hết sức, thực sự không còn sức né tránh, đành cắn răng nhắm mắt, có thể hy sinh dưới binh khí của mình, kiếp này ta sống cũng không uổng. Nhưng đúng lúc nhắm mắt ta lại bị kéo mạnh sang một bên. Ta quay đầu sang nhìn người đang ôm mình, Dạ Hoa ơi Dạ Hoa, ngươi bấm giờ để đến sao, nếu ngươi đến sớm một khắc, thì ta đâu đến nỗi bị thương đến mức này.

Sắc mặt Dạ Hoa xanh tái, trong đôi mắt vốn luôn trầm tĩnh cháy lên lửa giận bừng bừng, cắn chặt môi, nửa thân người trên cứng lại, gấu tay áo của trường bào đen tuyền vốn màu trắng, đã bị máu ta nhuộm đỏ tươi. Mưa giận gió gào do quạt Côn Luân gây nên bị ngăn ngoài tiên chướng, những hạt mưa lớn gõ lên tiên chướng, chảy thành một màn mưa mù dày đặc. Hắn đưa tay sờ lên vết máu trên gò má ta, khẽ hỏi: “Thiển Thiển, là ai làm nàng bị thương thế này?”.

Ta đáp: “Kẻ làm ta bị thương đều bị ta chém chết, còn có một kẻ chưa bị chém chết vừa rồi đang chuẩn bị chém, thì bị phu quân của ả cản lại, ai da, ngươi thả lỏng một chút đi, toàn thân ta ê ẩm lắm”.

Ly Kính đang ôm Huyền Nữ phía đối diện toàn thân rúng động, trợn hai mắt lên nhìn, cười nói: “Thượng thần Mặc Uyên”.

Hóa ra là nhầm Dạ Hoa là Mặc Uyên.

Ta gượng nói với Ly Kính: “Không ngờ nhanh như vậy đã lại gặp nhau, Quỷ Quân cao thủ, suýt chút nữa thì lão thân mất mạng dưới tay Quỷ Quân rồi”.

Hắn buông Huyền Nữ ra, bước gấp đến trước mặt ta, nhưng lại bị tiên chướng của Dạ Hoa chắn, nên không thể đến gần. Toàn thân ta lúc này đau đớn khôn xiết, xem ra hắn đang nhìn rất kỹ để phân biệt.

Sau phép triệu hoán, quạt Côn Luân đã quay về tay ta, ta ngợi khen: “Vương hậu của Quỷ Quân quả nhiên rất lợi hại, trận ác chiến bảy vạn năm trước lão thân cũng chưa bị ép đến mức này, hôm nay đã được thụ giáo rồi”.

Sắc mặt của Ly Kính còn nhợt nhạt hơn ta mấy phần, hắn nghi hoặc nói: “A Âm, thái tử điện hạ? Chuyện, chuyện này là thế nào?”.

Dạ Hoa đang nhẹ nhàng ôm ta liền trầm giọng đáp: “Quỷ Quân Ly Kính, bản quân cũng muốn hỏi cung Đại Tử Minh của ngươi, chuyện này là như thế nào?”.

Ta quay đầu nói với Dạ Hoa: “Câu này ngươi đã hỏi sai đối tượng rồi, vương hậu Huyền Nữ mới là người cướp sư phụ ta và con trai ngươi, ngươi nên hỏi vương hậu của Quỷ Quân mới phải. A, cục bột nhỏ tạm thời không sao, ngươi cũng chớ nên lo lắng”.

Dạ Hoa dịu dàng đáp: “Đó cũng là con trai nàng”.

“Đúng thế, cũng là con trai ta”.

Ly Kính kinh ngạc kêu lên: “Con trai?”. Ta gật đầu. Ánh mắt hắn trở nên u ám: “Nàng…” một hồi mà không nói lên lời rồi lại quay sang nhìn Huyền Nữ, Dạ Hoa cũng nhìn Huyền Nữ, ta thấy họ đều nhìn Huyền Nữ bèn cũng cùng nhìn Huyền Nữ.

Viên minh châu trong tay ả đã bị Dạ Hoa đánh tan, ả đang quỳ trước mặt quan tài băng của cục bột nhỏ, nhìn thấy Ly Kính nhìn mình, ánh mắt trở nên hoảng loạn: “Bệ hạ, bệ hạ, con trai của chúng ta cuối cùng có thể quay về rồi. Chàng xem, thiếp đã tìm cho nó một cơ thể tốt biết mấy. Thiếp biết rằng cơ thể của Mặc Uyên có ích cho con trai của chúng ta, ban đầu con tiện nhân Bạch Thiển đến cung Đại Tử Minh mượn chàng ngọc hồn, chàng nên đưa cho nó. A, nhưng không ngờ rằng, không có ngọc hồn mà ả vẫn có thể nuôi cơ thể Mặc Uyên được tốt thế này. Bệ hạ, ngày xưa chàng đố kỵ với Mặc Uyên, từ bây giờ về sau chàng sẽ không phải thế nữa, hắn sắp thành con trai của chúng ta rồi…”.

Ly Kính quát lớn: “Câm miệng”,

Huyền Nữ hoang mang: “Bệ hạ, lẽ nào thiếp đã nói sai, khi xưa chàng không muốn cho con tiện nhân Bạch Thiển mượn ngọc hồn, không phải vì đố kỵ với Mặc Uyên sao? Nhưng bây giờ hắn sắp thành con trai của chúng ta, a, đúng rồi, chàng vẫn không biết con tiện nhân Bạch Thiển là ai, Bạch Thiển ở Thanh Khâu, chính thần quân Tư Âm năm xưa đó…”.

Tay của Dạ Hoa rúng động.

Ta tách ra khỏi lòng Dạ Hoa, cầm quạt Côn Luân bước ra khỏi tiên chướng, cười nhạt, nói: “Huyền Nữ, ngươi thử nhục mạ sư phụ ta một câu nữa, thử nhục mạ ta một câu nữa, tiên thể của sư phụ ta tôn quý không gì bằng, nhận máu tim của ta suốt bảy vạn năm đến bây giờ, e rằng con trai ngươi nhận không nổi đâu”.

Ly Kính quay phắt người lại, hai mắt đỏ ngầu, tiến lên mấy bước đến trước mặt ta: “Máu tim, nàng muốn nói…”.

Ta lùi lại phía sau một bước, căm hận nói: “Sao khi đó Quỷ Quân ngươi lại nghĩ rằng không có ngọc hồn của ngươi thì ta không giữ được sư phụ chứ? Những gì Huyền Nữ nói, Quỷ Quân nghe rõ rồi chứ? Bạch Thiển ở Thanh Khâu là một con hồ ly trắng chín đuôi, máu tim của hồ ly trắng chín đuôi thì có công dụng gì, ngươi có thể đi hỏi vương hậu của ngươi”. Ta chỉ vào lồng ngực của mình, mũi kiếm của Quỷ tướng Hộc Na còn găm bên ngực trái, ta cười gằn: “Khi đó, tiên thể của sư phụ thương thế trầm trọng, mỗi đêm cần một bát máu tim, uống liền một tháng, cơ thể ta sau trận chiến cũng gánh bao thương tích, hàng đêm lấy máu tim mình nuôi sư phụ, căn bản chẳng thể trụ đến ba tháng, ngỡ rằng ta với ngươi vốn còn chút tình huynh đệ, mới mặt dày đến cung Đại Tử Minh của ngươi để cầu ngọc hồn, lúc đó, Quỷ Quân Ly Kính, ngươi nói gì với ta?”.

Hắn nghẹn giọng đáp: “A Âm, khi ấy ta không biết nàng bị trọng thương, A Âm, ta không biết, ta không biết…”.

Ta lau những giọt nước mưa đọng trên mặt, chỉ vào cỗ quan tài của Mặc Uyên cười nói: “Ngươi có biết ta làm thế nào để mỗi đêm lấy máu tim trong liền ba tháng không? Bây giờ, nếu nói Bạch Thiển ta vẫn còn là một thiện thần, thì chỉ vì ta còn một trái tim biết tri ân báo thù, sư phụ dạy dỗ ta hai vạn năm, luôn cứu ta trong lúc nguy nan, nếu không báo đáp ơn tình này của người, Bạch Thiển ta sao xứng với hai chữ thượng thần? Coi như ta kém cỏi, khi ấy liên tục lấy máu tim mình trong bảy đêm, thì không còn biết gì nữa, nếu như không phải mẹ ta đến kịp, độ cho ta một nửa tu vi của bà, thì thượng thần Tư Âm đã mất tung tích như truyền thuyết rồi. Ngươi còn nhớ những gì ta nói khi xưa không, không đội trời chung với cung Đại Tử Minh các ngươi? Bây giờ, ta nể tình giao hảo giữa Thần tộc và Quỷ tộc khó khăn mới xây đắp được, không đối địch với cung Đại Tử Minh các ngươi nữa, ngươi vẫn còn tưởng rằng ta sợ các ngươi ư?”.

Sắc mặt Ly Kính lạnh lẽo thê lương.

Vì nói những lời vừa nãy quá mất sức, lại thêm toàn thân bị thương, lúc đó không cảm thấy gì, bây giờ dừng lại thở hổn hển, cảm thấy đau đớn không chịu được. Rất tốt, cơn đau này cũng trong chốc lát thôi.

Ta nén ho mấy tiếng, Dạ Hoa vội chạy đến đỡ ta, ban nãy ta nói chuyện cũ với Ly Kính, không chú ý hắn đã cứu Mặc Uyên và cục bột nhỏ trong quan tài băng ra, đang dùng tiên khí hộ thể, rồi đặt họ ở đằng sau hắn. Nhìn hắn quả rất giống Mặc Uyên, từ kiểu tóc cho đến trang phục, ngoài sắc mặt Mặc Uyên nhợt nhạt ra, hai người gần như chẳng có điểm gì khác biệt.

Ly Kính vẫn nhìn ta chằm chằm, hồi lâu sau mới nói: “A Âm, không phải như thế, hôm đó, sau khi nàng đi, ta đã tìm nàng rất lâu, suốt bảy vạn năm ta chưa ngừng tìm nàng. Sau này ta đã nghĩ rất nhiều, A Âm, Huyền Nữ nói đúng, hôm đó ta không cho nàng ngọc hồn là vì ta biết nàng sẽ dùng nó để cứu sư phụ, ta đố kỵ hắn, A Âm, ta thực sự chưa bao giờ quên nàng”.

Câu nói “ta chưa bao giờ quên nàng” của hắn làm trái tim ta nảy lên một cái, ta trấn tĩnh lại, than rằng: “Ly Kính, không phải ngươi chưa bao giờ quên ta, mà đời này ngươi vĩnh viễn theo đuổi cái ngươi đã mất hoặc cầu mà không được, nhưng một khi ngươi có được nó thì ngươi sẽ không bao giờ trân trọng nó nữa”.

Ánh mắt hắn ngân ngấn lệ, lại một hồi lâu sau, mỉm cười nói: “Nàng nói vậy, chỉ là muốn giảm bớt gánh nặng phải không, ngay từ đầu nàng chưa từng yêu ta, phải không? Cho nên khi ta ở bên Huyền Nữ, nàng mới buông tay dễ dàng như thế, khi ấy, có phải nàng đã chán ghét ta đến cực điểm từ rất lâu rồi, phải không?”.

Huyết khí trong lồng ngực khó khăn mới trở lại bình thường, bỗng lập tức cuộn trào, ta cắn răng cười nhạt, nói: “Ban đầu ngươi gây ra lỗi lầm ấy, còn muốn ta cùng Huyền Nữ chung một chồng sao? Bây giờ lại là ta không đúng! Ngươi chỉ biết Huyền Nữ là một nữ tử yếu đuối, cần được ngươi thương xót, dù ban đầu ta mang lốt nam nhi, nhưng trái tim đâu phải là sắt đá, bị hai ngươi giày xéo như thế cũng phải rỉ máu tươi, khi ta đau lòng uống say khướt, ác mộng triền miên thì ngươi ở đâu? Ngươi cùng Huyền Nữ làm những gì?”.

Sắc mặt Ly Kính trắng bệch.

Ta với cánh tay của Dạ Hoa, ho sặc sụa, phía sau lưng Dạ Hoa cười lạnh nói: “Quỷ Quân đừng vội tính món nợ năm xưa, bản quân tạm thời hỏi Quỷ Quân một câu, hôm nay vương hậu của ngài gây nên món nợ này, chúng ta nên tính riêng hay tính chung đây?”.

Ly Kính còn chưa đáp, Huyền Nữ đã run run hỏi: “Riêng thì sao mà chung thì sao?”.

Dạ Hoa trầm giọng nói với Ly Kính: “Riêng thì mời Quỷ Quân Ly Kính lột da róc gân vương hậu thiếu hiểu biết của ngài, đọa hồn phách xuống súc sinh đạo (23), mãi mãi không được siêu sinh, để rửa mối giận trong lòng bản quân. Còn chung ư, tướng sĩ Thiên tộc ta đã nhiều năm chưa đánh trận, quá ư nhàn rỗi, bọn ta cũng đang định thử xem, bao năm trôi qua, để xem tộc nào luyện binh giỏi hơn!”.

Huyền Nữ hít vào một hơi, trong cơn mưa tầm tã ả bò đến ôm chặt chân Ly Kính, ngẩng đầu lên nói: “Bệ hạ, cứu thần thiếp!”.

Ly Kính nhìn ả, nói: “Nàng đúng là thiếu hiểu biết”.

Giọng Huyền Nữ thảm thiết: “Chàng muốn lột da róc gân thiếp thật sao? Chàng quên rồi, chàng đã quên năm xưa thiếp vì chàng mà làm biết bao việc, không có thiếp, chàng có thể dễ dàng lên ngôi Quỷ Quân sao? Bây giờ chàng lại, chàng lại…”. Tiếp đó lại khẩn cầu: “Bệ hạ, Thiên tộc sẽ không xuất binh đâu, hắn không có quyền hiệu triệu Thiên tộc xuất binh, hắn cũng chỉ là một thái tử mà thôi, vì một nữ tử mà xuất binh, Thiên tộc sẽ không đồng ý đâu…”.

Dạ Hoa đổi tư thế, ôm lấy ta, khẽ nói: “Bản quân không chỉ đơn thuần vì một nữ tử mà xuất binh, thượng thần Mặc Uyên là tôn thần của Thiên tộc ta, thượng thần Bạch Thiển là đế hậu tương lai của Thiên tộc ta, A Ly tương lai nhất định sẽ kế thừa ngai vị của bản quân, lần này, ba người họ lại bị cung Đại Tử Minh các ngươi sỉ nhục ghê gớm, ngươi nói xem, các tướng sĩ Thiên tộc có thể nuốt giận được không?”.

Ly Kính chẳng đếm xỉa đến Huyền Nữ đang ôm chân hắn, thần sắc tê dại, nói: “Từ trước tới giờ Huyền Nữ có hơi điên cuồng, nếu không cũng sẽ không phạm phải sai lầm như vậy, xin thái tử điện hạ chừa cho một con đường sống”.

Dạ Hoa dịu dàng hỏi: “Thiển Thiển, nàng nói xem, có thể chừa cho một con đường sống không?”.

Lúc này tâm lý đã thoải mái hơn, toàn thân ta đau nhức không thể nói nên lời, vốn định nói vài câu thật “ác”, nhưng quá mệt mỏi nên chỉ lắc đầu.

Huyền Nữ cười ha hả: “Dạ Hoa Quân, uổng thay cho ngươi đối tốt với con tiện nhân Bạch Thiển, ngươi có biết nó có tư tình với sư phụ nó không?”.

Ta choáng váng, giận dữ cực độ, chực vùng ra lên cho ả hai cái bạt tai, Dạ Hoa đã đẩy một đạo sét về phía trước, Ly Kính không che chắn cho ả nữa, Huyền Nữ bị đánh bật về phía sau hơn mười trượng, ngã trúng lên chiếc giường vàng, nôn ra một ngụm máu tươi.

Dạ Hoa nói: “Bản quân xưa nay không đánh đàn bà, Thiển Thiển còn nói khuôn mặt ngươi rất giống với nàng, còn ta thì nhìn không ra giống ở điểm nào”.

Ta tách ra khỏi Dạ Hoa, từ từ lê bước đến trước mặt Huyền Nữ, nhìn khuôn mặt giống ta tới tám, chín phần đang đẫm máu, nhẹ nhàng nói: “Khuôn mặt này ta đã cho ngươi, ta vốn không quá để tâm, nhưng nay nhìn gương mặt này của ngươi, lại khiến ta không vui”.

Ả hoảng sợ đến mức đứng bật dậy lùi về sau, cuống quýt nói: “Ngươi định làm gì? Ta, ta vốn như thế này mà, ngươi, ngươi đừng đoạt dung mạo của ta. Ngươi cứ mời Chiết Nhan tới đi, ta, ta cũng không sợ đâu…”.

Tay phải ta bắt ấn già, miệng cười lạnh lùng, nói: “Mời Chiết Nhan đến làm gì, trước kia ta chỉ nói giỡn với ngươi thôi, ngươi tưởng phép dịch dung này khắp bốn bể tám cõi chỉ có một người biết sao? Lão thân bất tài, rong chơi suốt bảy vạn năm nay, phép thuật này lại rất tinh thông. Ngươi sắp bị lột da róc gân thì cũng đâu thể mang khuôn mặt của ta đi lột da róc gân được”. Nói đoạn, ta bèn dùng hết sức bắt ấn già, niệm chú, một đạo hào quang trắng lóa lên, Huyền Nữ ngây ra nhìn ta.

Ta cúi xuống vỗ vỗ lên mặt ả, rồi rút một chiếc gương từ trong tay áo ra đưa cho ả, vẫn may, chiếc gương này chưa bị máu vấy bẩn, vẫn còn rất sáng. Ta nhẹ nhàng nói với ả: “Ngươi xem này, khuôn mặt của ngươi bây giờ không phải rất tốt sao? Đây mới là dung mạo nguyên bản của ngươi, phải nhớ kỹ đấy nhé”.

Ly Kính đứng bên lẩm bẩm: “Sao lại thế này, sao lại thế này…”.

Huyền Nữ bỗng thét lên một tiếng, khiến ta quay lại về phía sau nhìn, ả đang móc hai tròng mắt của mình ra, nói lảm nhảm: “Không, không, không, ta không phải thế này, ta không phải thế này”.

Khuôn mặt đẫm máu của ả trông hơi đáng sợ.

Ly Kính vẫn thất thần.

Ta lắc đầu than: “Rõ ràng khả năng chịu đựng quá kém mà”. Rồi ta quay đầu lại nói với Dạ Hoa: “Thực ra ta thấy dáng vẻ nguyên bản của ả cũng là một giai nhân thanh tú rồi”.

Lời bình vừa dứt, cổ họng đã ngòn ngọt, khóe miệng lại rỉ máu.

Ánh mắt Dạ Hoa tối sầm lại, ôm lấy ta rồi nói với Ly Kính: “Quỷ Quân Ly Kính, ngươi tự định liệu đi”. Rồi hắn quay sang thì thầm bên tai ta: “Thiển Thiển, nàng còn trụ được không?”. Ta nghĩ một lát rồi lắc lắc đầu. Ánh mắt trước mặt ta chợt bừng lên dịu dàng vô hạn, ta dần dần ngủ thiếp đi.

Chú thích:

23. Súc sinh đạo: Một đạo trong Lục đạo luân hồi của Phật giáo, gồm: Thiên đạo, A Tu la đạo, Nhân đạo, Súc sinh đạo, Ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo. Đẩy xuống súc sinh đạo có nghĩa là đầu thai làm súc vật (ND).

 

Chương 13: Vạn tuế già nở ra sen tịnh đế

Khi ta còn học nghệ ở núi Côn Luân, quy củ trên núi tương đối nghiêm khắc. Buổi sáng, khi chưa tới giờ Thìn đã phải thức dậy học bài, buổi tối không quá giờ Tý là phải tắt đèn đi ngủ.

Vì ta và đại sư huynh đi chơi loanh quanh, đợi sư phụ ra ngoài, thi thoảng cũng có thể lén trốn một buổi học, ngủ nướng thêm một canh giờ, đến cuối giờ Tỵ mới dậy. Nhưng nhiều lắm cũng chỉ là cuối giờ Tỵ mà thôi. Thói quen được nuôi dưỡng trong nhiều năm, tuy nay ta đã rời khỏi sư môn bảy vạn năm nhưng vẫn nhớ. Cho dù ngày đông người có lười nhác, cũng không thể nằm trên giường quá giờ Tỵ được. Thế nên, dù ngày hôm qua ta cực sung sướng đến làm loạn một trận ở cung Đại Tử Minh, đầy mình thương tích, chân tay đau nhức đến mức đầu óc tê buốt, đến giờ Thìn ta vẫn tỉnh dậy. Nhìn thấy mình đang nằm trên chiếc giường lớn chạm trổ hoa ở động Hồ Ly là ta thấy an lòng rồi.

Hôm qua, ta ngất cũng khá đúng lúc, còn chưa nhìn thấy Dạ Hoa mang ba người bọn ta – Mặc Uyên, cục bột nhỏ và ta ra về, nhưng với tu vi của hắn thì làm việc đó cũng đâu khó.

Mê Cốc xưa nay vốn nhanh nhẹn, hẳn là đã đem tiên thể của Mặc Uyên về động Viêm Hoa, nhưng không biết tư thế lão đặt có phải là tư thế Mặc Uyên hay nằm ngủ không. Ta không an tâm lắm, bèn giở chăn dậy đi xem sao.

Vừa cử động, đã chạm tới vết thương trước ngực, đau đến mức ta phải thở hắt ra một hơi lạnh. Nghe thấy tiếng thở của ta, thứ ở bên cạnh chăn bỗng nhúc nhích. Ta chớp chớp mắt muốn nhìn kỹ, lại bị giật mình trước ánh mắt nóng như lửa đốt đó. Chủ nhân của ánh mắt đó đang nhoài người nằm bên mép giường của ta, vừa lo lắng, vừa hiền hòa, lại vừa vui mừng nhìn ta.

Ta ngẩn người ra.

Ta ngẩn người ra là có lý do của nó.

Theo như vở kịch mà ta đọc được khi ở phàm giới, nếu một thư sinh khi đi đường gặp phải một sơn tặc, thì một hiệp sĩ giữa đàng rút đao giải cứu, đợi thư sinh kia trấn tĩnh sau cơn kinh sợ, kẻ lên sân khấu đương nhiên sẽ là vị hiệp sĩ ân nhân trẻ tuổi kia, tuyệt nhiên không có vở kịch nào lại chêm vào lính chạy cờ (24) trong hồi gay cấn như vậy. Tình thế trước mắt ta chính là một thư sinh gặp phải cường đạo, vốn đây là thời cơ tốt cho Dạ Hoa hiệp nghĩa gan dạ lên sân khấu, nhưng lại bị một người không quen không biết chạy tới. Vì thế, ta mới giật mình sững sờ như thế.

Vị nhân huynh lính chạy cờ kia mắt sáng rỡ lên nhìn ta một hồi, khẽ giọng nói: “Nàng, bây giờ nàng cảm thấy thế nào?”.

Ta thận trọng đi tới, đáp: “Ngủ một giấc, tinh thần đã hồi phục tám, chín phần rồi”.

Thật ra ta là một thượng thần, tiên thân tuy đã sớm được rèn luyện qua kiếp nạn, thương thế được nghỉ ngơi thì cũng hồi phục sớm hơn người thường, nhưng cũng không đến mức nhanh như vậy. Ta nói dối, là vì ta có chút khúc mắc với vị nhân huynh trước mặt. Nếu ta tỏ ra yếu đuối trước mặt hắn, hắn sẽ nhân lúc ta bị trọng thương, âm thầm hạ độc thủ, thực sự đau đớn lắm thay.

Nguồn duyên giữa ta và vị nhân huynh này thì phải truy ngược về khi Chiết Nhan tặng cho tứ ca ta vật cưỡi là Tất Phương điểu (25). Con Tất Phương mà Chiết Nhan săn được từ Tây Sơn về chính là vị nhân huynh áo khăn chỉnh tề trước mặt ta bây giờ.

Khi Tất Phương còn là vật cưỡi của tứ ca, chúng ta đối xử với nhau rất tốt, hắn còn chở một mình ta đến rừng đào mười dặm ăn đào mấy lần, uống rượu mấy bận. Sau này không biết vì duyên cớ gì mà không chịu chở ta nữa.

May mà hơn một ngàn tám trăm năm sau ta mới biết được nguyên nhân.

Đại khái là hắn thích Phượng Cửu, Phượng Cửu lại quấn quýt bên ta, cho nên hắn mới đâm ra có chút hiềm khích với ta.

Hắn ghen tuông như vậy thực vô lý, ta với hắn đâu phải quen biết sơ sơ, vậy mà hắn lại quá nhỏ mọn, dường như mỗi ngày không cãi nhau với ta hai câu thì không sống được. Cho nên sau khi hắn đi, ta mới được sống những ngày yên ổn.

Cửa sổ đang mở toang, ánh sáng tuy không gắt, nhưng mắt ta vốn không tốt, bị hoa mắt đến buốt nhói. Tất Phương vội vàng chạy tới nói: “Ta khép cửa lại nhé?”.

Ta giật mình trước sự khiêm nhường và dịu dàng của hắn, mũi “hừ” một tiếng.

Hắn đóng cửa sổ lại, rồi lại vân vê mép chăn của ta, dựa bên giường một lát, rồi lại thân mật hỏi ta có uống nước không. Đến Mê Cốc cũng chẳng chu đáo, tỉ mỉ được như thế.

Ta cũng hơi khát, nhưng hành vi của Tất Phương lại khiến lòng ta nghi hoặc, đợi hắn đi rót trà, trong lúc hoang mang ta cũng hơi hiểu ra.

Ta rầu rầu, cười hỏi: “Tứ ca? Có phải tứ ca không? Vì muội đánh nhau nên pháp lực suy yếu, không nhận ra nổi phép biến hóa, nên huynh hóa Tất Phương để trêu muội. Hi hi, dáng vẻ hóa giống lắm, nhưng tính cách lại diễn không giống, huynh chưa thấy dáng vẻ Tất Phương lúc nóng lúc lạnh với muội thường ngày…”.

Bóng người đang rót trà dừng lại. Hắn quay đầu, thần sắc phức tạp: “Ta không có biến hóa, ta thực sự là Tất Phương, thượng thần cùng điện hạ đi Tây Hải giải quyết công chuyện rồi, một mình ra ở rừng đào cũng thấy chán, nên tới đây thăm nàng”.

Ta ngây ra, khóe môi giật giật mấy cái, gượng cười: “Ha ha, loài chim bay các ngươi tính lạnh, vốn trời sinh đã không giống loài thú chạy chúng ta, ta nói như thế, người chớ để trong lòng, chớ để trong lòng nhé…”.

Nét mặt hắn nhìn không ra là mừng hay giận, đoạn rót trà rồi đỡ ta uống hai ngụm, nhìn ta im lặng hồi lâu, bỗng nói: “Nếu lúc đó ta ở bên cạnh nàng, liều hết tu vi của ta quyết sẽ không để chúng chạm đến một sợi lông tơ của nàng”.

Ta cười cười: “Đều là ở động Hồ Ly mà ra cả, đó là tự nhiên, đó là tự nhiên, Tất Phương, bao giờ ngươi hẹn đánh nhau với người ta, ta cũng sẽ trợ uy giúp ngươi”. Lại nghĩ đến câu hắn nói “liều hết tu vi của ta”, từ “trợ uy” của ta tự nhiên hạ xuống thật khẽ, thật khẽ, bèn ho một tiếng bổ sung: “Cho dù là đánh tan thành tro bụi”. Tự nhiên cảm thấy ta nói năng còn tình cảm hơn cả hắn, cũng cảm thấy có chút mừng vui.

Mấy câu nói năng tình cảm này chẳng qua chỉ là đưa chuyện, quá ư dễ, hắn đưa một câu ta tiếp một câu, cho dù chẳng thật lòng, nhưng vẫn được người ta dễ chịu. Nhưng Tất Phương xem ra lại không dễ chịu như thế, hai mắt nhìn ta chằm chằm, tuy là chằm chằm nhưng vẫn khác so với thường ngày, có chút còn hơi kỳ quái.

Ta hắng giọng một cái.

Hắn quay người lại: “Thiển Thiển, nàng định giả ngây đến bao giờ, rõ ràng biết từ khi ở Thanh Khâu ta đã thương nhớ nàng rồi, nhưng nàng lại nói những lời chọc tức ta”.

Ta sốc.

Mẹ ơi, người ta nói loài lông vũ là chung thủy nhất, không động tình thì chớ, hễ động tình là đến chết không thôi, nếu thương nhớ một người, thì chắc chắn đến già vẫn thương nhớ người đó. Tất Phương đã thương nhớ cháu gái ta, theo truyền thống loài lông vũ nhà hắn, thì vẫn mãi thương nhớ mới phải, vậy hắn đã chuyển sang ta từ lúc nào, lúc nào?

Hắn nói tiếp: “Vì nàng và thái tử của Thiên tộc đã sớm có hôn ước, ta đành phải chôn giấu mối chân tình. Nhưng lần này, lần này, nàng gặp đại nạn, hắn lại chẳng thể bảo vệ nàng. Nghe nói, ở Thiên Cung hắn còn nạp một thứ phi, ta đi bao ngày như thế cũng đã dò la rất kỹ, hắn phong lưu như vậy, cũng không biết toàn tâm toàn ý với nàng, ta làm sao an tâm giao nàng cho hắn, ta….”.

Hắn còn chưa nói hết lời, cửa đã “cạch” một tiếng, mở ra.

Dạ Hoa thần sắc xanh xao đứng ở cửa, trong tay bê một bát thuốc vẫn còn bốc hơi nóng nghi ngút. Trong lúc hoang mang ta vẫn cảm nhận được, đoạn báo ân bỗng biến thành đoạn trăng gió, vở kịch này quả là một vở kịch độc đáo.

Tất Phương liếc xéo Dạ Hoa, không nói không rằng.

Dạ Hoa đặt bát thuốc lên án thư, vì Tất Phương đứng bên cạnh giường nên đành ngồi xuống cạnh án thư, lạnh lùng, im lặng.

Trong căn phòng tràn ngập sự tĩnh lặng.

Nhân lúc rảnh rỗi, ta định bảo Tất Phương nói hết những lời vừa rồi. Vừa nãy hắn nói ta và Dạ Hoa đã có hôn ước, nên mới chôn giấu mối chân tình.

Mối chân tình của hắn quả thực chôn quá sâu, đến nỗi một vạn tám nghìn năm trôi qua ta cũng không nhìn ra, hi hi hi.

Tuy ta không có ý gì với Tất Phương, nhưng hắn nói thương nhớ ta, nay đột ngột thổ lộ khiến ta vui thầm trong lòng. Từ khi Tang Tịch thoái hôn, Thiên Quân ban đạo thiên chỉ đó, căn bản ta đều lẻ loi một mình, tẻ nhạt hơn rất nhiều so với những thần tiên đồng lứa. Tuy bề ngoài ta tỏ vẻ coi thường, nhưng trong lòng ta lại rất để ý chuyện này. Vì thế khi Tất Phương bày tỏ, cũng đã khiến nỗi chua xót và sự cảm động dồn nén trong suốt năm vạn năm qua của ta được giãi bày.

Ta cảm thấy cho dù không thỏa nguyện cho Tất Phương thì cũng phải nói lời từ chối thật tế nhị, không thể làm tổn thương trái tim của hắn, nên nói: “Chuyện này, chung quy ta cũng đính ước với Thiên tộc trước, ta và ngươi, ta và ngươi đành có duyên mà không có phận. Ngươi nói thương nhớ ta, ta cũng rất thích. Nhưng phàm chuyện gì cũng cần có đầu có cuối, đúng không?”.

Hai mắt Tất Phương sáng lên, hắn nói: “Nếu nàng có thể bên ta, ta nguyện gánh tội với Thiên tộc”, nói đoạn quay sang lườm Dạ Hoa, ta mới chú ý rằng trong khói sương mù mịt, sắc mặt của Dạ Hoa đã khó có thể dùng lời để tả được.

Dạ Hoa trưng cái bản mặt khó coi đó đương nhiên cũng có lý của hắn ta. Ta cũng hiểu, thân là vợ chưa cưới của hắn, lại cùng một nam tử nói chuyện yêu đương trước mặt hắn thì cũng hơi hoang đường, làm mất thể diện của hắn. Nhưng ta với Tất Phương thực sự quang minh chính đại, là lần này hắn tới không đúng lúc, ta không thể vì hắn xông tới mà đá Tất Phương. Rốt cuộc mối giao tình của ta và Tất Phương cũng không tồi.

Trong lòng đắn đo, ta hỏi Dạ Hoa: “Hay ngươi ra ngoài trước đi?”.

Hắn không thèm đếm xỉa tới ta, cúi đầu nhìn bát thuốc đen sì đó.

Tất Phương lại ngồi gần ta thêm một tiếng, dịu dàng nói: “Nàng nói đi, nàng có bằng lòng theo ta không?”.

Làm như vậy trước mặt Dạ Hoa, Tất Phương cũng to gan thật đấy.

Ta cười cười: “Ngươi cũng phải biết ta là người rất coi trọng lễ tiết, đã đính ước với Thiên tộc, ta quyết không làm điều gì để Thanh Khâu và Cửu Trùng Thiên phải khó xử. Tâm ý của ngươi ta xin nhận, cũng vô cùng cảm kích. Nhưng chúng ta quả thực có duyên mà không có phận, không cần phải nói nhiều, nếu ngươi một lòng nghĩ đến ta thì hãy thôi đi, cứ tiếp tục chôn giấu đi, ta cũng hiểu được trái tim của ngươi, mãi mãi cũng không dám quên”.

Những lời này đương nhiên ta nói rất kín kẽ, từ tốn, giữ thể diện cho cả Tất Phương lẫn Dạ Hoa.

Tất Phương đờ đẫn nhìn ta một lát, thở dài một tiếng, lại đắp chăn cho ta, rồi quay người đi ra khỏi phòng. Dạ Hoa vẫn đứng bên án thư, trong làn khói thuốc, không nhìn rõ được khuôn mặt.

Ta ngủ một giấc, tinh thần chỉ khôi phục được một phần mười mà thôi, cùng Tất Phương nói chuyện một hồi, lúc vui lúc sợ lúc lo lúc sầu, đại thương nguyên thần, trong lúc lo lắng vẫn canh cánh muốn đến động Viêm Hoa một chuyến, lúc này Dạ Hoa vẫn đứng trong phòng của ta, nên cũng không tiện đi. Ta đắn đo tìm một cái cớ để đuổi hắn đi, nghĩ mãi nghĩ mãi, bèn tức giận nói với hắn: “Hầy, phiền ngươi bưng thuốc cho ta, ta bỗng cảm thấy buồn ngủ, uống xong thuốc ta sẽ ngủ một giấc, ngươi cứ làm việc của người đi”.

Hắn “ừ” một tiếng, rồi bưng thuốc qua.

Thuốc đắng dã tật, thuốc đắng như thế này, quả nhiên là thuốc tốt. Một bát thuốc trôi xuống ruột, đắng từ đầu lưỡi chạy xuống chân, rồi từ chân lại chạy lên lưỡi, khiến ta sặc sụa một hồi.

Dạ Hoa tiếp tục đặt bát thuốc trên ghế, nhưng vẫn chưa đi, chỉ quay đầu nhìn ta, nói: “Nàng biết không, mỗi lần nàng không muốn ta đứng trước mặt nàng, nàng đều kiếm cớ buồn ngủ? Lúc này nàng không phải đang kiếm cớ thật chứ?”.

Ta ngẩn người.

Thành thực mà nói là ta đang kiếm cớ, nhưng chuyến này là ta bất đắc dĩ nên mới nói thế, chứ không phải lần nào cũng vậy.

Ta còn đang mải nghĩ đến chữ “lần nào” ấy, thì hắn đã xiết lấy eo ta. Vì ta bị thương cũng nặng, nên bất giác hiện nguyên hình, thân hình hồ ly không được như thân người, eo là eo mà chân là chân, vậy mà hắn có thể phân biệt được eo của hồ ly khiến ta bội phục.

Hắn trầm giọng, chầm chậm gọi: “Thiển Thiển”.

Ta “ơi” một tiếng,

Hắn lại xiết chặt hơn, không nói gì nữa. Lát sau, cuối cùng vẫn thốt một câu: “Những gì nàng nói vừa nãy, là thật lòng chứ?”.

Ta hơi không hiểu, những lời vừa nãy của ta, đều là nói cho Tất Phương nghe, đâu liên quan gì tới hắn. Ta thật lòng hay không, rõ ràng phải để Tất Phương hỏi mới phải.

Hắn cúi đầu dường như cười một tiếng, tiếng cười này như thể không biết phải làm sao: “Lần này nàng để mặc ta ôm nàng, những ngày ta đến ở Thanh Khâu, nàng ngày ngày rót nước pha trà cho ta, cùng ta đánh cờ, cũng đều vì hai chúng ta có hôn ước hay sao? Nếu như đính ước với nàng là một người khác, nàng…” Hắn càng ôm ta chặt hơn, thở dài một tiếng, nhưng không nói tiếp nữa.

Ta lấy làm thắc mắc, thấy câu hỏi của hắn kỳ quặc vô cùng, đây chẳng phải là chuyện đương nhiên sao, nếu không phải hai chúng ta có hôn ước từ trước thì hắn có thể ở chỗ ta kiếm chác hết lần này đến lần khác sao? Hẳn là lúc chuẩn bị đến Thanh Khâu ở đã bị Mê Cốc đánh đuổi đi, làm gì có chuyện vào trong động Hồ Ly, lại được phân cho một gian nhà tốt? Còn chưa nói ta còn chia cho hắn thư phòng mà tam ca lâu ngày không dùng, đối đãi ân cần với hắn như vậy.

Nhưng từ khi quen biết, hắn đã có tính cách dù núi Thái Sơn sập xuống trước mặt cũng không chớp mắt ấy rồi, bây giờ lại tỏ dáng vẻ yếu đuối trước mặt ta, quả thực hơi bất thường.

Ta cười khan hai tiếng: “Ta đối với ngươi tốt một chút cũng không hoàn toàn là vì hôn ước”.

Hắn đờ ra, ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt lóe sáng. Ta bị hắn nhìn thành ra mất tự nhiên, hắng giọng nói: “Trong những ngày ngươi ở động Hồ Ly, ngày nào cũng phê công văn rất vất vả, vậy mà vẫn nhớ nấu cơm cho chúng ta ăn. Điều này ta đều nhớ cả, luôn luôn ghi nhớ trong lòng. Có câu có qua có lại mới toại lòng nhau, ngươi ném cho ta một quả đào, đương nhiên ta cũng phải trao lại cho ngươi một quả mận, không có mận thì lấy quả tỳ bà thay cũng được. Đổi lại là hôn ước giữa ta và một người khác, thì hắn chưa chắc đã làm được như ngươi, còn ta cũng chưa chắc có thể nhẫn nại uống trà chơi cờ với hắn”.

Những lời này của ta rất hợp tình hợp lý, đây chính là cái đạo chung sống giữa vợ chồng xưa nay, hai mắt Dạ Hoa tối sầm lại. Hắn im lặng hồi lâu, ta không hiểu sao hắn lại như vậy, cũng không tiện quấy rầy, chỉ nhìn lên đỉnh giường, nhớ đến cấm chế ở cửa động Viêm Hoa cũng cần phải thay rồi.

Hắn đột nhiên rúc đầu vào hõm vai ta, buồn bã nói: “Ta chưa bao giờ làm cơm cho người khác ăn, ta chỉ làm cơm cho mình nàng ăn”.

Ta bấu móng tay vào lưng hắn, gật đầu nói: “Tài nghệ nấu nướng của ngươi rất đỉnh, lúc nào rảnh đến nấu cho cha mẹ ngươi ăn, để thể hiện chữ “hiếu” đi”.

Hắn không thèm để ý, lại nói: “Ta làm những điều đó không phải vì ta và nàng có hôn ước. Ta đến Thanh Khâu cũng chẳng phải tại A Ly nhớ nàng”.

Ta đã hiểu, bèn nói: “A, nấu nướng hóa ra lại là sở thích của ngươi. Sở thích này đúng là sở thích hay, rất thực dụng đấy”.

Hắn càng ôm ta chặt hơn, nhưng vẫn không thèm để ý đến ta, lại nói: “Thiển Thiển, ta yêu nàng”.

Ta hoang mang giây lát, mở to mắt, kinh ngạc khôn cùng.

Trời sập cũng chẳng làm người ta chấn động như thế này.

Ta cứ tưởng cây nhân duyên của mình là một cây vạn tuế già, có sống đến vạn vạn năm cũng chẳng ra hoa, hôm nay, cây vạn tuế này đột nhiên, đột nhiên nở hoa rồi ư (26)? Hơn nữa lại còn nở một đóa sen tịnh đế(27).

Dạ Hoa ngẩng đầu nhìn ta u uẩn: “Nàng nói sao?”.

Ta vẫn còn kinh ngạc đến mức chưa trấn tĩnh được, thực sự không biết phải nên nói thế nào, trong lúc đắn đo, thở hắt một hơi: “Chuyện, chuyện này không đùa được đâu”.

Hắn bình thản cười nói: “Chưa bao giờ ta chân thành như lúc này, không có tình cảm lâu ngày cũng có thể làm vợ chồng bên nhau, ta lại mong nàng có thể cùng ta tình nồng ý đượm”.

Lời của hắn câu nào cũng khiến người ta kinh hãi. Tuy ta hoảng sợ, chấn động nhưng cũng vẫn còn tỉnh táo. Lúc đầu ta thực sự không ngờ hắn nghĩ như thế. Bây giờ nhớ lại từng chuyện lúc trước, tất cả lần lượt lướt qua đầu ta, ngẫm nghĩ một lát, tâm tư ấy của hắn đúng là thật, đều có thể nhìn ra được điềm báo. Khuôn mặt già nua của ta đỏ bừng, may mà đang hiện nguyên hình, lớp lông hồ ly trên mặt cũng không để lộ sự ngại ngùng của ta.

Nhưng có trời xanh chứng giám, so với hắn, lòng ta hết sức trong sáng, cho dù nghĩ rằng sau này sẽ kết duyên phu phụ, thì cũng là kiểu vợ chồng có tình cảm tri kỷ mà thôi, không hề có mảy may tà niệm.

Dạ Hoa rất biết cách lấy lòng ta, còn ta lại chẳng hề tán thưởng hắn, chẳng qua chỉ là đứng trên cương vị của kẻ trưởng bối mà quan tâm bảo vệ kẻ tiểu bối mà thôi. Nhưng cũng phải nói những ngày tháng bên hắn thực sự cũng hơi, cũng hơi…

Đôi mắt Dạ Hoa nhìn ta, ánh mắt mông lung vời vợi, không nói gì mà chỉ nhìn thẳng, đến mức ta cảm thấy bị dằn vặt.

Ta ngừng lại giây lát, nuốt nước bọt, nói: “Ta nghe mẹ ta nói, khi hai người kết duyên vợ chồng lâu dần những tình cảm phong hoa tuyết nguyệt năm nào sẽ phai nhạt đi, ở cạnh nhau sẽ chỉ giống như những người thân. Bây giờ ta cảm thấy ngươi đã là người thân của ta, chúng ta thực sự cùng lắm có thể bước qua vạch giữa này, ngươi thấy thế nào?”.

Năm đó chịu vết thương lòng do Ly Kính gây nên, vết thương nay đã lành, nhưng sẹo vẫn còn đó, luôn khiến ta cảm thấy tình yêu nếu chẳng gặp đúng người thì thật tệ hại biết bao. Nếu như ta có thể trẻ lại bốn vạn tuổi, thì chơi đùa một chút cũng chẳng sao, cho dù bị tổn thương vài lần, nói một tiếng tuổi trẻ ngông cuồng là xong. Nhưng giờ tuổi tác đã cao, ta chẳng còn hứng thú gì với ái tình cả. Nhưng Dạ Hoa tuổi còn trẻ, còn ta chỉ muốn sống những ngày tháng thanh tịnh vô vi, nếu làm liên lụy đến hắn thì thực là không phải.

Những lời vừa nãy ta đã nói hết, Dạ Hoa lặng im không đáp, ta thấy mình cũng thật bạo dạn. Lại xét kỹ một lượt, ta thương lượng với hắn: Ngươi thực sự cũng nên yêu nên hận những người cùng độ tuổi. Nhân giờ đây nghiệt căn còn chưa bén rễ đâm chồi, mau mau nhổ nó lên. Đợi đến khi ngươi bằng tuổi ta thì ngươi sẽ hiểu, sống lâu như vậy trên đời, người ta sẽ thờ ơ với tình yêu, chẳng còn chút hứng thú nào nữa. Đây chính là cảnh giới chỗ cao chẳng chịu nổi lạnh giá (28). A, đạo thánh chỉ đó của Thiên Quân đem ghép ta và ngươi làm một đôi, kỳ thực ta luôn cảm thấy không phải với ngươi. Nhưng ngươi cũng không cần quá đau lòng, đợi sau khi ta và ngươi thành hôn, sẽ có thể lấy cho ngươi mấy thứ phi xinh đẹp trẻ trung”.

Nói xong ta cảm thấy như trút được tảng đá trong lòng. Tâm trạng của ta bây giờ bình thản biết bao.

Có lẽ ta là chính phi rộng lượng nhất bốn bể tám cõi này, còn nếu Dạ Hoa lấy ta thì xét về mặt tuổi tác hắn đã chịu thiệt thòi.

Hắn lại không hề vui mừng như ta tưởng, thần sắc nhợt nhạt, trừng mắt nhìn ta, nói: “Đây là những lời thật lòng của nàng sao?”.

Vẻ mặt ta hết sức thành khẩn: “Đúng, còn thật hơn vàng thật”.

Ta cứ tưởng hắn sẽ đòi ta bảo đảm về chuyện nạp thứ phi, ai ngờ được sau câu nói của ta, hắn mím môi càng chặt hơn, ánh mắt dần dần lạnh nhạt.

Sống đến ngần này tuổi đầu, tính cách con người ta sẽ đằm lại, nhưng chuyện tình cảm cũng là chuyện không nên để lằng nhằng dây dưa. Ta tiếp tục chân thành nói: “Nghìn năm vạn năm ta cũng sẽ nói câu này, ta và ngươi vẫn nên giữ mối quan hệ liên hôn thuần khiết một chút. Thực ra, hai vợ chồng mà có tư tình chưa chắc đã là chuyện tốt. Ví dụ như nếu một ngày nào đó, ngươi muốn nạp thêm một người thiếp, thì hẳn sẽ không dễ dàng. Bây giờ tốt nhất là ngươi nên nhìn xa trông rộng một chút. Hầy, hôm nay ngươi không đếm xỉa đến những lời ta nói, nhưng sẽ có một ngày, ngươi yêu mến thần tiên nào đó, muốn cưới nàng ta về Tẩy Ngô cung, thì sẽ hiểu được được ý tốt trong những lời ta vừa nói”.

Hắn im lặng một lúc, rồi chậm rãi nói: “Nàng, cố ý nói vậy để làm khó ta phải không?”.

Tim ta giật thót một cái, hình như hắn đã yêu ta đến mức mê muội, tuy rằng ta có ý tốt nhưng nói những lời này, ngẫm kỹ lại thì có lẽ cũng hơi nóng vội.

Ta lặng im nhìn hắn, không biết phải khuyên giải thế nào, chỉ cảm thấy chuyện này phải từ từ tính toán lâu dài.

Hắn ôm ta vào lòng, nghẹn giọng nói: “Ta chỉ yêu mình nàng, không bao giờ yêu người nào khác”. Ngừng lại rồi lại lẩm bẩm câu gì đó mà ta nghe không rõ.

Ôi, đứa trẻ khiến người ta phát bực, phát rầu này.

Dạ Hoa nói xong những lời khiến đầu ta tê buốt rồi lại biến mất tăm, chỉ có ta là vẫn nằm ườn, kéo bốn góc chăn thật kỹ. Tuy ta bị trọng thương, nhưng cũng không đến nỗi yếu ớt quá, đến nằm cũng chẳng yên, nhưng nhìn thần sắc tê tái của hắn, ta không thể lửa cháy đổ thêm dầu, đành im lặng mà thôi.

Hắn dém xong bốn góc chăn, rồi lại qua bưng bát thuốc để trên ghế, đặt lên bàn, bê cốc rót một cốc trà mát, sau đó bước tới, lưng dựa vào thành giường nói: “A Ly đã đưa về Thiên Cung rồi, nó chỉ hơi kinh sợ một chút, nhưng không lo ngại gì lắm, chỉ cần tĩnh dưỡng mấy hôm. Ta cũng định đưa nàng về Thiên Cung, trong Thượng thanh cảnh của Linh Bảo Thiên Tôn có một dòng suối trời, rất thích hợp cho nàng dưỡng thương”. Rồi hắn lại nhíu mày, nói, “Nhưng tên Tất Phương đó đã sống chết ngăn lại. Có điều, nếu nàng nhận lời thì hắn cũng chẳng có gì để nói. Nàng cứ nằm nghỉ đi, sáng sớm ngày mai chúng ta cùng về Thiên Cung nhé”.

Ta cũng đã được nghe về suối trời của Linh Bảo Thiên Tôn, đúng là rất tốt, thương thế như ta bây giờ, nếu bình thường cần dưỡng thương một tháng, đến ngâm mình trên suối trời, có lẽ chỉ cần hai, ba ngày là đã khỏi hẳn. Nhờ Dạ Hoa, mà ta được lợi lớn, thật vui biết bao.

Nói xong câu ấy, hắn nhắm mắt lại dưỡng thần. Còn ta lại phải đến động Viêm Hoa để thăm Mặc Uyên, đắn đo mãi, mới chậm rãi nói: “Hôm nay, ngươi không phải phê văn thư sao?”.

Hắn hé mắt nhìn: “Hôm nay không có việc gì gấp, nàng vừa nói buồn ngủ, vậy ta cho nàng dựa nhé?”.

Khóe miệng ta giật giật. Dường như chưa bao giờ hắn nhận ra đây chỉ là cái cớ, lại cười một cách hiền hòa hỏi: “Sao thế, lại không buồn ngủ nữa à?”.

Ta bàng hoàng nghiến răng nói: “Buồn ngủ lắm, lắm”.

Dạ Hoa có cái tính “việc hôm nay chớ để ngày mai”, nghĩa là trước đây khi hắn còn nhàn nhã ở Thanh Khâu nhà ta, thì đến nửa thời gian là chui trong thư phòng phê văn thư, bận rộn đến chân chạm đất.

Lần này tuy xảy ra chuyện lớn như thế, quan tiên Ca Quân vẫn không thể cho hắn rảnh rỗi vài ngày, công văn vẫn ào ào trút xuống.

Với số công văn của hai ngày hôm qua và hôm nay, Dạ Hoa “ngoan ngoãn”, số khổ chắc chắn là đêm nay không thể ngủ ngon rồi.

Ta ngẫm nghĩ, bây giờ hắn nằm tựa trên giường ta chắc không phải muốn ta khó xử, mà là cũng muốn nghỉ ngơi dưỡng thần thôi. Giống như ở cõi phàm có kẻ mắc tội bị chặt đầu, trước khi chặt đầu cũng cần ăn một bữa cơm, no cái bụng rồi mới bước lên đoạn đầu đài. Hẳn là Dạ Hoa cần ngủ một giấc, tinh thần sung mãn rồi mới bước tới thư phòng để đối phó với công văn của hai ngày qua. Giấc ngủ này của hắn, theo như kinh nghiệm của bản thượng thần ta suy đoán, thì cùng lắm chỉ hai tuần trà mà thôi.

Thế nên ta cũng nhắm mắt đối phó, trong lòng đã có dự tính tỉ mỉ, đợi hắn đi rồi, ta sẽ hóa thành hình người rồi đến động Viêm Hoa.

Chẳng ngờ dự tính này của ta lại không thành. Tinh thần không sung mãn thực chẳng có tác dụng gì, cũng chưa đầy nửa tuần trà, thì người đã mơ màng ngủ thiếp đi mất.

Trong lúc nửa tỉnh nửa mơ, ta đã mơ một giấc.

Giấc mơ này đã mấy vạn năm nay ta không mơ nổi, vậy mà trong ngày hôm nay công đức đã viên mãn.

Ta mơ thấy Mặc Uyên.

Chú thích:

24. Lính chạy cờ: chỉ vai diễn quân lính cầm cờ chạy trong các vở kịch, có nghĩa chỉ sự thêm thắt không có ý nghĩa (ND).

25. Tất Phương điểu: Chim Tất Phương là thần thú trong truyền thuyết, sử dụng lửa (ND).

26. Thành ngữ Trung Quốc có câu “Vạn tuế ra hoa” để chỉ những việc cực kỳ hiếm hoi (ND).

27. Sen tịnh đế hay còn gọi là sen liền đài, tượng trưng cho ân ái vợ chồng (ND).

28. Chỗ cao chẳng chịu nổi lạnh giá: Ý nói người quyền cao chức trọng không có bạn bè thân thiết. Nói cách khác, đứng ở chỗ cao không chịu được gió lạnh ở đó. Lại ví như một người có tài nghệ hoặc tu vi đạt đến cảnh giới thượng thừa. Cảnh giới càng cao, những người làm bạn càng ít, càng cảm thấy cô đơn và lạnh lẽo (ND).

Chương 14: Nàng cũng từng tràn trề sắc xuân

Mấy ngàn năm đầu sau khi Mặc Uyên về cõi tiên, ta khổ sở đợi chờ, ngày ngày đều mong ngóng sẽ nằm mơ thấy người, để hỏi người một câu rốt cuộc bao giờ người quay lại. Mỗi lần đêm xuống, chìm vào giấc mộng, ta đều nhẩm câu hỏi này năm, sáu lượt, mấy chữ thuộc lòng như cháo chảy, chỉ sợ lúc nằm mơ thấy Mặc Uyên, sẽ kích động quá mà quên mất. Nhưng vì mộng chẳng thành, sau này ta cũng dần quên tâm tư ấy. Nhưng cuối cùng nền tảng của quá khứ thật quá kiên cố, giấc mộng này, ta vẫn nhớ lôi cái câu hỏi cũ rích ấy ra.

Bản thượng thần quả bội phục sự anh minh của mình.

Giấc mộng bắt đầu, cảnh mở đầu chính là cảnh tượng Chiết Nhan dẫn ta lên núi Côn Luân bái sư.

Vì mẹ ta sinh được bốn người con trai, khó khăn lắm mới sinh hạ được một mụn gái, hơn nữa mụn con gái này đã mang tật ngay từ khi còn là bào thai, khi ta sinh ra thể chất yếu ớt, cả động Hồ Ly đều lo lắng cho ta. Bốn ca ca đều được nuôi dạy khá thoải mái, còn ta thì khác, ăn uống ngủ nghỉ đều vô cùng nghiêm ngặt, ngoài động Hồ Ly ra, không được phép đi đâu ngoài Thanh Khâu và rừng đào mười dặm của Chiết Nhan. Vất vả suốt hai vạn năm, ta đã được nuôi dạy khỏe mạnh, nhưng họ vẫn chưa an tâm.

Khi ta hai vạn tuổi, cha mẹ vì một số chuyện mà không thường xuyên ở Thanh Khâu, bèn bảo tứ ca đến trông nom ta.

Cần phải biết rằng tứ ca rất giỏi giữ sĩ diện, bề ngoài vờ vịt ngoan ngoãn vâng lời, mà sau lưng thì chuyên gây thị phi.

Ta vô cùng ngưỡng mộ tứ ca.

Ngự lệnh của cha ta vừa ban xuống, tứ ca nhấm nhấm ngọn cỏ, ngồi trước động Hồ Ly, nhìn ta hiền từ hỏi: “Từ bây giờ trở đi, tứ ca sẽ chăm nom muội. Trứng chim lấy được trên cây, ta một quả, muội một quả; cá câu ở dưới hồ, ta một con, muội cũng một con”.

Ta vỗ tay tán thưởng tứ ca.

Khi ấy, Chiết Nhan đã rất quan tâm tới tứ ca, chỉ cần lôi danh hiệu của lão ra, thì họa lớn đến đâu có thể sóng yên bể lặng hết. Thế nên suốt ba vạn năm liền, tứ ca dẫn theo ta “chọc trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.

Đến khi cha mẹ ta có thời gian rảnh rỗi nghĩ tới chuyện dạy dỗ đứa con gái độc nhất thì cảm thấy đã sinh con gái thì nên dạy nó sao cho thùy mị, dịu dàng, nho nhã đoan trang, nhưng lúc ấy ta đã bị tứ ca làm hư rồi.

Cũng may trong năm vạn năm cùng tứ ca rong chơi ở Thanh Khâu, huynh muội ta đã gây ra không ít việc vặt nhưng lại chẳng gây ra họa lớn, ngày tháng trôi qua hết sức an vui, tính cách của hai người bọn ta khó tránh có chút ngây thơ, kiêu ngạo, hoàn toàn không thể bì được với khí độ bây giờ của Dạ Hoa.

Bản thượng thần luôn lo lắng, Dạ Hoa bây giờ mới chưa quá năm vạn tuổi, cho dù không phải ngây thơ, cũng ít nhiều phải có dáng vẻ hoạt bát. Vậy mà hắn lại trầm mặc thế kia, trên con đường đời hắn đã chịu không ít giày vò, trải qua biết bao cú sốc, kinh qua biết bao dâu bể!

Nói lại khi ta năm vạn tuổi.

Khi ấy, mẹ ta thấy ta như vậy thì rầu rĩ lắm. Trước là lo ta không lấy được chồng, đóng cửa động Hồ Ly suy nghĩ mất nửa tháng trời, sau đến một ngày hoàng đạo, ông trời mở mắt, để mẹ ta ngộ ra tuy tính cách ta chẳng ra sao nhưng dáng vẻ cũng không đến nỗi nào, dù sao cũng không nên gả đi, mới vợi bớt lo âu.

Nhưng không lâu sau lại nghe được một tin đồn từ chỗ Mê Cốc, nói rằng trong một thủy phủ ở dưới chân núi liền kề, có nhà họ Chúc Âm (30) mới gả con gái đi. Tiểu Chúc Âm vì thuở nhỏ mồ côi mẹ, không có ai dạy dỗ, nên tính cách có hơi yếu đuối, sợ khổ sợ mệt, khiến cho mẹ chồng ghét, ngày ngày đều kiếm cớ để mắng mỏ nàng ta. Tiểu Chúc Âm không nhẫn nhịn được mới gả được đi được chưa đầy ba tháng đã khóc lóc ầm ĩ trở về nhà mẹ đẻ.

Nghe nói Tiểu Chúc Âm vì là dâu mới bị bắt nạt, lại nhìn thấy dáng vẻ của ta, mẹ ta lại càng buồn bực lo lắng hơn. Bà cảm thấy với tính cách của ta, dù có gả đi được, thì cũng sẽ một ngày bị mẹ chồng đánh cho ba trận. Nghĩ tới sau này ta có thể phải chịu khổ, hễ nhìn thấy ta là mẹ ta lại rớt nước mắt.

Có một lần, Chiết Nhan đến động Hồ Ly chơi, đúng lúc mẹ ta đang âm thầm lau nước mắt, bèn hỏi duyên cớ làm sao, trầm ngâm giây lát mới than rằng: “A đầu này đã lớn như vậy, tính cách cũng không thay đổi được. Bây giờ chỉ có thể cho nó học hỏi chút bản lĩnh, sau này về nhà chồng, trên là tộc trưởng quản lý mọi việc trong tộc, dưới là tiểu đồng quét dọn, không có kẻ nào giỏi hơn nó, thì dù nó có ngây thơ kiêu ngạo, cũng sẽ không bị ấm ức”.

Mẹ ta nghe xong những lời ấy, cảm thấy có lý bèn đồng tình, vỗ đùi một cái, sự việc đã được quyết định như thế.

Xưa nay mẹ ta luôn là người mạnh mẽ, cảm thấy đã thành tâm thành ý tìm cho ta một vị sư phụ để học hỏi thì sẽ phải tìm một sư phụ giỏi nhất trong bốn bể tám cõi mới không uổng phí tâm tư này của người.

Đắn đo hơn nửa tháng trời cuối cùng đã chọn thượng thần Mặc Uyên, cai quản âm nhạc và chiến tranh sống trên núi Côn Luân.

Trước đó ta chưa bao giờ gặp Mặc Uyên nhưng tên tuổi của người thì lại quá quen thuộc.

Khi ta và tứ ca chào đời, chiến sự trong bốn bể tám cõi đã không còn liên miên, thi thoảng mới diễn ra một trận, mà có thì cũng chỉ là những trận chiến nho nhỏ, người bề trên chẳng cần lộ diện. Các trưởng bối có lúc cũng kể lại những trận chiến lớn thực sự từ lúc phân chia âm dương, lưỡng nghi, ví dụ như tám cõi nổi giận ra sao, chín châu nhuộm máu thế nào, đám đàn ông đã ngoan cường cứng cỏi, da ngựa bọc thây ra sao, rồi lập công lập nghiệp thế nào, nói đến mức ta và tứ ca đều đau cả đầu.

Khi ấy, trong Thần tộc còn lưu truyền rất nhiều điển tịch ghi chép về những chiến sự thời viễn cổ, hai huynh muội ta rất hiếu học, thường xuyên đến mượn đám tiên hữu quen thuộc về đọc. Hoặc tự mình cũng có đôi bản sách quý, trao đổi với họ.

Trong những điển tịch này, đâu đâu cũng bắt gặp bóng dáng của Mặc Uyên. Đám thiên quan viết sách đều khen tư thế của người uy vũ, trên người mặc khôi giáp Huyền Tinh, tay cầm kiếm Hiên Viên, nào là chiến thần bất bại.

Ta và tứ ca ngưỡng mộ người khôn xiết, thầm tưởng tượng dáng vẻ oai phong của người trông như thế nào.

Ngưỡng mộ chân thành, thảo luận hơn một năm, chúng ta cảm thấy vị thượng thần Mặc Uyên này hẳn phải có bốn cái đầu, mỗi cái đầu trông về một hướng, con ngươi tròn xoe như gương đồng, tai to như quạt cỏ bồ, trán vuông, miệng rộng, vai tay lưng đều rộng, dày như núi đá, hai chân hai cánh tay đều thô ráp như đá tảng, thổi một hơi là dậy cơn cuồng phong, giậm một chân là đất rung chuyển. Chúng ta suy nghĩ trăn trở, cho rằng phải như thế mới có thể thể hiện sự nhanh nhạy hơn người, thông minh mẫn tiệp, tráng kiện bền bỉ của một cao nhân đệ nhất. Phác thảo xong tư thế oai nghiêm của Mặc Uyên, ta cùng tứ ca phấn chấn chạy đến tìm nhị ca vẽ tranh rất đẹp, xin huynh ấy vẽ cho chúng ta hai bức tranh, treo trong nhà để ngày ngày ngắm nghía.

Vì thế nên vừa nghe nói sẽ bái Mặc Uyên làm thầy, ta đã không kìm được kích động. Tứ ca cũng muốn đi cùng ta, nhưng lại bị Chiết Nhan ngăn lại, thành ra giận dữ mất mấy ngày.

Chiết Nhan dẫn ta cưỡi một đám mây lành trong hai canh giờ, cuối cùng đến một ngọn núi tiên rất thâm u. Ngọn núi này hoàn toàn khác với Thanh Khâu, cũng khác với rừng đào mười dặm, ta cảm thấy vô cùng mới mẻ.

Có hai tiểu tiên đồng đã đứng trước cửa núi chờ, dẫn bọn ta vào trong một đại sảnh rộng rãi. Trong đại sảnh có một nam tử mặc áo bào đen ngồi sẵn đó, lấy tay chống cằm, dựa đầu vào vai, thần sắc lạnh nhạt, khuôn mặt hơi hơi ẻo lả.

Ta thực sự không biết nữ tính là thế nào, chỉ nghe tứ ca nói qua loa, gương mặt tuấn tú của Chiết Nhan kia là đẹp, nếu không bằng Chiết Nhan thì diện mạo tầm thường, nếu đẹp hơn Chiết Nhan thì chính là ẻo lả. Câu nói chẳng ra sao này của tứ ca ta luôn ghi nhớ trong lòng.

Vì ta được tứ ca nuôi dạy từ bé nên luôn nghe lời huynh ấy, đến huynh ấy nói bức tranh mà chúng ta cùng tưởng tượng ra đang được treo trong phòng kia là một vẻ đẹp tuấn tú không gì lý giải nổi, ta cũng vẫn tin theo mà không nghi ngờ, luôn âm thầm cố gắng để trở thành như thế.

Cho nên, khi Chiết Nhan dẫn ta đến núi Côn Luân, cất tiếng chào hỏi với vị thư sinh mặc áo bào đen này: “Mặc Uyên, bảy nghìn năm nay chẳng thay đổi gì”. Ta đã bị sốc nặng. Đôi mắt vừa dài vừa nhỏ của người có thể nhìn khắp thiên lý sao? Đôi tai mảnh dẻ của người có thể nghe thấu tám hướng? Đôi môi mỏng của người có thể phát âm thanh lí nhí như muỗi kêu có thể khiến người ta phải lắng nghe sao? Thân hình gày gò của người có thể nhấc nổi kiếm Hiên Viên – đứng hàng thứ hai trong thần khí của tám cõi sao?

Ta cảm thấy những công lao sự nghiệp to lớn ghi chép trong điển tịch đều là lừa gạt cả, cảm giác niềm tin sụp đổ ập tới, ta nắm tay Chiết Nhan mà đau lòng vô hạn.

Khi Chiết Nhan giao ta cho Mặc Uyên, còn ân cần dặn dò một lượt mấy lời nhảm nhí, như: “Đứa trẻ này không cha không mẹ, ta thấy nó bị vứt trong khe núi nên nhặt về, chỉ còn thoi thóp thở, dáng vẻ tiều tụy nhếch nhác, sau khi tắm rửa mới nhận ra là một con bạch hồ ly”. Ví dụ như: “Ta nuôi nó đã năm vạn năm, nhưng gần đây nó càng lớn càng đẹp, người ấy nhà ta có hơi ghen”. Lại như: “Ta đưa nó tới chỗ ngươi là chuyện chẳng đành, đứa trẻ này đã rất khổ, ta luôn yêu chiều nó, tính tình khôn ngoan, nên cũng phiền ngươi ưu ái nó”.

Ta cảm thấy mấy câu nói nhảm này của Chiết Nhan thật chả ra sao, quá đau lòng nên cũng buồn rầu. Mặc Uyên luôn lặng lẽ chỉ ngồi nghe mà không nói gì.

Mặc Uyên đã nhận ta làm đồ đệ, Chiết Nhan coi như đã “đại công cáo thành”. Sau khi lão thành công lui gót, ta tiễn lão đi một đoạn. Khi đến cửa núi, Chiết Nhan dặn dò cẩn thận: “Tuy bây giờ ngươi là thân nam giới, nhưng lúc tắm giặt cũng không được ở cùng các sư huynh ngươi, không thể để chúng lợi dụng, vẫn phải biết cách giữ gìn như một cô nương”. Ta gật đầu đồng ý.

Mặc Uyên quả nhiên là chăm sóc ta rất chu đáo, nhưng ta coi thường người trông thiếu anh dũng, nên không thèm nhận ân tình của người.

Với Mặc Uyên, ta luôn có một chút không cung kính, cho đến khi vấp váp lần đầu tiên trên con đường đời, gặp phải chuyện tổn thương ghê gớm đến bản thân.

Chuyện này, cũng từ rượu của Chiết Nhan mà ra.

Chiết Nhan giỏi cất rượu, lại rất yêu chiều tứ ca, rượu ủ ra đều do tứ ca đem đi, tứ ca luôn chăm sóc ta, ta được thơm lây huynh ấy ở điểm này, nên rất năng qua lại hầm rượu ở rừng đào mười dặm, dần dần đâm ra hơi thích rượu. Vì ta uống quá nhiều rượu của Chiết Nhan, trong lòng cũng hơi đắc ý, gặp tiệc lớn tiệc nhỏ cũng đều thay lão khen ngợi vài tiếng trước đám tiên hữu. Thành thật mà nói lúc đó kỹ thuật nấu rượu của Chiết Nhan đã rất phi phàm, nhưng rốt cuộc vẫn còn có thể tiến bộ nữa, nhưng ta tuổi nhỏ khờ khạo, luôn khoa trương, có ba phần thì nói bốc lên năm phần, có năm phần thì nói bốc lên mười phần, cho nên ở yến tiệc có khen rằng rượu của lão là độc nhất vô nhị, đương nhiên khiến cho mấy người ham rượu nghe không lọt lỗ tai, phải lôi rượu nhà khác ra để hạ Chiết Nhan xuống, bẻ gãy nhuệ khí của ta.

Trên núi Côn Luân có một người như thế, Thập lục sư huynh của ta Tử Lan. Bây giờ ta vẫn còn cảm thấy Tử Lan hơi nhỏ mọn, những sư huynh khác khi nghe ta tán thưởng Chiết Nhan đều chỉ cười trừ mà thôi, mặc dù cũng có ý kiến này kia, nhưng nể ta là sư đệ nhỏ nhất, nên đều bỏ qua cho ta. Tử Lan thì lại không thế, thường xuyên ngoác miệng ra, hừ mũi cực kỳ khinh mạn, nói: “Chậc chậc chậc, được uống thử rượu của sư phụ nấu chưa?”. Sư phụ mà huynh ấy nói, đương nhiên là Mặc Uyên.

Khi ấy, ta vẫn hơi coi thường Mặc Uyên, không chịu chấp nhận người khác khen người, thấy bộ dạng tự cho mình là đúng đó của Tử Lan, lửa giận bốc ngùn ngụt, trong lòng thầm quyết, lần sau nhất định nghĩ cách, để cho huynh ấy phải thừa nhận rượu của Mặc Uyên nấu không ngon bằng rượu của Chiết Nhan trước mặt tất cả các sư huynh, Mặc Uyên không sánh được, Mặc Uyên còn lâu mới bằng.

Cách mà ta nghĩ lúc đó là một cách hết sức ngô nghê, chẳng qua là đến hầm rượu của núi Côn Luân lấy trộm một bình rượu do Mặc Uyên nấu, đưa cho Chiết Nhan tham khảo, làm ra một bình còn ngon hơn gấp trăm gấp ngàn lần. Cuối cùng là trộm được, nhưng không dám đi qua cửa chính, định từ rừng đào sau núi đi vòng, vòng xuống núi rồi cưỡi mây đi đến phủ của Chiết Nhan. Lúc vòng vèo đến rừng đào, chẳng may bị lạc đường, vất vả cả nửa ngày mà không đem được rượu đi, miệng thì khát, trên người lại chỉ mang độc một bình rượu của Mặc Uyên, thế là ta lấy ra giải khát.

Vừa nhấp một ngụm ta đã hơi bàng hoàng. Chỉ một ngụm nhỏ mà thôi, mùi rượu đã tràn khoang miệng, vị cay dịu xộc đến cuống họng. Tài nghệ của Chiết Nhan, phải nâng cao một chút nữa, thì mới chạm được đến hỏa hầu này.

Mặc Uyên quả nhiên có bản lĩnh đệ nhất này! Một bạch diện thư sinh sao lại có được bản lĩnh đệ nhất này?

Ta vô cùng bi phẫn, uất ức dâng tràn, rượu trong tay cho dù có mang đến cho Chiết Nhan cũng chẳng để làm gì. Ta đau buồn một lúc, rồi dứt khoát uống tì tì hết sạch bình rượu.

Đâu biết rằng loại rượu này mới đầu uống êm dịu, nhưng về sau say đến không ngờ. Ta hoa mày chóng mặt dựa vào gốc đào, chẳng bao lâu sau thì ngủ thiếp đi mất.

Khi tỉnh lại, thì có chút khác biệt với hôm qua, không phải tự nhiên mà tỉnh, cũng không phải bị mấy tiếng thúc giục cằn nhằn của đại sư huynh gọi dậy, mà là bị hắt một chậu nước lạnh, giật mình tỉnh dậy.

Người hắt nước có lẽ cũng có kinh nghiệm, phương hướng và lực đạo đều rất chuẩn, chỉ cần một chậu nước, đã khiến ta tỉnh táo trở lại. Khi ấy là ngày tuyết tan của đầu xuân, chậu nước đó hẳn là chậu nước tuyết tan ra, áo xiêm thấm đẫm dính trên người, chỉ trong thời gian uống một chén trà mà khiến ta hắt hơi một cái dữ dội.

Một cô gái bưng chén trà đứng bên cạnh chiếc ghế bằng gỗ đen, nàng chỉ uống một ngụm trà rồi bỏ chén xuống, thong thả chậm rãi lạnh lùng nhìn ta. Hai thị nữ đứng hầu bên nàng ta, trên đầu còn chải tóc hình quả bí. Ngày ta bái sư nhập môn, đã được đại sư huynh dặn dò, bảo ta chớ có dây vào mấy thiếu nữ búi tóc hình quả bí, cho dù đối phương thất lễ trước, thân là đệ tử của núi Côn Luân, cũng phải nhường ba, bốn phân. Vì những nữ tử búi tóc hình quả bí kia thường xuyên tới núi Côn Luân chơi, thì chắc chắn là tỳ nữ của thượng thần Dao Quang. Thượng thần Dao Quang là nữ thần dịu dàng thời bình, hung mãnh thời chiến, luôn si mê thượng thần Mặc Uyên, sư phụ của chúng ta, gần đây còn yêu đơn phương dữ dội hơn, dứt khoát dời nhà đến gần núi Côn Luân, cách mấy ngày lại sai tỳ nữ đến núi Côn Luân khiêu khích kiếm chuyện, muốn khích Mặc Uyên đánh với nàng ta một trận, xem xem bản lĩnh của nàng, phải hàng phục bám váy nàng, vĩnh viễn cùng nàng kết đôi. Mưu tính của nàng ta không tồi, nhưng dường như Mặc Uyên lại không coi đó là chuyện lớn, chỉ dặn dò đệ tử phải coi người tới là khách, có thể chiều chuộng gì thì chiều chuộng hơn một chút.

Mấy thị nữ tóc quả bí trước mắt nhắc nhở ta, khiến ta nhận ra thân phận họ trong giây lát, người ngồi trên ghế uống trà kia, chính là thượng thần Dao Quang yêu đơn phương Mặc Uyên.

Nàng ta nhân lúc ta say túy lúy mà trói bắt ta về đây, chắc là muốn thỏa tâm nguyện, khích cho Mặc Uyên đánh với mình một trận, biết đâu trong trận này Mặc Uyên nảy sinh tình cảm với nàng ta, kế đó chàng đoán thiếp thiếp đoán chàng, kế đó chàng hữu tình thiếp hữu ý, kế đó cầm sắt hài hòa song túc song phi.

Nhưng lại liên lụy đến ta thành hòn đá lót đường, ta cảm thấy mình vô tội biết bao, oan ức biết bao.

Một thị nữ đứng bên phải ho một tiếng, nhận cái nhìn của chủ nàng ta lập tức làm bộ dáng vẻ dạy dỗ người khác, nói: “Núi Côn Luân là nơi thánh địa thanh khiết bậc nhất trong bốn bể tám cõi, con hồ ly đực yêu mị như ngươi lại dám trà trộn vào để dụ dỗ thượng thần Mặc Uyên sao?”.

Ta ngớ ra, rồi “a” một tiếng.

Nàng ta trừng mắt nhìn ta rồi nói tiếp: “Ngươi nhìn ngươi xem, mắt, mày, miệng, đều là vẻ yêu mị! Từ lúc thu nhận ngươi làm đệ tử, thượng thần Mặc Uyên lúc nào cũng yêu thương bảo vệ”. Sắc mặt thượng thần Dao Quang không tốt lắm, thị nữ đó lập tức sửa, “Bèn bỏ bê tiên đạo, thượng thần nhà ta niệm tình tiên liêu, không nỡ giương mắt nhìn thượng thần Mặc Uyên đi vào con đường sai lầm, không thể không giúp đỡ”. Nàng ta nói chậm lại, “Tuy rằng ngươi phạm phải sai lầm lớn như vậy, nhưng thượng thần nhà ta nổi tiếng từ bi, nên cho ngươi làm đồng tử của thượng thần nhà ta, chuyên tâm tu hành, cũng là sửa đổi bản tính ngoan cố của ngươi, còn không mau mau quỳ xuống cảm tạ ân tình của thượng thần nhà ta”.

Ta ngây người ra nhìn bọn họ, hoàn toàn không hiểu họ đang diễn trò gì. Nghĩ mãi lại cảm thấy từ khi mình đến núi Côn Luân, ngoài việc lấy trộm rượu khỏi hầm ra, thì chưa từng làm gì trái quy củ, nếu có thì có chăng chỉ là lúc ban đầu nhờ cậy quan hệ để được bái sư môn mà thôi.

Ta rất phẫn nộ, bực bội quát: “Ta chẳng làm gì sai với sư phụ, sư phụ đối tốt với ta cũng vì có cố nhân nhờ cậy, thương xót ta thân thế thê thảm. Ngươi bắt ta đến đây, còn hắt nước vào ta, chỉ một ngón tay sư phụ ta cũng còn hơn các ngươi trăm lần ngàn lần, ta quyết không làm đồng tử dưới trướng của ngươi”.

Thượng thần Dao Quang đập bàn một cái, tức giận thét lên: “Ngoan cố, ngu tối như thế, tống nó vào thủy lao, giam ba ngày”.

Bây giờ ngẫm lại, khi đó Dao Quang đang bị đố kỵ che mờ mắt, tuy rằng là hiểu lầm, còn ta tuổi trẻ bồng bột không biết ăn nói, lại đem một hiểu lầm có thể tháo gỡ làm thành một nút chết, sau này phải nếm khổ hai ngày kể ra cũng đáng.

Thủy lao trong phủ của thượng thần Dao Quang, thú vị hơn nhiều những thủy lao bình thường khác. Lúc đầu chỉ là nước ngập đến eo, cho một người sống vào đó, nước sẽ từ từ dâng từ eo lên, dần dần dâng lên, nhưng không bị ngập đầu. Tuy rằng không ngập đầu, không khiến bạn chết ngạt, nhưng luôn khiến bạn phải khổ sở vì bị ngừng thở. Nếu luôn ngừng thở như thế, thì cần nhịn thở là quen, nhưng nhịn được nửa canh giờ, nước lại dần dần rút lui, để bạn hít thở một hơi, rồi lại bắt đầu lại từ đầu.

Vì ta rong chơi đã bao năm, nếu có đem hết sức ra thì cũng không địch nổi một thượng thần, không thể phản kháng, chỉ có chờ chết.

Lúc Mặc Uyên đến, ta đã bị giày vò đến nỗi chỉ còn nửa cái mạng.

Cho dù là chỉ còn nửa cái mạng thì chung quy vẫn là một thiếu niên sức sống tràn trề, trong mơ hồ vẫn còn nhớ Mặc Uyên sầm mặt một tay vung lên mở chiếc khóa đen trên cửa nhà lao, vớt ta từ dưới nước lên giữa ánh lửa bập bùng, lấy áo bào bọc kín ta vào lòng, lạnh lùng nói với Dao Quang khuôn mặt đang trắng bệch, nói: “Mười bảy tháng hai, trên đỉnh Thương Ngô, món nợ này chúng ta phải tính sạch”.

Dao Quang rầu rĩ nói: “Thiếp rất muốn thử sức với chàng một trận, nhưng không phải trong tình cảnh này, cũng không phải…”.

Ta còn chưa nghe thấy nàng ta nói hết câu thì đã được Mặc Uyên sải bước đưa đi. Ra đến cổng gặp đại sư huynh, huynh ấy đưa tay đón ta, nhưng sư phụ không đưa, rồi cứ như thế mà đi.

Khi ấy, lần đầu tiên ta cảm thấy, cho dù Mặc Uyên không nói những lời kinh thiên động địa, thì giọng nói cũng sáng rõ trầm bổng. Cho dù cánh ta không được thô ráp như cột đá, cũng rất mạnh mẽ kiên cường. Mặc Uyên không còn là một bạch diện thư sinh.

Vừa về tới núi Côn Luân, ta đã ngủ mê mệt, khi tỉnh lại nghe đại sư huynh nói, Mặc Uyên đã đến núi Thương Ngô quyết đấu với thượng thần Dao Quang. Vì đây là cảnh tượng bảy vạn năm nay mới có một lần, từ nhị sư huynh đến thập lục sư huynh đều lén trốn đi xem. Đại sư huynh nhìn ta đầy tiếc nuối: “Đệ nói xem sao sư phụ lại sai huynh đến chăm sóc đệ?”. Không thể xem trận chiến giữa Mặc Uyên và Dao Quang, ta cũng rất nuối tiếc, nhưng để đại sư huynh không cảm thấy nuối tiếc nhiều như thế, chỉ có cách nhận ân tình cười ngốc nghếch hì hì hai tiếng.

Đại sư huynh đúng là nói không ngừng, nghe huynh ấy lải nhải mấy ngày liền ta mới hiểu ra chuyện Dao Quang bắt ta, thực ra là tiến hành rất kín kẽ cẩn mật.

Đêm đó đến khi tắt đèn mà ta vẫn chưa về phòng, các sư huynh rất lo lắng, nhất loạt đi tìm ta mà không thấy, càng nghi ngờ ta đã bị tiên tỳ của thượng thần Dao Quang bắt đi mất. Tuy suy đoán như thế nhưng cũng không có gì làm chứng cứ, các sư huynh đều rất lo sợ, bất đắc dĩ đành kinh động đến sư phụ. Sư phụ chuẩn bị đi nghỉ, nghe thấy chuyện chỉ khoác chiếc áo bào, rồi dẫn đại sư huynh đến phủ đệ của thượng thần Dao Quang. Thượng thần Dao Quang thà chết không chịu nhận, sư phụ vung kiếm Hiên Viên, không thèm đếm xỉa đến lễ nghi gì, thẳng đường xông tới, mới tìm thấy ta.

Đại sư huynh “chậc chậc” cảm thán: “Nếu không phải nhờ uy lực của sư phụ, thì Thập thất đệ chắc chẳng còn giữ được cái mạng nữa”. Sau đó lại cười nói, “Đệ vừa về đến Côn Luân là lại ngất đi, nằm mơ còn ôm tay sư phụ rất chặt kêu là khó chịu, kéo thế nào cũng không chịu buông ra, sư phụ thấy chẳng ra sao, đành vỗ vỗ vào lưng đệ an ủi “đừng sợ nữa, có sư phụ bảo vệ đây rồi”, ha ha, bộ dạng của đệ, đúng là chẳng khác gì đứa trẻ con”. Mặt ta đỏ bừng, huynh ấy lại nghi hoặc hỏi, “Rốt cuộc đệ đã đắc tội gì với thượng thần Dao Quang? Nàng ta tuy rằng có hơi xấu tính một chút, nhưng xưa nay cũng chưa từng ra tay tàn độc thế”.

Ta vừa điều dưỡng, vừa cân nhắc trước sau một lượt, định nói với huynh ấy, rằng lần này vị thượng thần đó đã ghen bóng ghen gió, nhưng lại cảm thấy nói xấu sau lưng người khác là không hay, bèn ấp úng nói lấp liếm vài câu.

Lần này ta nằm mơ thấy Mặc Uyên chính là mơ thấy chuyện này. Giấc mơ giống hệt với những gì xảy ra ngày hôm đó. Vốn sau trận chiến trên núi Thương Ngô, buổi chiều hôm đó Mặc Uyên đã quay về Côn Luân, Dao Quang thua trận thảm bại, sau trận chiến này đã chết hẳn mối tình si với Mặc Uyên, dời phủ đệ đi thật xa, thật xa. Nhưng trong giấc mộng của ta, sau trận chiến Thương Ngô ngày mười bảy tháng hai, Mặc Uyên lại không quay về. Ngày ngày ta đều quấn lấy đại sư huynh hỏi, rốt cuộc bao giờ sư phụ quay về, đại sư huynh đều trả lời ta, sắp rồi, sắp rồi.

Cho dù là nằm mơ, ta vẫn phải hỏi câu này, nhưng câu này đã hỏi hơi muộn một chút.

Nhưng ta tin đại sư huynh, huynh ấy nói sắp rồi, sắp rồi, ta cũng cảm giác đúng là sắp rồi, sắp rồi.

Ta đã chờ trong mơ suốt bảy vạn năm, cho dù đợi bảy vạn năm, cũng trong giấc mơ đó, ta luôn ngây ngô tin lời đại sư huynh, tin rằng sư phụ sắp về rồi, sắp rồi. Trái tim ngây thơ và bình yên ấy thực sự không thể so với ngày nay.

Chú thích:

30. Còn gọi là Chúc Long, là một trong sáu thần sáng thế của thời thượng cổ Trung Quốc, là vị thần mình rắn mặt người trong truyền thuyết Trung Quốc. Có ghi chép trong sách Sơn Hải Kinh (ND).

 

Chương 18: Nếu có một ngày, tình yêu của nàng dành cho ta chỉ còn lại nắm xương tàn

Chuyện của Chiết Nhan khiến ta chẳng còn lòng dạ nào ở trên Cửu Trùng Thiên nữa. Tuy ta có không ưa Dạ Hoa, nhưng được lên Thượng Thanh Cảnh trị thương thì vẫn nợ hắn ân tình, nếu như không từ mà biệt, thì không được hay lắm; còn nếu như chạy đến trước mặt hắn nói từ biệt thì ta thực mất mặt lắm thay. Thế nên để lại một phong thư, lời lẽ thành khẩn, bày tỏ sự biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm chăm sóc của hắn đối với ta trong hai ngày gần đây, rồi cùng Chiết Nhan đi qua Nam Thiên Môn, vội vã xuống trần gian.

Cho dù lúc này Mặc Uyên chỉ là hồn phách ngủ say trên cơ thể của Tây Hải đại hoàng tử, thì ta vẫn muốn nhìn thấy người. Lòng mong muốn đến Tây Hải này giống như một con chim mẹ trong rừng, dậy thật sớm đi bắt sâu, khi bắt được một con sâu béo, liền hoan hỉ giang cánh bay về tổ, muốn mớm sâu cho con chim non đang nằm trong tổ.

Từ trên Cửu Trùng Thiên xuống đến Tây Hải, cưỡi mây cũng mất chừng hơn một canh giờ, cưỡi mây cùng Chiết Nhan cực kỳ buồn chán, lão luôn lảm nhảm không ngừng bên tai ta. May mà gần đây lão với tứ ca hòa thuận vui vẻ, nên lỗ tai ta mới khỏi bị tra tấn, khỏi phải nghe đi nghe lại những chuyện xấu hổ từ đời nảo đời nào về lão và tứ ca.

Lần này Chiết Nhan lại huyên thuyên về chuyện nhà của Tây Hải Thủy Quân, ta ngồi trên mây, giữ dáng vẻ nghiêm trang, chăm chú lắng nghe.

Trong các Thủy Quân của bốn phương đông tây nam bắc, thì Tây Hải Thủy Quân là người ta không có ấn tượng nhất. Ban đầu ta còn cho rằng mình ở Thanh Khâu đã quá lâu, không hay quan tâm đến đám thần tiên tiểu bối, nên ấn tượng về họ hết sức mờ nhạt trong tâm trí ta. Bây giờ nghe Chiết Nhan kể, mới hiểu rằng Tây Hải Thủy Quân hai đời nay sống hết sức kín đáo, khiến cho tộc Tây Hải gần như có cảm giác không tồn tại trong bốn bể tám cõi. Nhưng chính Tây Hải Thủy Quân – luôn giữ tác phong kín đáo nhiều năm qua gần đây lại làm một chuyện hết sức không kín đáo.

Chuyện này cũng do Tây Hải đại hoàng tử – Điệp Ung bị Mặc Uyên mượn thân xác điều dưỡng hồn phượng mà ra.

Nghe nói từ sáu trăm năm trước, Điệp Ung vốn không được khỏe mạnh, sức khỏe càng ngày càng tệ, đám thầy thuốc trong Thủy Tinh cung ở Tây Hải vì không tìm ra được nguồn bệnh, chữa chạy đã lâu mà không khỏi, nên đã mời Dược Quân ở trên trời xuống chẩn trị. Dược Quân mang theo hai tiểu đồng đến “vọng, văn, vấn, thiết”(34) một lượt, vuốt vuốt chòm râu rồi kê đơn thuốc. Nhưng hai đơn thuốc này chỉ có thể giúp Điệp Ung không ho ra máu nữa mà thôi. Trước lúc đi Dược Quân âm thầm kéo Tây Hải Thủy Quân đến một góc, nói bệnh của đại hoàng tử Điệp Ung không phải là bệnh lý trên người, mà đã không phải là bệnh trên người, thì Dược Quân cũng đành bó tay.

Đến Dược Quân cũng phải bó tay, Tây Hải Thủy Quân nhất thời đau xót đến đỏ hoe mắt, trầm tư nửa ngày, dứt khoát lập cáo thị cầu thầy thuốc, cáo thị ấy được dán khắp bốn bể tám cõi, viết hết sức rõ ràng, trong tam giới có ai có thể chữa khỏi bệnh của Tây Hải đại hoàng tử, đàn ông thì vời vào làm phi tử của Tây Hải đại hoàng tử, nữ thì được vời vào làm phi tử của Tây Hải nhị hoàng tử.

Haizz, đúng rồi, Tây Hải đại hoàng tử nghe đồn là một kẻ đoạn tụ.

Tây Hải Thủy Quân lo lắng đến mức đau đầu buốt óc, lời lẽ trên bản cáo thị cũng thành lạ lùng. Đương nhiên dưới gầm trời này cũng không ít kẻ đoạn tụ, ví dụ như cha của Ly Kính năm xưa là Kình Thương. Nhưng cũng có càng nhiều hơn không phải là đoạn tụ. Cáo thị lạ lùng kỳ quái của ông ta đã khiến những người không phải là đoạn tụ kia sợ chạy mất dép. Đợi mãi, đến lúc phát hiện chỗ sai trên cáo thị, thì bản cáo thị ấy đã như một bát nước lạnh bị rót vào dầu sôi, khiến cho bốn bể tám cõi đều nổ tung cả lên.

Từ đó, trước cổng cung của Tây Hải Thủy Quân, đám đoạn tụ nhiều như nước sông Hoàng Hà, cuồn cuộn sóng sau xô sóng trước, liên miên không dứt. Tiếc thay đám đoạn tụ này tuy “có tài đoạn tụ” nhưng lại chẳng có tài chữa bệnh.

Hồn phách của Mặc Uyên trốn rất kỹ, nếu không phải là người có tiên pháp đã đạt đến cảnh giới siêu việt, thì sẽ không thể nhìn ra trong thân thể của Điệp Ung có một hồn phách đang trú ngụ, ngày ngày chia tiên lực của y.

Vì thế, đại hoàng tử Điệp Ung bị giày vò đến mức chẳng còn ra dáng thần tiên. Phu nhân của Tây Hải Thủy Quân thấy y hình dung võ vàng thì đau lòng khôn xiết, ngày nào cũng khóc lóc trước mặt phu quân mình, khiến cho Tây Hải Thủy Quân cũng bội phần đau đớn.

Người có lòng hướng đạo, trời chẳng tuyệt đường sống bao giờ. Em ruột của Điệp Ung, nhị hoàng từ Tô Mạch Diệp và tứ ca của ta lại có mối quan hệ “bạn nhậu”. Nghe nói sau khi tứ ca tìm được Tất Phương về rừng đào mười dặm, bỗng một hôm cãi nhau với Chiết Nhan dăm câu, tức giận liền đến Thủy Tinh cung ở Tây Hải tìm Tô Mạch Diệp uống rượu.

Đúng lúc Thủy Tinh cung của Tây Hải gặp cơn sầu thảm, nhị hoàng tử Tô Mạch Diệp đó mới uống vài chén, ngà ngà say, mới lôi hết những chuyện buồn phiền trong gia đình ra kể cho tứ ca nghe. Tứ ca nghe xong những chuyện đau xót trong nhà Tô Mạch Diệp, lòng trắc ẩn dâng trào, liền tỏ ý sẽ về rừng đào mười dặm vời thượng thần Chiết Nhan đến giúp y. Xưa nay Chiết Nhan “định vị bản thân” rất rõ ràng, là một thượng thần thần bí “quy ẩn tam giới, chẳng hỏi hồng trần, hứng thú tao nhã, phẩm vị còn tao nhã hơn cả hứng thú”, mặc dù không muốn lội xuống nước, nhưng không thể không động lòng trước tấm thân tình của tứ ca, cuối cùng vẫn phải đến Tây Hải một chuyến. Chuyến này đã thu về được tin vui là Mặc Uyên sắp tỉnh, làm ta thỏa nguyện mong ước.

Chiết Nhan nheo mắt lại, nói: “Lúc ta và Chân Chân rời khỏi Tây Hải, nhận lời với đám tiểu thần tiên Tây Hải rằng, cứ cách một ngày lại phái tiên sứ đến Tây Hải, đích thân điều dưỡng cho Điệp Ung. Nếu muốn hồn phách của Mặc Uyên khôi phục suôn sẻ, thì cơ thể của Điệp Ung đương nhiên cũng cần được chăm sóc cẩn thận”.

Lão nói rất có lý, ta nhăn mày hỏi: “Từ lúc nào mà rừng đào của lão có tiên sứ thế?”.

Lão cười rất tự nhiên, đáp lời ta: “Trong tiệc đầy tháng ở chỗ Đông Hải Thủy Quân lần trước, nghe nói có một tiên nga mắt băng dải lụa trắng, đến đưa quà mừng là một bình rượu hoa đào cho Đông Hải Thủy Quân, tự xưng là phục vụ trong rừng đào của ta. Còn nghe nói tiên nga này cũng tự xưng là muội muội của thái tử Dạ Hoa trên Cửu Trùng Thiên, mấy lão thần tiên đã lên Cửu Trùng Thiên dò hỏi nửa tháng trời, nhưng không tìm ra được Dạ Hoa có muội muội nào, sau này lại chạy đến phủ của Đông Hải Thủy Quân chứng thực, hóa ra tiên nga đó không phải là tiên nga, mà là một tiên quân nam đóng giả nữ, vì có mối tình đoạn tụ với Dạ Hoa, nên đường đường là nam nhi mới phải giả là thục nữ, mạo danh là muội muội của hắn, để che mắt thiên hạ”.

Ta nhếch miệng: “Lão Đông Hải Thủy Quân này đúng là vui tính, ha ha, rất vui tính”.

Có thể tự tay điều dưỡng tiên thể của Tây Hải đại hoàng tử để báo đáp Mặc Uyên, ta vô cùng biết ơn Chiết Nhan. Nhưng lần này lão nhất định bắt ta phải giả nam, lại đẩy ta đến trước mặt một kẻ đoạn tụ, khiến ta hơi buồn bã. Ta cảm thấy hơi hối hận vì đã không nhờ tới tứ ca, bữa yến tiệc đầy tháng đó ở chỗ Đông Hải Thủy Quân, ta không nên lôi đại danh của Chiết Nhan ra.

Chiết Nhan liếc xéo ta một cái, ta ngẩng lên nhìn trời xanh, lắc mình hóa thành một thiếu niên, trên mặt vẫn băng một dải lụa trắng.

Đi khoảng một canh giờ, cuối cùng cũng đến Tây Hải.

Chiết Nhan ra vẻ một thượng thần uy nghiêm lẫm liệt dẫn ta tiến vào Tây Hải, đi loanh quanh dưới nước một lúc, thì nhìn thấy một tòa cung lớn, Tây Hải Thủy Quân đã dẫn đầu một đoàn tiểu tiên ăn mặc chỉnh tề, nghiêm trang xếp hàng đứng đón.

Vì ta được thượng thần Chiết Nhan dẫn tới Tây Hải, nên cho dù lão luôn miệng gọi ta là tiên sứ hầu việc cho lão, thì Tây Hải Thủy Quân cũng không dám khinh thường ta. Vẫn theo lễ, cung kính mời Chiết Nhan lên ngồi ngôi cao ở đại điện, cẩn thận rót trà đứng hầu, còn có rất nhiều tiên nga bưng hoa quả đến, để thượng thần Chiết Nhan dùng lúc nghỉ chân.

Chiết Nhan nghỉ chân, đương nhiên ta cũng làm theo.

Tám, chín nghìn năm trước, nhị ca Bạch Dịch của ta cũng từng ham mê văn chương, thường lấy về mấy tập thơ ở phàm giới, cùng ta ngâm ngợi. Trong đó có một bài do một đại tài tử được đám người trần gian công nhận là có tài mà không có đức viết nên, toàn bài thơ ta không còn nhớ nữa, nhưng vẫn nhớ hai câu trong đó, ấy là “Gần quê lòng càng khiếp sợ, không dám hỏi người đến là ai(35)”. Nhị ca giải thích cặn kẽ cho ta, nói là thi nhân đi xa quê hương, nhiều năm bặt vô âm tín, lần này lòng mong mỏi trở về, càng gần đến nhà thì lại càng không dám hỏi người bên cạnh về tin tức của người nhà. Hai câu thơ này đã bộc lộ hết nỗi lòng sợ hãi, lo âu của thi nhân, quả đáng gọi là đại tài. Lúc đó ta nghe những lời của nhị ca, trong lòng lại nghĩ khác, chỉ cảm thấy thi nhân này đã nhớ nhà da diết mà lại không không dám tiến bước, thì ông ta hơi biến thái, người bình thường chắc chắn sẽ không chần chừ như ông ta.

Đến ngày hôm nay, ta mới ngộ ra được ý tứ sâu xa của hai câu thơ kia, mới hiểu rằng thi nhân đó không phải là người biến thái, mà thực sự có tài năng. Vì lúc này, ngồi trên đại điện của Thủy Tinh cung tại Tây Hải, nỗi thấp thỏm trong lòng, cũng giống như nỗi lòng càng gần đến quê càng khiếp sợ, vừa muốn lập tức nhìn thấy hồn Mặc Uyên, lại sợ nhìn thấy ngay tức khắc.

Chiết Nhan cũng không nghỉ lâu, nhắm mắt uống hai ngụm trà, rồi nói là phải đi. Vì những lời đó là của thượng thần Chiết Nhan, nên Tây Hải Thủy Quân cho dù có lòng muốn giữ lão lại cũng ngại vẻ mặt nghiêm trang, lạnh lùng của lão, đành phải hô đám tiểu thần tiên ở Tây Hải tiền hô hậu ủng đưa tiễn lão.

Tiễn Chiết Nhan rồi, Tây Hải Thủy Quân vẫn giữ nét mặt buồn rầu, khiêm nhường, cẩn trọng nói mấy câu khách sáo, rồi đích thân dẫn ta đến thăm đại hoàng tử Điệp Ung. Ta hít một hơi thật sâu, toàn thân căng lên, chỉ sợ gặp Điệp Ung sẽ làm gì thất lễ.

Ta thầm nghĩ, Mặc Uyên đã đem hồn phách trú ngụ trên người đại hoàng tử Tây Hải, vậy thì khí trạch toàn thân của đại hoàng tử này hẳn sẽ gợi cho ta cảm giác thân thiết và quen thuộc, dáng vẻ của y có lẽ cũng phảng phất bóng dáng của Mặc Uyên. Nhưng đến khi cánh cửa điện Phù Anh của y được hai cung nga khẽ mở ra, ta bước theo sau Tây Hải Thủy Quân, nhìn thấy Điệp Ung đang đờ đẫn, đầu óc rối bù thì trái tim ta dần dần chùng xuống.

Chàng trai bệnh tật nằm trên giường kia, mày mắt tuy thanh tú nhưng khí lực quá yếu ớt, chẳng sao sánh được với Mặc Uyên. Còn khí trạch bên ngoài tấm thân, cũng lả lướt, chẳng có chút gì là cao lớn sâu xa.

Hễ nhìn thấy là lại cho người ta tin rằng trên người y mà có hồn phách của một chiến thần từng hô phong hoán vũ khắp bốn bể tám cõi trú ngụ, chẳng khác nào bắt người ta phải tin chim trống có thể đẻ ra trứng rồi ấp như chim mái.

Có lẽ hồn phách của Mặc Uyên ngủ đã quá say, chẳng để cho Điệp Ung hấp thu được chút tiên khí mạnh mẽ mà trầm ổn của người.

Tây Hải Thủy Quân đứng bên cạnh nói những lời đầy tâm sự rất lâu, đại ý là cho con trai của ông ta hay, vị tiên quân đứng trước mặt y chính là đệ tử của thượng thần Chiết Nhan. Từ rày về sau, căn bệnh mấy trăm năm không chữa khỏi của y, đều phải nhờ vào vị tiên quân này chữa trị, mong y hãy biết ơn, cẩn thận phối hợp với vị tiên quân này.

Haizz, “vị tiên quân này” chính là chỉ thượng thần bất tài ta đây.

Tây Hải Thủy Quân vẫn huyên thuyên, ta và Điệp Ung im lặng nhìn nhau.

Một nô tỳ của Điệp Ung mang một chiếc đôn thêu đến đặt trước giường, để ta ngồi bắt mạch cho Điệp Ung. Ta run run đưa tay cầm cổ tay y, mạch đập không hư không thực, không chậm không nhanh, không chìm không nổi, đúng như Chiết Nhan nói, mạch tượng bất thường.

Tây Hải Thủy Quân rất lo lắng, cuống quýt tiến tới hỏi: “Bệnh của tiểu nhi…”.

Ta gượng cười với ông ta: “Thủy Quân có thể cùng những người khác ra ngoài điện được không?”.

Đuổi đám người trong điện đi để ta tiện dùng truy hồn thuật tìm hồn phách của Mặc Uyên. Truy hồn thuật là một thuật pháp mạnh mẽ, nhưng cũng tùy đối tượng, nếu không phải đạt đến phẩm trật thượng thần, cho dù tiên pháp của anh có cao siêu đến đâu, thì cũng không thể thi triển nó. Hơn nữa, khi thi triển lại phải giữ cho khí trạch nội trong trăm thước vuông thanh tịnh, bình ổn, không được để người bên cạnh quấy rầy.

Khi ta bước vào điện, thì Điệp Ung ngây dại đó mới khẽ liếc ta một cái, ta cười với y rất hiền hòa, rồi một đao đâm tới. Điệp Ung mở to mắt, chớp hai cái, đổ nghiêng ngả ra giường.

Đã nhiều năm không thi triển truy hồn thuật, may mà chú ngữ phối hợp ta vẫn còn nhớ. Hai tay bắt ấn già, trong điện bỗng chói lòa một luồng sáng màu trắng, luồng sáng từ từ quấn thành một dải màu bạc, bay thẳng đến vầng trán cao rộng của Điệp Ung, rồi biến mất không để lại dấu vết. Ta thở phào một hơi, cẩn thận đẩy thần thức từ trong cơ thể ra, thuận theo hướng dải sáng bạc vừa đi, chầm chậm tiến vào nguyên thần của Điệp Ung. Đây luôn là một phép thuật đòi hỏi sự tỉ mỉ, chỉ sểnh một chút là sẽ trộn thần thức của người làm phép và người bị làm phép làm một, cho nên không thể lơ là.

Trong nguyên thần của Điệp Ung tràn đầy ánh sáng bạc hư ảo, nhưng sáng rõ, nhưng vì quá sáng rõ, nên cũng chẳng khác gì với đen tối. Ta quanh quẩn trong nguyên thần của y hồi lâu, cũng chẳng tìm ra được nơi hồn phách của Mặc Uyên ngủ say, tìm qua tìm lại vô cùng vất vả. Khi đang định rút ra để dùng truy hồn thuật một lần nữa thì bên tai vẳng lại tiếng nhạc vô cùng quen thuộc, dìu dặt du dương, khoáng đạt an nhàn, ta vẫn còn nhớ, giai điệu chính là khúc Đại Thánh Phật Âm mà Mặc Uyên dùng đàn Thái Cổ Di Âm tấu lên, khi pháp hội của Đông Thần Huyền Minh kết thúc năm xưa. Tim ta đập nhói lên, vội vàng tập trung, loạng choạng đi theo tiếng nhạc.

Nhưng khi chạm phải, thì Đại Thánh Phật Âm ngưng bặt.

Hai tay ta run rẩy sờ thứ ta vừa chạm phải, cảm giác mềm mại, ấm áp, giống như có một dải tiên khí chầm chậm bò quanh ngón tay, quấn quýt giữa các ngón. Thần thức không rơi lệ, nhưng vẫn cảm giác được khóe mắt cay xót. Trong mắt, trong đầu ta đều trống rỗng, lúc này, thứ mà ta chạm tới, chính là, chính là, hồn của Mặc Uyên.

Nhưng hồn phách của Mặc Uyên lại tang thương đến thế. Sư phụ Mặc Uyên của ta, chiến thần Mặc Uyên duy nhất trong khắp bốn bể tám cõi này, chiến hồn mạnh mẽ của người, giờ đây lại yếu ớt đến mức phải nhờ vào một dải tiên khí bảo vệ.

Chẳng trách Điệp Ung và Mặc Uyên chẳng hề giống nhau.

Nhưng vẫn con may, vẫn còn quay về, Chiết Nhan không lừa ta, người còn thân thiết hơn cha ta – Mặc Uyên, đã quay về.

Ở quá lâu trong nguyên thần của Điệp Ung, ban nãy thần thức lại bị một phen chấn động, nếu cứ dùng dằng mãi e rằng sẽ nguy hiểm. Cái hư không màu trắng bạc này tuy không thể nhìn rõ là vật gì, mang tâm trạng vừa lo vừa mừng, ta quỳ xuống vái lạy hồn Mặc Uyên hai cái, rồi cẩn thận ra bên ngoài.

Giải xong truy hồn thuật, Điệp Ung cũng từ từ tỉnh lại.

Y mở mắt nhìn ta, ngây ra hỏi: “Sao ngươi lại khóc? Không chữa được bệnh của ta phải không? Không chữa được bệnh cho ta cũng không cần đau lòng đến mức phát khóc như thế. Nếu cần phải khóc, thì là ta nên khóc mới phải. Người đừng khóc, ta như vậy cũng không sao, lâu ngày nên quen rồi”.

Ta sờ lên dải lụa trắng trên mặt, đúng là hơi ươn ướt, có lẽ ban nãy thần thức quá xúc động, làm liên lụy đến cả đôi mắt trên người, bèn dùng phép hong khô dải lụa trắng, ngại ngùng cười nói: “Ta mừng quá nên mới khóc”.

Y nhíu mày hỏi: “Ngươi ấy, ta còn tưởng ngươi là một kẻ mềm lòng, thấy bệnh của ta thì đồng cảm, khóc thương thay ta. Nào ngờ ngươi lại mừng khi ta chịu khổ”.

Ta dịu dàng vỗ lên vai hắn, khiêm nhường nói: “Đâu có, đâu có, đâu có vui lắm đâu”.

Chiết Nhan nói không sai, dựa vào tấm thân yếu đuối của Điệp Ung, hồn của Mặc Uyên ít nhất cũng mất bảy, tám nghìn năm điều dưỡng mới có thể khiến chính thân tỉnh lại. Nhưng nếu mượn được đèn Kết Phách của Thiên tộc để dùng, thì những phần hồn tán loạn sẽ được ghép lại hoàn chỉnh, rồi đem tu vi mười bốn vạn năm của ta độ cho người một nửa, thì việc người tỉnh lại chỉ là một sớm một chiều mà thôi.

Nhưng tuy ta sống đã ngần này tuổi mà vẫn chưa từng thấy cây đèn Kết Phách của Thiên tộc, mà chỉ đọc được trong sách vở. Những ghi chép này đều nói đèn Kết Phách do Phụ Thần của thời đại hồng hoang chế tạo, có thể kết hồn của thần tiên, tạo hồn cho người phàm.

Ví dụ như một vị tiên bị đánh tan hồn phách, nếu bị đánh tan tành, thì chỉ cần đặt đèn Kết Phách trên đầu giường người đó ba ngày, sẽ kết nối hồn phách của người đó như cũ. Còn nếu là người phàm thì càng siêu phàm hơn, cho dù người đó đã tan thành tro bụi, chỉ cần đem một thứ đồ có mang hơi hướm của người phàm trần này đến đốt trên đèn một lần, sẽ khiến đèn nhận ra chuẩn xác được hơi thở của người phàm đó, nó sẽ từ từ hút những khí trạch còn lưu lại của người đó trong khoảng ngàn dặm vuông. Đợi đến khi hút sạch khí trạch của người phàm đó lưu lại trong nhân gian, nó sẽ mô phỏng lại một hồn phách giống hệt như hồn phách đã bị đánh tan thành tro bụi kia.

Haizz, đúng là một thánh vật hạng nhất.

Ta làm phép cho Điệp Ung ngủ, rồi đi qua cửa điện Phù Anh, đám người vừa bị ta đuổi ra ngoài đang đứng thấp tha thấp thỏm một bên, người duy nhất không thấy đâu là Tây Hải Thủy Quân. Cung nga dẫn đầu rất tinh ý, ta chưa mở miệng hỏi, nàng ta đã quay sang chào: “Vừa có khách quý tới, Thủy Quân đã ra đại điện đón khách rồi. Nếu là những việc vặt vãnh, tiên quân chỉ cần sai bảo chúng nô tỳ là được ạ”.

Khụ khụ, hóa ra Tây Hải lại có khách quý nữa tới. Hôm nay Tây Hải Thủy Quân thật là vinh hạnh, hai thượng thần uy danh hiển hách là bản thượng thần và thượng thần Chiết Nhan giá lâm địa giới của ông ta, đã đủ khiến cho Thủy Tinh cung của ông ta sáng láng rạng rỡ, đã may mắn một lần giờ lại may mắn thêm, lại đón thêm một khách quý nữa. Haizz, vận may lớn thế này, chắc bảy, tám nghìn năm nay ông ta mới có.

Ta cũng chẳng có gì phải dặn dò họ, chỉ cần lập tức lên Cửu Trùng Thiên một chuyến, tìm Thiên Quân hỏi mượn đèn Kết Phách. Nhưng hiện giờ vai ta đang sắm lại chẳng có vai vế gì, nên không thể thoải mái đi đi về về, thế nên trước khi đi, còn phải đích thân đi nói một tiếng với Tây Hải Thủy Quân. Ta chọn đại hai cung nga, nhờ họ dẫn đến đại điện đón khách của Tây Hải Thủy Quân, đám còn lại ở lại hầu hạ Điệp Ung.

Vị khách quý của Tây Hải Thủy Quân không hề tầm thường.

Trước cửa đại điện là hai hàng dài tiểu thần tiên, dáng vẻ cung kính chắp tay đứng chờ. Nhìn lướt qua mặt họ, ta nhận ra đó chính là những người khi Tây Hải Thủy Quân đón tiếp Chiết Nhan.

Có thể thấy người đến tuy phẩm vị không bằng Chiết Nhan, nhưng chức vị thì có thể còn cao hơn hẳn. Ta vội thông báo chuyện cần gặp Tây Hải Thủy Quân đang đứng cách hai dãy tiểu thần tiên của Tây Hải, ngay sau đó, có hai cung nga ăn mặc hoa lệ bước ra, dẫn ta vào trong điện.

Bản thượng thần đoán chẳng nhầm, phẩm vị của vị khách này không cao bằng Chiết Nhan, nhưng chức vị thì đúng là cao hơn Chiết Nhan.

Vị khách quý này chính là người đã tức giận với ta, thái tử của Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên – Dạ Hoa.

Lúc ta bước vào, hắn đang dùng tay chống má, ngồi tựa vào chiếc ghế khắc hoa bằng gỗ tử đàn, nét mặt uể oải, nhăn mày nhăn mặt, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy. Quần áo mặc trên người vẫn là đồ mặc chiều hôm qua, tóc chưa chải lại, vẫn giống như lúc ở Thanh Khâu, chỉ dùng một dải lụa đen buộc túm lại ở phần đuôi tóc.

Ta nhìn xung quanh chẳng thấy Tây Hải Thủy Quân ở trong đại điện, lại nghĩ đến câu mà ta đã nói với hắn trong “Nhất Lãm Phương Hoa”, khi hắn bế cục bột nhỏ đi, máu nóng xộc lên, hừ mũi một tiếng, rồi quay người phảy tay áo toan bỏ đi.

Ta đứng cách hắn khoảng sáu, bảy bước chân, lúc phảy tay áo bỗng thấy có cơn gió nhẹ xao động phía sau, khi phản ứng kịp thì đã bị hắn kéo lại.

Vì ta định quay gót đi thực chứ không phải làm bộ làm tịch, nếu chỉ là một cái kéo nhẹ nhàng thì ta đã không hề suy chuyển.

Hẳn hắn cũng biết nên cái kéo này rất mạnh. Hôm nay ta đã suy xét sự tình rất chu toàn, nhưng chẳng ngờ hắn lại to gan như vậy, không coi phong độ thượng thần phải khổ luyện suốt mười bốn vạn năm ra gì nên dám chặn ta lại. Thế là, chỉ vô ý một chút đã bị hắn kéo cho loạng choạng, rồi lao thẳng vào lòng hắn.

Tiên khí mạnh mẽ của ta đẩy cho hắn lui ba, bốn bước, đập thẳng vào cột trụ bằng thủy tinh lớn chính giữa điện, nhưng hắn vẫn cắn chặt môi, nhất quyết không chịu buông tay, sắc đen thẫm ánh lên trong đôi mắt.

Hắn xiết rất mạnh tay, ta giằng co hồi lâu mà không giằng ra được, đang định dùng phép thuật thì hắn quay người lại, khóa chặt hai tay ta, áp sát người lại, ép chặt ta vào tường. Tư thế này thực sự rất mờ ám, lúc ở trần gian ta từng xem những bức xuân cung đồ vẽ màu, trong đó có một bức giống thế này.

Thần trí còn ở đẩu đâu thì bỗng cảm thấy ở cổ hơi đau. Hắn, hắn, hắn, hắn cắn ta! Răng, răng hắn sắc quá đi mất!

Tất cả đều thiên thời địa lợi nhân hòa, giúp hắn ép mạnh ta, ta không thể phản kháng lại. Hắn thở hổn hển, môi lưỡi chậm rãi mơn trớn cổ ta, đầu óc ta tỉnh táo mà cơ thể lại không ngừng run rẩy. Có một thứ cảm xúc không tên đang trỗi dậy, hai bàn tay bắt đầu thả lỏng, nhưng thả lỏng không phải để đẩy hắn ra, mà dường như muốn thoát khỏi sự điều khiển của ta, để ôm hắn thật chặt.

Trong đầu ta bỗng vẳng lên một giọng nói thật xa xăm, hư hư ảo ảo, hắn nói: “Nếu ta chẳng có gì, nàng có bằng lòng theo ta không?”, lập tức có một người con gái khẽ cười đáp: “Ngoài thanh kiếm trong góc tường kia, chàng chẳng có gì hết, mà thanh kiếm đó, ngoài chẻ củi ra thì chẳng có tác dụng gì, thiếp cũng đâu có chê chàng”.

Từng câu từng chữ ngốc nghếch đó khiến đầu óc ta trở nên mơ hồ, hỗn độn, có cảm giác từ đầu đến chân đều không còn là của mình nữa, tận đáy lòng trào dâng một khát vọng tựa như đã đợi chờ cả triệu năm, khát vọng ấy khóa chặt ta lại, khiến ta không nhúc nhích được. Một tay hắn mở vạt áo trước của ta ra, làn môi nóng bỏng trượt từ xương quai xanh xuống, cho đến chỗ trái tim, vì đã lấy máu nuôi Mặc Uyên bảy vạn năm nên ở tim ta luôn có một vết sẹo dài chừng mười phân, lõm xuống rất sâu. Cánh tay trái hắn kìm chặt hai tay ta hơi gồng lên rồi càng xiết chặt hơn, làn môi hết lần này đến lần khác chà lên vết sẹo ở tim ta. Ta ngẩng đầu khẽ rên một tiếng, chỗ bị hắn hôn bỗng đau nhói, còn đau hơn cả bị dao đâm.

Cơn đau ấy đã kéo ta về với thực tại, toàn thân mất hết sức lực, cả người men theo bức tường từ từ trượt xuống.

Cuối cùng hắn cũng buông tay. Hai cánh tay ta đã được tự do, chẳng nghĩ ngợi gì, ta vung tay tát hắn một cái. Nhưng buồn thay cái tát đó mới đi nửa chừng đã bị hắn giữ lại, rồi kéo ta vào lòng hắn. Cánh tay phải của hắn lại thọc sâu vào lớp áo còn chưa kịp khép lại của ta, áp vào chỗ tim, mặt vẫn trắng bệch như tờ giấy, hai mắt lại sáng rỡ. Hắn nói: “Bạch Thiển, chỗ này của nàng, có dành cho ta vị trí nào không?”.

Hắn đã hỏi ta câu này hai lần, nhưng ta thực sự không biết phải trả lời hắn ra sao. Trong tim ta đương nhiên có hắn, nhưng ta không biết vị trí mà hắn nói và vị trí mà ta nói có giống nhau hay không. Hai ngày gần đây, những lúc chỉ có một mình, ta cũng thầm ngẫm nghĩ, trong lòng ta hắn chiếm vị trí gì? Nghĩ đi nghĩ lại, đến đau cả đầu.

Bàn tay nóng rẫy của hắn dính lấy ngực ta rồi dần dần lạnh đi, ánh sáng trong mắt cũng dần dần u ám lại, chỉ còn lại một màu đen trầm lắng, hồi lâu sau, hắn mới bỏ tay ra, chậm rãi nói: “Nàng đợi đã bao năm như vậy là đợi người đó quay về, giờ người đó đã quay về, trái tim của nàng đương nhiên sẽ không thể dành chỗ cho người khác, là ta vọng tưởng mà thôi”.

Ta ngẩng phắt đầu lên nhìn hắn: “Sao ngươi biết Mặc Uyên trở về?”. Tuy rằng không hiểu hết ý tứ trong lời nói của hắn, nhưng Mặc Uyên là Mặc Uyên, hắn là hắn, Mặc Uyên quay về hay không quay về đâu có quan hệ với hắn chiếm vị trí gì trong lòng ta. Nhưng việc Mặc Uyên quay về, theo lý mà nói chỉ có ba người Chiết Nhan, tứ ca và ta biết thôi, cùng lắm là có thêm Mê Cốc và Tất Phương, vậy hắn nghe được từ đâu?

Hắn quay đầu nhìn ra ngoài điện, hững hờ nói: “Cái đêm trước khi trở về Thiên Cung, thượng thần Chiết Nhan đã nói với ta. Ban nãy ta đến Thanh Khâu tìm nàng, giữa đường gặp ông ấy, hàn huyên với ông ấy vài câu. Ta không chỉ biết người ấy đã quay về, mà còn biết để người ấy sớm tỉnh lại, nàng nhất định sẽ đến Thiên Cung mượn đèn Kết Phách”. Hắn ngừng lại giây lát, rồi nói tiếp: “Mượn được đèn Kết Phách rồi, nàng định làm gì tiếp theo?”.

Xem ra những gì nên nói hay không nên nói thì Chiết Nhan cũng nói cả rồi. Ta sờ trán, thở dài: “Đến Doanh Châu lấy cỏ Thần Chi, độ cho sư phụ tu vi bảy vạn năm, để người mau tỉnh lại”.

Hắn quay ngoắt đầu lại, trên khuôn mặt trắng bệch, đôi mắt đen lại càng thăm thẳm hơn, nhìn ta rất lâu, rồi gằn từng tiếng: “Nàng điên rồi”.

Vì tiên trạch của mỗi thần tiên là không giống nhau, khi thần tiên độ tu vi cho nhau, nếu độ quá nhiều thì rất dễ làm rối loạn khí trạch của bản thân, rối loạn tu vi, cuối cùng sẽ rơi vào ma đạo. Còn cỏ Thần Chi lại chính là loại cỏ thiêng dùng để làm trong sạch tiên trạch, lần này ta phải độ cho Mặc Uyên tu vi bảy vạn năm, để tránh chữa lợn lành thành lợn què, nên mới cần tới cỏ Thần Chi để dự phòng bảo vệ, dùng tu vi bảy vạn năm của ta và cỏ Thần Chi luyện thành một viên tiên đan, đưa cho Điệp Ung uống, chỉ không đầy ba tháng, Mặc Uyên sẽ tỉnh lại.

Vì cỏ Thần Chi có công dụng thần kỳ như vậy, năm xưa Phụ Thần lo rằng một số tiểu thần tiên không tu hành theo con đường chính đạo, nên đã hủy hết cỏ Thần Chi trong bốn bể tám cõi, chỉ giữ lại một ít ở Doanh Châu của Đông Hải. Nhưng chỗ cỏ này cũng được bốn con ác thú là Hỗn Độn, Đào Ngột, Cùng Kỳ và Thao Thiết canh giữ. Sau khi Phụ Thần ra đi, bốn con ác thú đã được nhận một nửa thần lực của Phụ Thần, càng trở nên hung dữ hơn. Còn nhớ năm xưa, khi mẹ muốn độ tu vi cho ta ở trong động Viêm Hoa, cha đã vì ta đến Doanh Châu lấy một ít cỏ Thần Chi, khi về mình đầy thương tích. Khắp cõi trời đất chẳng có mấy thần tiên có tu vi sánh với cha ta, vậy mà ông vẫn bị ác thú canh cỏ Thần Chi đánh cho tơi tả, lần này ta đi, đúng như hắn nói, chẳng khác gì một kẻ điên, chắc chắn sẽ bị trọng thương.

Vốn dĩ Dạ Hoa đứng cách ta chỉ ba bước, sau khi buông ta ra, ta vẫn đứng tựa vào cây cột đá. Hắn chỉ giơ tay lên là đã đẩy ta vào giữa cây cột, hai mắt tối sầm, nghiến răng nói: “Vì người ấy, nàng không cần cả tính mạng sao?”. Rõ ràng ta mới là người bị đẩy vào vậy mà vẻ mặt của hắn lại như thể hai chúng ta đã đổi vai.

Câu nói ấy của hắn thật lạ lùng, nếu ta thực sự không đánh nổi bốn con ác thú, thì chỉ cần quay đầu bỏ chạy, đâu cần phải đánh đổi bằng cả tính mạng? Nếu không lấy được cỏ Thần Chi, thì ta lại đợi sư phụ thêm bảy, tám nghìn năm nữa mà thôi.

Nhưng nhìn gương mặt nhợt nhạt lại vừa nghiêm túc của hắn, ta bỗng nhớ ra một chuyện vô cùng cấp bách. Nếu theo tốc độ tu hành bình thường của ta, ta vừa bị trọng thương lại vừa thiếu tu vi bảy vạn năm, ít nhất cũng phải mất ba, bốn vạn năm nữa mới có thể tỉnh lại. Trong ba, bốn vạn năm ấy, đương nhiên sẽ không thể có một Thiên hậu kế vị chịu gánh tám mươi mốt ngọn lửa, chín tia sấm sét, xưa nay chưa từng nghe một Thiên đế nào khi kế vị mà chưa lập Thiên hậu, nếu tiếp tục để hôn ước này bó buộc chúng ta với nhau cũng không được thỏa đáng lắm.

Ta hắng giọng một tiếng, ngẩng đầu lên nhìn hắn nói: “Hôn ước của chúng tay hay là hủy đi!”.

Hắn choáng váng, nói: “Nàng nói cái gì?”.

Ta gỡ tay hắn ra, lần đến bên bàn, rót một tách trà, nghe thấy tiếng mình vang lên khô khốc: “Chuyện này chẳng can hệ gì với ngươi, chẳng qua là do năm xưa Tang Tịch đã sai lầm, khiến Thanh Khâu nhà ta mất thể diện, Thiên Quân vì muốn gắn kết hai nhà, nên mới định ra hôn ước chẳng ra sao này. Lần này là do Thanh Khâu nhà ta từ hôn trước, chúng ta đường ai nấy đi, những chuyện trước kia, sau này không ai nợ ai”.

Mãi lâu sau hắn vẫn không có động tĩnh gì, quay lưng lại phía ta rất lâu mới lên tiếng: “Đêm nay, nàng đến phòng ta một lần đi, đèn Kết Phách không ở trên trời, mà ở chỗ ta”. Dứt lời, bèn quay người lại nhìn ta, rồi đi thẳng ra ngoài điện, nhưng suýt chút nữa thì va vào một cây cột thủy tinh khác.

Ta đáp lại khô khốc: “Cẩn thận”.

Hắn khựng lại, đưa tay sờ lên trán, lạnh lùng nói: “Chẳng qua ta luôn vọng tưởng mà thôi, nhưng ta nợ nàng bao nhiêu, nàng nợ ta bao nhiêu, e rằng số phận đã chẳng thể làm rõ được”.

Chiếc bóng cao dài của hắn, càng nhìn càng thấy lẻ loi.

Chú thích:

34. Vọng, văn, vấn, thiết: Bốn phép khám bệnh cơ bản của Đông y, gồm vọng (nhìn), văn (nghe), vấn (hỏi), thiết (sờ, chạm) (ND).

35. Nguyên văn: Cận hương tình càng khiếp, bất cảm vấn lai nhân (ND).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s