TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA (3 cuốn) ~3

Tác giả : Đường Thất Công Tử

Cuốn 3

Chương 21: Cùng với tiếng rồng gầm trên Côn Luân, người đã quay về rồi

Ngày mười lăm tháng tám chơi Tết trung thu, rượu hoa quế trong cung Quảng Hàn cất từ năm ngoái đã xuống men, Thường Nga lệnh cho Ngô Cương ngoài lúc chặt cây ra thì chọn ra mấy vò rượu, tặng mỗi cung thất một vò. Ta đem bình rượu ấm được tặng cho Tẩy Ngô cung, cùng Dạ Hoa uống cạn hai chén, coi như là tiễn biệt chàng xuống hạ giới. Vốn dĩ ta muốn ở bên cạnh chàng, chàng không chịu, bắt ta phải về Thanh Khâu chờ chàng.

Dạ Hoa không cho ta theo chàng, có lẽ sợ rằng khi ở trần gian, ta sẽ bảo vệ chàng mọi lúc mọi nơi, phá giới mà làm phép, sẽ bị phản phệ lại bản thân. Nhưng ta cảm thấy có thể để chàng chịu ít gian khổ, giày vò nhất, thì bị chính pháp thuật của mình phản phệ một đôi lần cũng chẳng sao, nên tính sẽ giả vờ về Thanh Khâu trước, để chàng an tâm, đợi sau khi chàng uống nước Vong Xuyên, đầu thai chuyển thế, rồi ta lại mặt dày đi tìm chàng.

Yêu một người là như thế đó, lúc nào cũng muốn người mình yêu được sống tốt, người mình yêu được sống tốt, thì bản thân cũng vui vẻ. Đây chính là điều kỳ diệu của tình yêu, cho dù chịu tội, chịu khổ, nếu như trong lòng đã có hình bóng một người, thì nỗi khổ sánh ngang trời đấy cũng chỉ là sự giày vò ngọt ngào mà thôi.

Ti Mệnh Tinh Quân lại chỉ cho ta nơi Dạ Hoa đầu thai.

Kiếp này của Dạ Hoa được đầu thai vào một nhà danh gia vọng tộc, đời đời đèn sách ở Giang Nam, thúc bá tổ phụ đều là làm quan cả.

Ti Mệnh vui vẻ hào hứng, tặc lưỡi than, nói xét theo kinh nghiệm nhiều năm viết số mệnh của hắn, đứa con sinh ra trong gia đình này hẳn sẽ nối nghiệp tổ tiên, nhờ ngòi bút có thể hô mưa gọi gió, khuynh đảo thiên hạ, mà xưa nay Dạ Hoa lại rất giỏi văn chương, được đầu sinh thế này vô cùng phù hợp.

Nhưng ta biết rằng phàm các thế gia đại tộc chốn phàm trần trọng nhất là thể thống, dạy dỗ con cháu cực kỳ nghiêm khắc, rất tẻ nhạt. Con cháu họ cũng rất nghiêm khắc, rất tẻ nhạt, không hề hoạt bát đáng yêu giống những đứa trẻ bình thường trong dân gian. Dạ Hoa vốn đã không hoạt bát cho lắm, ta không chỉ mong khi đầu thai chàng có thể hoạt bát hơn, mà còn lo rằng chàng sẽ cô đơn quạnh quẽ suốt thời niên thiếu trong gia đình danh gia này.

Gia tộc Dạ Hoa đầu thai là họ Liễu, đại thiếu gia phu nhân nhà họ hạ sinh chàng là cháu trưởng, đặt tên Liễu Ánh, tự là Chiếu Ca. Ta không thích cái tên này cho lắm, cảm thấy hơi văn vẻ, không hề phù hợp với một Dạ Hoa anh tuấn dũng mãnh chút nào.

Ta trở về Thanh Khâu thu dọn lấy năm bộ xiêm y, gói vào tay nải, rồi lại rót trà mát, nhấp cho ngọt họng, rồi tức tốc chạy đến rừng đào mười dặm của Chiết Nhan, muốn mặt dày đi xin lão ít đan dược.

Nhưng đi đến nửa đường thì nhìn thấy Chiết Nhan đang cưỡi mây bay tới, phía sau còn có tứ ca cưỡi Tất Phương.

Họ dừng lại trước mặt ta.

Hai mắt tứ ca sáng lấp lánh, nói: “Tiểu Ngũ, có lẽ hôm nay muội đã thỏa ước nguyện bao năm. Bọn ta vừa từ Tây Hải trở về, cả đêm qua Điệp Ung vật vã, sáng nay Chiết Nhan dùng truy hồn thuật đi vào hồn y, lại phát hiện hồn Mặc Uyên không còn ở trong nguyên thần của Điệp Ung. Bọn ta định đến động Viêm Hoa xem xem, Mặc Uyên đã ngủ suốt bảy vạn năm, hẳn đã chọn ngày lành là hôm nay để tỉnh dậy”.

Ta thẫn thờ, mãi sau mới sực tỉnh. Lúc tĩnh trí thì thấy cánh tay mình đang lay lay tứ ca, miệng lắp bắp: “Sư, sư phụ tỉnh rồi ư? Người đã tỉnh rồi ư?”.

Tứ ca gật đầu, lại nhíu mày nhắc: “Tay nải của muội rơi khỏi mây rồi kìa”.

Ta biết rằng chưa đầy ba tháng Mặc Uyên sẽ có thể tỉnh lại, bấm ngón tay tính, hôm nay cách ngày Điệp Ung uống viên đan dược đó còn chưa đầy hai tháng, thời gian ngắn như vậy mà người đã có thể tỉnh lại. Người tỉnh lại thật rồi sao?

Bảy vạn năm, trong bốn bể, giữa gầm trời, ta trốn tránh ở Thanh Khâu, tuy rằng không phải trải qua cảnh sinh linh lầm than trời đất đảo điên, nhưng cũng tận mắt chứng kiến đầm Thanh Khâu hạn hán chín trăm chín mươi chín lần, chứng kiến phủ nhà Chúc Âm trên núi Gia Hầu cứ trăm năm lại nhích qua bên động Hồ Ly của cha mẹ ta một trượng. Bảy vạn năm, nửa cuộc đời của ta. Ta dùng nửa đời mình để làm một việc duy nhất đó là ngóng trông sư phụ tỉnh lại. Hôm nay, cuối cùng người đã tỉnh lại rồi.

Chiết Nhan đứng bên cạnh cúi đầu thở dài: “Cũng không uổng công tiểu tử Dạ Hoa trút toàn bộ tu vi”.

Khóe mắt ta cay xè, ta gật gật đầu.

Tứ ca cười nói: “Chuyện của Dạ Hoa huynh đã nghe Chiết Nhan nói, hắn cũng thực si tình. Nhưng số muội cũng không may, vừa mới trả hết nợ Mặc Uyên, thì lại nợ Dạ Hoa, Mặc Uyên muội còn có thể trả người máu tim mình suốt bảy vạn năm, vậy tu vi bốn vạn năm của Dạ Hoa, muội định thế nào?”.

Ta xòe quạt che đôi mắt đang đỏ hoe, cay xè của mình, đáp: “Muội và Dạ Hoa cuối cùng vẫn sẽ kết thành vợ chồng, muội nghĩ rằng vợ chồng yêu thương lẫn nhau, ai nợ ai, thì không cần tính toán”.

Chiết Nhan đứng trên mây cười, nói: “Lúc này ngươi đã ngộ thấu suốt rồi”.

Tất Phương khẽ nói lời chúc mừng, ta cũng cảm ơn hắn một tiếng.

Chiết Nhan và tứ ca đi trước, ta chuyển mây theo sau. Việc của Dạ Hoa tạm hoãn lại, khi ta mới đến núi Côn Luân bái sư học nghệ, cư xử chẳng ra gì, hiếm khi thể hiện đạo hiếu của đệ tử với Mặc Uyên. Sau này hiểu chuyện rồi, lúc biết tận hiếu thì sư phụ đã nằm trong động Viêm Hoa.

Bây giờ Mặc Uyên đã tỉnh, đã cố nén niềm vui trong lòng, muốn ngay lập tức để sư phụ trông thấy, đệ tử nhỏ nhất đã trưởng thành rồi, lớn khôn rồi, biết thương yêu người khác rồi.

Tiểu Thập Thất đã sống rất vui vẻ.

Vì khi làm đệ tử của Mặc Uyên ta là một đệ tử nam, đang định biến lại thành bộ dạng của Tư Âm năm xưa, thì bị Chiết Nhan giơ tay cản lại, nói: “Với tu vi của Mặc Uyên, đã sớm nhận ra ngươi là nữ nhi, chỉ có điều muốn giữ thể diện cho cha mẹ ngươi nên mới không vạch trần, ngươi còn tưởng mình che mắt hắn được suốt hai vạn năm sao?”.

Ta gấp lại chiếc quạt, giả bộ cười cười: “Nói rất phải, pháp thuật của mẹ ta chỉ che được mắt mười sáu sư huynh, còn ta luôn hoài nghi rằng có thể che mắt sư phụ thì cũng hơi hoang đường”.

Ba người chúng ta men theo lưng chừng núi Phong Di, ta xuống mây trước tiên, nguyệt quế giữa núi tỏa hương thơm thanh mát thoang thoảng.

Len giữa hơi thu trong mát của tháng tám, ta đi thẳng một mạch đến động Viêm Hoa.

Giữa mây mù sương khói chờn vờn, cuối động, chính là chiếc giường băng mà Mặc Uyên đã ngủ bao năm.

Trong thời khắc quan trọng này, mắt ta lại hơi hoa lên, ta lấy tay dụi mắt một cái, nước hoen đầy tay.

Trên giường băng thấp thoáng một bóng người đang ngồi.

Ta tiến lên mấy bước.

Người ngồi trên giường băng đó, chính là, chính là sư phụ Mặc Uyên ngủ say bao năm của ta.

Người nghiêng đầu nhìn mấy đóa hoa dại cắm trong chiếc bình bên cạnh. Tư thế, thần thái đó, không hề khác biệt so với bảy vạn năm trước, khiến ta chực rơi lệ.

Bảy vạn năm trước, sư huynh đệ chúng ta luân phiên quét dọn phòng của Mặc Uyên, ta có thói quen cắm ít hoa theo mùa trong bình đặt trong phòng. Ngày ngày Mặc Uyên đều ngắm nghía, rồi cười khen ta như vậy.

Khi ấy, mỗi ngày nhận được nụ cười khen ngợi của người đối với ta, ta đều cảm thấy tự hào.

Ta làm người kinh động, người quay đầu lại, giơ tay chống má, mỉm cười nói: “Tiểu Thập Thất? Quả nhiên là Tiểu Thập Thất. Lại đây sư phụ xem xem, dạo này ngươi tiến bộ ra sao?”.

Ta bấm móng tay vào cổ tay, vừa thở gấp, trống ngực vừa đập thình thình trong lồng ngực, hai mắt ướt nhòe, run run bước tới, hắng giọng gọi một tiếng sư phụ, biết bao cảm xúc đan xen dâng trào, vừa thương cảm vừa vui mừng.

Người giơ tay đỡ ta, nói: “Sao lại sắp khóc thế này, à, bộ váy này đẹp lắm”.

Chiết Nhan rẽ đám mây mù bước tới, theo sau là tứ ca, cười nói: “Ngươi ngủ suốt bảy vạn năm, giờ đã tỉnh rồi”.

Trong động Viêm Hoa rất lạnh, ta hắt hơi mấy cái liền bị tứ ca kéo ra khỏi động. Chiết Chan và Mặc Uyên người trước kẻ sau ra khỏi động.

Năm xưa khi trên Côn Luân, mười sáu sư huynh phía trên ta, ngoài cửu sư huynh Lệnh Vũ là do Mặc Uyên nhặt về, mười lăm sư huynh còn lại đều là con cháu Thiên tộc. Bảy vạn năm trước, sau khi Mặc Uyên mất tích, nghe nói các sư huynh đã tìm ta mấy ngàn năm mà không có kết quả. Sau này từng người từng người bị gia đình gọi về, mỗi người thực hiện một sứ mệnh riêng.

Tứ ca từng âm thầm đến Côn Luân thăm dò một chuyến, sau đó ngậm ngùi nói, Côn Luân đông đúc ngày nào, giờ đây chỉ còn lại một mình Lệnh Vũ và vài tiểu đồng trông giữ, đáng buồn lắm thay.

Ta không biết nếu như Mặc Uyên hỏi ta về Côn Luân, ta sẽ phải trả lời ra sao.

Dọc đường đi về động Hồ Ly ta cứ thắc thỏm bồn chồn không nguôi.

Không ngờ chuyến đầu tiên người đi lại không phải là Côn Luân.

Người ngồi trong động Hồ Ly, Mê Cốc pha một ấm trà bưng lên, ta rót cho mỗi người một tách, nhân lúc ta rót trà, người hỏi Chiết Nhan: “Những năm tay ngủ say, ngươi có gặp một đứa trẻ, có dáng vẻ giống ta không?”.

Bình trà trong tay ta chao đảo, sơ ý rót quá nửa bình lên đầu gối tứ ca.

Tứ ca cắn răng cười với ta một cái, rồi âm thầm gạt nước trên đầu gối đi.

Bao nhiêu năm trong bốn bể tám cõi, ta chỉ gặp một người duy nhất giống hệt Mặc Uyên, ngươi đó chính là phu quân tương lai của ta – Dạ Hoa.

Dạ Hoa có khuôn mặt giống hệt Mặc Uyên, lúc đầu tuy ta có hơi lạ lùng, nhưng cũng chưa bao giờ nghĩ rằng bọn họ có quan hệ gì.

Ta cảm thấy có lẽ đàn ông hoàn mỹ đều có dáng vẻ như vậy, Dạ Hoa rất hoàn mỹ, đương nhiên sẽ có dáng dấp như vậy.

Nhưng nghe Mặc Uyên nói, hai người bọn họ không chỉ có quan hệ, mà lại còn có quan hệ rất mật thiết.

Ta dỏng hai tai lên lắng nghe, Chiết Nhan cười ha ha, mắt liếc ta một cái, nói: “Đương nhiên có một người như thế, tiểu đồ đệ của ngươi còn rất thân với hắn là đằng khác”.

Mặc Uyên nhìn qua phía ta, mặt ta liền đỏ bừng lên. Tình huống này hơi giống với một thiếu nữ tự đính ước với tình lang, chẳng may bị một em gái “môi mỏng” tố giác chuyện trăng gió với cha mẹ, cho nên ta cũng cảm thấy hơi ngượng ngùng.

Chiết Nhan lại liếc mắt nhìn ta ba, bốn lượt đầy ẩn ý. Ta cũng lườm lại lão, đành cố ra vẻ thong thả, nói: “Người mà sư phụ nói tới, hì hì, chính là phu quân tương lai của đồ đệ, hì hì, chính là thái tử bây giờ của Thiên tộc, hì hì hì…”.

Bàn tay cầm tách trà của Mặc Uyên khẽ khựng lại, cúi đầu hắng giọng, lát sau, người mới bình thản nói: “Mắt chọn nương tử của người này, haizz”. Ngẩng đầu lên, người lại hỏi: “Phu quân chưa cưới của ngươi tên gì? Sinh năm nào?”.

Ta thành thực bẩm báo.

Người bấm ngón tay nhẩm tính, lại bình thản nhấp ngụm trà: “Tiểu Thập Thất, đệ đệ song sinh với ta, đã bị ngươi bắt rồi”.

Ta choáng váng: “A?”.

Không chỉ ta mà cả Chiết Nhan và tứ ca cũng đều trợn mắt há mồm, bộ dạng như bị sét đánh trúng vậy.

Mặc Uyên xoay xoay chén trà, nói: “Chẳng trách các ngươi kinh ngạc, đến ta cũng chỉ được biết khi phụ thân lâm chung, năm xưa mẫu thân tuy chỉ sinh ra mình ta, nhưng ta vẫn còn có một đệ đệ song sinh”.

Mặc Uyên nói, chuyện này phải kể từ khi Mẫu thần hoài thai hai huynh đệ.

Nghe nói năm đó, tứ cực đổ, cửu châu lở. Mẫu Thần vì vá bốn cột chống trời, nên đã bị động thai, khi sinh chỉ có thể giữ được đứa lớn, không thể giữ đứa nhỏ, Phụ Thần cảm thấy có lỗi với con trai nhỏ, đành cố lưu lại hồn phách đáng nhẽ đã tiêu tan vào vũ trụ của nó, nuôi trong nguyên thần mình của mình, muốn xem xem có thiên số và cơ duyên, để có thể tạo một tiên thai cho đứa con trai nhỏ, để nó có thể sống lại. Phụ Thần đã dành một nửa pháp lực để tạo ra một tiên thai, nhưng dù làm cách nào vẫn không thể gọi hồn phách của đứa con nhỏ tỉnh lại được. Phụ Thần bèn biến tiên thai đó thành một quả trứng chim vàng sáng lấp lánh, giấu trong núi sau núi Côn Luân, định đợi hồn phách đứa con trai nhỏ tỉnh lại sẽ dùng.

Nhưng thiên mệnh như thế, chẳng đợi được hồn phách đứa con trai nhỏ tỉnh lại, Mẫu Thần Phụ Thần đã cùng nhau về nơi hỗn độn.

Trước khi lâm chung, Phụ Thần có kể chuyện này cho Mặc Uyên nghe, rồi tách hồn phách của đứa con trai nhỏ trong nguyên thần ra, gửi gắm cho Mặc Uyên. Mặc Uyên nhận hồn phách của đệ đệ mình, cũng như Phụ Thần, đem nuôi dưỡng trong nguyên thần của mình. Bãi bể biến nương dâu bao bận, người em song sinh được nuôi trong nguyên thần của Mặc Uyên vẫn chưa hề tỉnh lại.

Mặc Uyên nói: “Có lẽ khi ta dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, nó đã tỉnh lại. Bây giờ ta mới có thể trở lại, hẳn lúc ta hồn tan phách tan, nó đã tốn công thu nhặt từng mảnh hồn phách tan tác của ta lại. Ta còn láng máng nhớ, có một đứa trẻ ngồi bên cạnh cơ thể ta vá từng mảnh hồn của ta, vá suốt bảy, tám nghìn năm, vá được một nửa thì bị một đạo kim quang chiếu rọi vào trong động phủ của ta cuốn mất đi. Sau khi nó đi, ta đã có thể tự mình vá hồn, nhưng rất khó khăn, tốc độ cũng hết sức chậm chạp. Giờ nghe các ngươi kể, nó đã là thái tử của Thiên tộc, có lẽ khi ấy vị phu nhân nào đó trên trời dạo chơi Côn Luân, nuốt phải quả trứng mà Phụ Thần chôn năm nào, tiên thai đã cắm rễ trong bụng vị phu nhân đó, mới cuốn nó đi”.

Chiết Nhan cười ha ha, nói: “Chẳng trách ta nghe nói, khi Dạ Hoa chào đời, có bảy mươi hai con chim ngũ sắc bắc cầu suốt tám mươi mốt ngày, ráng đỏ phương đông chiếu rạng suốt ba năm, hóa ra hắn là đệ đệ song sinh của ngươi”.

Khi nãy nghe được tin này ta đã choáng váng sững sờ, thật không ngờ có một ngày lại có thể với cao có quan hệ thân thiết như thế với Mặc Uyên. Bây giờ nghe người kể ngọn nguồn, sau khi bàng hoàng, ta lại cảm thấy cực kỳ trấn tĩnh, thậm chí cảm thấy dáng vẻ của Dạ Hoa như vậy, quả đúng là đệ đệ song sinh của Mặc Uyên.

Trong sử sách trên Cửu Trùng Thiên rõ ràng còn ghi chép, Phụ Thần chỉ có một con trai là Mặc Uyên. Có thể thấy các thần quan chép sử này đều là không đáng tin, tin vào sử sách đó, thì chẳng thà tin vào những câu chuyện mà Ti Mệnh nhàn rỗi thêu dệt nên còn hơn.

Mặc Uyên muốn đi thăm Dạ Hoa, nhưng người vừa mới tỉnh lại, muốn khôi phục như ngày xưa còn phải đóng cửa tu luyện mấy năm. Ta lo lắng cơ thể người chưa được linh hoạt, nếu cứ khăng khăng đi xuống trần gian thì e rằng sẽ bất lợi cho việc tu luyện, nên đành kiếm một cái cớ để lấp liếm, hẹn rằng khi nào người tu luyện xong, sẽ dẫn Dạ Hoa đến gặp người.

Động Viêm Hoa tuy rằng linh khí hội tụ, nhưng quá lạnh lẽo, không thích hợp để Mặc Uyên tu luyện. Người một lòng muốn về động phủ sau núi Côn Luân đóng cửa tu luyện như năm nào, tuy ta không muốn để người thấy cảnh tiêu điều của Côn Luân ngày nay mà đau lòng, nhưng giấy sao gói được lửa, cuối cùng thì người vẫn phải đau lòng mà thôi. Nghĩ rằng đau muộn chẳng bằng đau sớm, sau hai tuần trà, ta cùng Mặc Uyên trở về Côn Luân. Chiết Nhan và tứ ca nhàn tản rỗi rãi, cũng đi theo, còn Tất Phương cũng đi theo nốt.

Năm người chúng ta cưỡi ba đám mây bay về Côn Luân, tứ ca từng nói Côn Luân giờ đây tiêu điều hiu quạnh vô cùng.

Ta cũng thở dài một tiếng.

Từ cửa núi đi xuống có rất nhiều tiển thần tiên, hoặc đứng hoặc quỳ hoặc ngồi, khí xanh khí tím trộn lại, mây mù bốc lên lưng chừng núi, tiên khí cuồn cuộn dâng cao, ai cũng có thể nhận ra đây là một ngọn núi tiên.

Trong hai vạn năm ta học nghệ ở đây, Côn Luân luôn vắng vẻ, chỉ không quá bảy vạn năm, sao lại nhộn nhịp thế này?

Tất Phương chở tứ ca, co móng vuốt đậu xuống, rồi lại khều một tiểu thần tiên trông có vẻ thực thà hỏi thăm.

Tiểu thần tiên chớp chớp mắt, trả lời: “Ta cũng không biết, ta đi công chuyện ngang đây, nghe nói có một đạo long khí quấn quanh vách núi đã ba bốn ngày, rất nhiều tiên hữu đều đến đây xem, ta cũng tiện đường đến xem. Chuyến này quả không uổng công, long khí này, chậc chậc chậc, không phải long khí bình thường, tuyệt đẹp, ta ngồi đây ngắm đã hai ngày rồi. Ngươi thả con chim này đi bắt sâu, lát nữa chúng ta cùng xem, đảm bảo khiến ngươi đã mắt, bên ta còn một chỗ, đây, chúng ta ngồi đây xem…”.

Tứ ca cảm ơn rồi từ chối ý tốt của tiểu thần tiên đó, im lặng quay về, hắng giọng nói: “Không có gì, bọn họ ngưỡng mộ phong thái của Côn Luân, nên đến chiêm bái”.

Chiết Nhan rũ rũ tay áo, ho một tiếng, nụ cười phảng phất, nói với Mặc Uyên: “Côn Luân vốn là một tòa núi tiên mọc ra từ long cốt(42). Có lẽ nó cảm nhận được ngươi sắp quay về, nên phấn chấn tới mức xuất ra long khí để đón tiếp, thế nên đã thu hút được một số tiểu tiên thiếu hiểu biết xung quanh”.

Mặc Uyên nhếch môi cười.

Để tránh quấy rầy đám tiểu thần tiên ở lưng chừng núi, năm người chúng ta đều ẩn thân đi vào trong. Nhờ cửu sư huynh giữ nguyên nếp cũ, phép khóa ở cửa núi vẫn như xưa, không hề sửa đổi.

Ta ngỡ rằng hôm nay sẽ chỉ có thể gặp mỗi Lệnh Vũ, nào ngờ vừa bước vào, cảnh tượng trước mặt làm ta giật nảy cả mình. Mười sáu sư huynh của ta, đều mặc đạo bào như khi còn làm đệ tử của Côn Luân, tóc búi kiểu đạo sĩ, đứng thành hai hàng bên cạnh con đường đá.

Cây trong viện vẫn là cây Bà La Song mà mấy vị Phật Đà từ Tây Thiên đến uống trà mang tới. Mười sáu sư huynh của ta đứng trang nghiêm dưới bóng Bà La Song, dường như đã đứng đó suốt bảy vạn năm.

Đại sư huynh mắt đỏ hoe trước tiên, quỳ “phịch” một tiếng xuống đất, giọng run run: “Mấy hôm trước Cửu sư đệ đưa tin tới, nói long khí ở Côn Luân bốc lên, có lúc còn có tiếng rồng gầm, không biết là điềm gì, sư huynh đệ chúng con về ngay trong đêm, tuy từng nghĩ là điềm lành sư phụ sẽ quay về nhưng cũng không dám tin. Hôm nay ở trong điện cảm thấy khí trạch của người quẩn quanh bên ngoài, chúng con vội vã chạy ra nhưng vẫn không kịp ra ngoài cửa núi đích thân đón người, sư phụ, người đi đã bảy vạn năm, giờ mới quay về”. Dứt lời, đã khóc không thành tiếng. Khuôn mặt huynh ấy đã không còn là gương mặt thuở niên thiếu, tuổi tác đã cao hơn nhiều, khóc như thế này, thực khiến người ta nghẹn lòng. Mười lăm sư huynh còn lại đều nhất loạt quỳ xuống nức nở. Mười sáu sư huynh đều khóc không thành tiếng.

Mặc Uyên cúi nhìn, nói: “Đã để các con phải chờ lâu rồi, đứng dậy cả đi, vào trong nhà rồi nói”.

Câu chuyện bắt đầu là các sư huynh khóc lóc một trận, khóc xong bèn kể năm đó không cẩn thận đã để lạc mất Tư Âm Thần Quân, tức thượng thần bất tài là ta.

Nhắc đến ta, đại sư huynh bi phẫn khôn cùng. Năm đó vốn là ta bỏ thuốc bọn họ, rồi trộm tiên thể của Mặc Uyên rời khỏi Côn Luân ngay trong đêm. Sai lầm này của ta huynh ấy quyết không nhắc tới, chỉ luôn miệng nói đã không chăm sóc ta, để lạc ta, là lỗi của huynh ấy. Mấy năm nay huynh ấy không ngừng tìm kiếm ta, nhưng bặt vô âm tín, có lẽ ta đã lành ít dữ nhiều. Huynh ấy thân là đại sư huynh mà không làm tròn bổn phận, đến tiểu sư đệ cũng không bảo vệ nổi, xin sư phụ xử phạt thật nặng.

Ta đứng bên cạnh tứ ca, nghe huynh ấy nói như vậy, viền mắt đỏ hoe, vội vàng trình bày: “Ta không phải lành ít dữ nhiều, ta đang đứng sờ sờ trước mặt huynh, chẳng qua ta chỉ thay đổi xiêm y, ta là Tư Âm đây”.

Các sư huynh ngẩn người, đại sư huynh loạng choạng ngã xuống đất, một lúc sau, mới lồm cồm bò dậy ôm lấy ta, lau nước mắt, chua chát nói: “Cửu sư đệ nói trong lòng ai cũng có một giấc mộng đoạn tụ, năm đó nhị hoàng tử Quỷ tộc đến cướp đệ, ta đã đánh cho hắn đứt giấc mộng này, nhưng lại không kịp thời cắt đứt giấc mộng của đệ, Thập Thất đáng thương biết bao, bây giờ đệ đã thành đoạn tụ, còn lại là đoạn tụ thích mặc quần áo con gái…”.

Tứ ca không nhịn được cười sằng sặc.

Ta cố gắng ngăn dòng lệ, đau buồn nói: “Đại sư huynh, khuôn mặt này của ta, huynh xem lại có phải là nam giả nữ không?”.

Thập sư huynh kéo đại sư huynh ra, ngượng ngùng nói: “Trước đây đệ không chịu tắm chung với bọn ta, hóa ra là vì thế, hóa ra Thập Thất đệ lại là con gái”.

Tứ ca ta kéo dài giọng: “Nàng là một nữ nhi xinh đẹp…”.

Ta đá cho huynh ấy một cái.

Đại sư huynh trước đây không như vậy, quả nhiên tuổi cao sẽ dễ dàng trở nên đa sầu đa cảm.

Sau chuyện của ta, là kể đến chuyện các sư huynh trong bảy vạn năm nay đã tự mình gây dựng sự nghiệp hiển hách.

Mười sáu sư huynh này của ta, thuở thiếu thời cũng chẳng ra sao, ta theo bọn họ, tuy không trèo cây hái táo, xuống sông bắt cá nữa, nhưng lại học được thói đá gà, đuổi chó, chọi dế, học được thói cưỡi ngựa xem hoa, uống rượu xem cung xuân đồ, chuyện nào cũng thành thạo, giấu sư phụ xuống trần gian làm bậy, còn tự cho mình là phong lưu ngàn năm khó gặp.

Ngày nay ta ra nông nỗi này, không thể không kể đến công lao của mười sáu sư huynh. Nhưng mười sáu sư huynh khiến ta ra nông nỗi này, ai cũng thành tài. Khi ông trời an bài số phận cho chúng ta, hẳn ông ấy đang ngủ gật.

Nhưng cơn ngủ gật của ông trời lại khiến ta rất hởi lòng hởi dạ, hẳn sư phụ người cũng rất hởi lòng hởi dạ.

Sau khi hởi lòng hởi dạ, tai lắng nghe những chiến công hiển hách của các sư huynh, lại nghĩ đến lúc các huynh ấy lập công lao ta đang làm những gì, so sánh với nhau, một cảm giác buồn bã cứ thế dâng trào.

Tứ ca ngồi bên cạnh tay cầm bút ngồi chép lia lịa, thỉnh thoảng còn vỗ tay hô to: “Ly kỳ, thật ly kỳ”. Ngoài cảm xúc buồn bã ra là cảm giác mất mặt, xấu hổ.

Thập sư huynh an ủi ta: “Muội là con gái, con gái thì chẳng cần lập công lao làm gì, đám muội muội của ta cả ngày chỉ nghĩ đến chuyện gả cho một nhà chồng tốt, Thập Thất, muội chỉ cần gả cho một nhà chồng tốt là hạnh phúc rồi”.

Thập lục sư huynh cười hì hì nói: “Thập Thất đã ngần này tuổi, không cần nói đến nhà chồng nữa, e rằng con cũng có mấy đứa rồi. À, đúng rồi, hôm nào cho các sư huynh gặp phu quân của muội đi. Dung mạo, tính cách muội như vậy, không biết được gả cho vị phu quân như thế nào”.

Những lời của huynh ấy từng câu từng chữ giẫm vào vết đau của ta, ta lau mồ hồi trán, ngượng ngập cười khan nói: “Nói hay lắm, nói hay lắm, tháng sau nữa là lễ thành hôn của muội, lúc đó mời các huynh đến uống rượu”.

Mặc Uyên từ nãy tới giờ ngồi bên lắng nghe, khi ta thốt ra hai tiếng “uống rượu”, chén trà trong tay người nghiêng một cái, rớt một nửa ra ngoài, ta vội chạy đến thu dọn. Chiết Nhan ho hai cái.

Cửu sư huynh Lệnh Vũ quản lý Côn Luân đâu ra đó, tứ ca tròn một tháng không về động Hồ Ly, bụi trong phòng huynh ấy cũng tích dày nửa thước. Đã bảy vạn năm ta chưa lên Côn Luân, căn phòng ta ở khi còn làm đệ tử vẫn sạch sẽ tinh tươm. Ta hôi rình mồ hôi, nằm trên giường, rồi lại trở mình một cái.

Người ở phòng bên cạnh là Thập lục sư huynh Tử Lan. Ta nghe thấy huynh ấy gõ gõ lên tường, hỏi: “Thập Thất, muội ngủ chưa?”.

Ta hừ mũi, để tỏ ý chưa ngủ. Nhưng âm thanh này cũng chỉ như muỗi kêu vo ve, có lẽ huynh ấy không nghe thấy, nên lại thưa: “Chưa ngủ”.

Huynh ấy ngưng bặt một lát, rồi âm thanh lại vẳng qua tường: “Bảy vạn năm nay, vì sư phụ, muội đã khổ nhiều rồi”.

Trong ấn tượng của ta, Thập lục sư huynh này rất thích chọc ghẹo ta, làm những việc ngược với ta, ta nói đông, huynh ấy sẽ chỉ tây, ta nói thứ này tốt, huynh ấy sẽ chê thứ đó không đáng một đồng. Bây giờ huynh ấy nói câu này, không khỏi nghi ngờ, rốt cuộc huynh ấy có phải là Thập lục sư huynh không, bèn cao giọng hỏi: “Huynh là Tử Lan à?”. Huynh ấy im lặng một lát, hừ một tiếng: “Bảo sao ngần này tuổi muội vẫn không lấy được chồng”.

Huynh ấy đúng là Tử Lan.

Ta cười ha ha, không thèm so đo với huynh ấy, nằm trên giường trở mình.

Ta sống đến ngần này tuổi, tuy đã trải qua biết bao chuyện phải nuối tiếc, nhưng giờ đây, trên chiếc giường mỏng manh ở núi Côn Luân này, ta lại cảm thấy những chuyện phải nuối tiếc trong quá khứ thực ra không đáng để nuối tiếc. Ánh trăng dìu dịu lọt vào trong phòng, phong cảnh bên ngoài ô cửa sổ kia không có gì đặc biệt cả.

Nhị ca thường dùng lý luận “tri túc thường lạc”(43) để tôi luyện tính cách của ta. Nhưng ta chưa bao giờ biết thế nào là “biết đủ”, cảm thấy “biết đủ” không giống như hay quên có thể vui, ngày tháng trôi qua hồ đồ, điên đảo. Giờ đây ta đã hiểu ra, hay quên chẳng qua chỉ là tự lừa dối bản thân để mong sống yên vui, “biết đủ” lại có thể khiến người ta thực sự thoải mái. Thực sự thoải mái rồi, sự yên vui này mới là sự yên vui vĩnh hằng. Hiểu thấu điều này, trong phút chốc, ta cảm thấy mình quá hạnh phúc, chỉ mong mau mau được nói cho Dạ Hoa nghe. Nhưng có lẽ lúc này Dạ Hoa có nghe cũng không hiểu những gì ta nói. Giây phút này, có lẽ chàng đã tròn một tuổi. Haizz, không biết khi tròn một tuổi chàng trông như thế nào, đôi mắt ấy có lạnh lẽo như hồ nước giống chàng bây giờ hay không? Chiếc mũi ấy có cao giống chàng bây giờ hay không? Haizz, không biết chàng có giống cục bột nhỏ hay không.

Ta đã nghĩ rất nhiều, rồi dần dần chìm vào giấc ngủ.

Không hiểu sao việc Mặc Uyên quay trở lại bị đồn ra ngoài, sáng sớm hôm sau, những loài bay trên trời, bò dưới đất, phàm là có chút linh căn, đều có thể biết được thượng thần cai quản âm nhạc và chiến tranh đã quay về.

Theo như tin đồn thì, Mặc Uyên đầu đội mũ vàng tía, thân mặc áo giáp Huyền Tinh, chân đi giày Tạo Giác, tay cầm kiếm Hiên Viên, trong lòng còn ôm một tiểu nương tử yểu điệu thướt tha, vào giờ Mùi ba khắc ngày mười sáu tháng tám, người uy phong lẫm liệt đậu xuống núi Côn Luân. Lúc Mặc Uyên đậu xuống núi Côn Luân, dãy núi dài men theo Côn Luân đều rúng động ba lần, chim muông muôn thú đều ngửa cổ lên trời kêu dài, cá, rồng dưới nước đều nổi lên vui mừng kinh ngạc rơi lệ.

Tin đồn này quá phi lý, mười bảy sư huynh đệ chúng ta nghe thấy mà chực khóc ròng.

Mũ vàng tía, giáp Huyền Tinh, hài Tạo Giác, kiếm Hiên Viên thì đúng là trang phục xưa nay khi Mặc Uyên xuất chinh, bảy vạn năm nay vẫn luôn đặt ở chính điện ở Côn Luân, để cho các đệ tử chúng ta chiêm ngưỡng. Còn tiểu nương tử yểu điệu thướt tha, ta và tứ ca suy nghĩ rất lâu, mới hiểu ra có lẽ là chỉ thượng thần bất tài là ta.

Những tin đồn quái ác này ai ai cũng biết, cho nên họ đều lũ lượt hết tốp này đến tốp khác đến bái kiến.

Mặc Uyên định ngày thứ hai sau khi về Côn Luân sẽ đóng cửa tu luyện, nhưng vì vậy nên phải dời lại mấy ngày.

Đám tiểu thần tiên đến bái kiến không có gì đặc biệt, có người được đại sư huynh, nhị sư huynh dẫn đến trước mặt Mặc Uyên nói một, đôi câu; có người chỉ ngồi ở tiền sảnh uống trà, nghỉ ngơi rồi ra về. Chỉ có người thanh niên đến vào trưa ngày thứ ba mới có chút bất thường.

Người thanh niên này toàn thân vận áo bào trắng, thanh tú tao nhã, nét mặt cũng hết sức hiền hậu. Lúc Mặc Uyên gặp y, nét mặt lạnh lùng cũng hơi sững lại. Người thanh niên vận bào trắng cẩn thận quan sát Mặc Uyên, nhưng không hành lễ, chỉ nhíu mày, nói: “Đã lâu không gặp thượng thần, tinh thần thượng thần vẫn như xưa. Trọng Doãn lần này đến Côn Luân, chỉ vì đêm qua tỷ tỷ báo mộng cho ta, nhờ ta gửi một câu đến thượng thần, tỷ tỷ ta”, y cười cười, nói, “tỷ ấy nói tỷ ấy chỉ có một mình, cô đơn biết bao”.

Ta vẫy một tiểu đồng hầu hạ bên Thập sư huynh lại, sai nó đi rót thêm trà cho Trọng Doãn áo trắng kia.

Mặc Uyên không nói gì, chỉ chống má lạnh nhạt dựa vào tay vịn của ghế ngồi.

Chiết Nhan liếc Mặc Uyên một cái, rồi lại cười hòa nhã với Trọng Doãn: “Tiểu đệ Trọng Doãn, phải chăng ngươi đang nói đùa, tỷ tỷ ngươi đã tan thành tro bụi mười mấy vạn năm rồi, sao có thể báo mộng cho ngươi được?”.

Trọng Doãn cũng nhã nhặn nheo mắt đáp lời: “Thượng thần Chiết Nhan quả thực đã trách nhầm Trọng Doãn rồi, Trọng Doãn đúng là tới để chuyển lời của tỷ tỷ, không hề có ý gì khác. Ta cũng chẳng muốn nhọc sức, chỉ là trong giấc mộng tỷ tỷ quá đáng thương, không đành lòng nên hôm nay mới phải lên Côn Luân. Thượng thần Chiết Nhan nói tỷ tỷ của Trọng Doãn đã tan thành tro bụi, nên không thể báo mộng cho Trọng Doãn. Nhưng thượng thần Mặc Uyên chẳng phải khi xưa cũng nói là tan thành tro bụi, đến giờ lại có thể quay về, tỷ tỷ ta tuy tan thành tro bụi, nhưng hồn chẳng biết ở tận nơi đâu, báo mộng cho ta, thì có gì là không thể chứ?”.

Dứt lời y cúi người hành lễ, rồi đi ra khỏi chính điện.

Đến khi Trọng Doãn ra khỏi chính điện, Chiết Nhan mới đọc một câu kinh Phật.

Mặc Uyên không nói câu gì từ khi ngồi xuống, giờ đi về phía hậu viện. Ta nhấc chân lên định chạy theo xem xem, liền bị Chiết Nhan chặn lại.

Nhị sư huynh trưng bộ mặt khổ sở sán lại: “Sư phụ đi như thế, nếu có tiên hữu tới thăm hỏi, thì phải làm thế nào?”.

Chiết Nhan buồn rầu ngẩng lên nhìn trời cao, nói: “Dẫn họ đến tiền sảnh uống trà đi, uống đủ rồi thì tiễn về. À, mà trà còn đủ dùng không?”.

Ta nhẩm tính, gật đầu, nói: “Còn đủ, còn đủ”.

Ta luôn cảm thấy sư phụ ta Mặc Uyên, là một người rất có lai lịch. Tất cả đều có trước có sau, sư phụ quả nhiên là người có lai lịch. Nhưng nghe lời lẽ của Trọng Doãn áo trắng kia, thì dường như là một lai lịch đầy mưa máu gió tanh. Ta hơi lo lắng. Thân làm đệ tử nên tận hiếu, ta định bụng khi chiêu đãi xong đám tiểu thần tiên ở tiền sảnh sẽ đến phòng của Mặc Uyên để an ủi người.

Đêm đến, khi ta đẩy cửa phòng của Mặc Uyên, người đang ngồi trầm tư trước cây cổ cầm, ánh đèn vàng vọt hắt lên khuôn mặt, lộ rõ thần sắc đau thương của người. Ta đứng trước cửa sững sờ, ánh mắt người đang nhìn cây cổ cầm dần dần ngước lên, cười nhạt nói: “Đứng ở cửa làm gì, vào đi”.

Ta lặng lẽ bước vào, định bụng đến an ủi người, nhưng câm nín hồi lâu, mà chẳng thốt lên được câu nào. Chuyện của người thực ra ta cũng không rõ, nhưng nghe người thanh niên áo trắng đó nói, thì chắc chắn là một mối bi tình trăng gió. Nếu như là một mối bi tình trăng gió, thông thường nên lấy câu gì mào đầu đây?

Ta suy nghĩ rất lung, bên tai bỗng vang lên tiếng đàn rời rạc. Tay phải Mặc Uyên lướt trên phím đàn, tùy ý gảy mấy nốt, nói: “Cái tật lúc nào cũng lơ đễnh của ngươi vẫn giống như mấy vạn năm trước”.

Ta chun mũi cười cười, rồi đến cạnh người, ra vẻ thân thiết khuyên nhủ: “Sư phụ, người chết không thể hồi sinh, có lẽ Trọng Doãn quá nhớ tỷ tỷ mình, người chớ nên canh cánh trong lòng”.

Người sững lại, cúi đầu lại tùy ý gảy hai nốt đàn, rồi lạnh lùng nói: “Đêm nay ngươi qua đây là vì chuyện này ư?”.

Ta gật đầu.

Tiếng đàn hỗn loạn bỗng ngưng bặt.

Người ngẩng đầu nhìn, nhìn ta rất lâu, lại hỏi một câu chẳng liên quan: “Ngươi đối với hắn, là thật lòng ư?”.

Mất một lúc lâu ta mới hiểu “hắn” ở đây là Dạ Hoa, trong lòng tuy cảm thấy hơi ngượng khi nói chuyện này trước mặt bề trên, nhưng xấu hổ không phải là phong cách của ta, bèn sờ mũi thành thật nói: “Thật lòng. Vô cùng thật lòng”.

Người ngoảnh mặt đi, nhìn ra ngoài khung cửa rất lâu, nói: “Vậy thì tốt, ta cũng an tâm”. Đêm nay thần sắc của người hơi cổ quái, lẽ nào, lẽ nào lo lắng ta làm con gái thì không ra gì, cho nên không gả được chồng sao? Ta hiểu ra điều này, cười hì hì an ủi người: “Sư phụ không cần lo lắng, Dạ Hoa chàng rất tốt, chúng con tâm đầu ý hợp, con đối với chàng thật lòng, chàng đối với con cũng vậy”.

Người không quay đầu lại, chỉ lạnh lùng nói: “Đêm khuya rồi, ngươi về phòng nghỉ đi”. Từ đó về sau, Mặc Uyên hiếm hoi mới đến chính điện. Đêm đó ta đến để an ủi người, nhưng sau khi ra khỏi phòng của người mới phát hiện là chưa hề an ủi gì, ta thấy hơi xấu hổ. Có lẽ chuyện này vẫn nên tự mình bỏ đi mới được, người ngoài rốt cuộc vẫn không thể giúp được.

Cứ tưởng không gặp được Mặc Uyên đã làm nhiệt tình muốn thăm hỏi của đám tiểu thần tiên mấy hôm trước nhạt bớt, chẳng ngờ tinh thần của họ vẫn hừng hực như cũ. Đến ngày cuối cùng, thời gian họ ngồi uống trà ngày càng lâu, lượng trà uống cũng ngày càng nhiều. Tứ ca đoán rằng đây chính là một cơn gió độc mang tên ganh đua. Ví dụ như lúc ta còn nhỏ thường so bì xem ai có thể hái được nhiều đào hơn, uống được nhiều rượu hơn ở chỗ Chiết Nhan. Cho nên đã vội vã dán một trang cáo thị, thông báo cho các thần tiên đến Côn Luân thăm hỏi, mỗi người chỉ có thể nhận một chén trà để uống, lại không được thêm nước. Nhưng cho dù như vậy, người đến vẫn nườm nượp.

Ta ngồi ở tiền sảnh đóng giả người pha trà mười hai ngày, đêm ngày thứ mười hai cuối cùng đã không chịu nổi, lôi tứ ca đến dưới gốc táo trong trung đình, cầu xin huynh ấy giúp ta trông chừng thời gian khoảng bảy, tám nén nhang, để ta xuống trần gian một chuyến xem xem Dạ Hoa ra sao.

Táo ngọt ở cây táo đã kết quả to bằng ngón tay, vỏ quả màu xanh, vẫn chưa ăn được. Tứ ca hái hai quả, cầm trong tay, nói: “Muội lén lút như vậy không phải sợ bị các sư huynh biết được, cười muội là nữ nhi tình trường chứ?”.

Huynh ấy cũng có lúc nhìn nhầm.

Ta thế này chẳng có liên quan gì tới các sư huynh, có điều lo lắng Mặc Uyên biết được đệ đệ song sinh của người bị xuống trần gian lịch kiếp, buộc phải đi xem sao, trần thế ô trọc, không tốt cho việc hồi phục tiên thể của người. Tứ ca nghĩ như vậy, có lẽ huynh ấy cảm thấy nữ nhi đều mặt mỏng cả, cho dù ta đã cao tuổi, nhưng cũng không phải là ngoại lệ. Nào hay da mặt ta còn dày hơn huynh ấy tưởng rất nhiều, đã phụ sự tin tưởng của huynh ấy, ta cũng cảm thấy hơi xấu hổ.

Tứ ca xòe ra ba ngón tay, nói: “Nếu như đồng ý trông khoảng bảy, tám nén nhang, đêm nay huynh khỏi phải ngủ nữa, nên nhiều nhất cũng chỉ trông giúp muội khoảng một nén nhang. Dạ Hoa chẳng qua xuống trần gian lịch kiếp, chứ có gì to tát đâu, mà muội cũng phải đi theo để xem, muội bám hắn cũng chặt thật đấy”.

Ta im thin thít, tai đỏ bừng bừng. Hôm nay nhờ vả không chọn đúng lúc, ta quên béng rằng buổi chiều huynh ấy vừa cãi cọ với Chiết Nhan ở hành lang. Nhưng thời gian một nén nhang cũng khiến ta thỏa nguyện rồi, thế nên sấn bước ra ngoài núi.

Huynh ấy vứt hai quả táo trong tay xuống hồ sen, khẽ buông một câu: “Nếu quá một nén nhang mà không quay về, đừng trách huynh đích thân xuống nhắc muội đấy”. Có thể thấy hôm nay tứ ca giận Chiết Nhan ghê gớm.

Trên núi Côn Luân dải ngân hà lấp lánh ánh sao, đêm sâu thăm thẳm, còn ở phàm trần lại là ban ngày, trời xanh ngăn ngắt. Ta đậu xuống bên ngoài một phòng học, rồi ẩn thân, nghe thấy tiếng đọc sách vẳng lại: “Thúc Hướng gặp Hàn Tuyên Tử, Huyên Tử lo nghèo, Thúc Hướng chúc mừng”(44).

Ta nhìn về phía nơi phát ra tiếng đọc, ánh mắt chạm phải một đứa bé mặt mũi khôi ngô ngồi cuối lớp. Gương mặt đứa trẻ này tuy có thể coi là xuất chúng ở phàm trần, nhưng vẫn hơi non nớt, có lẽ khi lớn lên chưa chắc đã bằng gương mặt của Dạ Hoa, nhưng thần sắc lạnh lùng thì giống hệt Dạ Hoa.

Tiếng đọc dứt, thầy giáo liếc cuốn sách giáo khoa trong tay, nói: “Liễu Ánh, con hãy đứng dậy giải thích cho các bạn nghe đi”. Đứa trẻ lạnh lùng thưa vâng đứng dậy. Lòng ta run run, ánh mắt của bản thượng thần thật tinh tường, đứa trẻ này quả nhiên là Dạ Hoa đầu thai. Ta liền hiểu ra, cho dù chàng chuyển thành dáng vẻ gì ta vẫn nhận ra chàng.

Chàng giải thích rành rọt, cặn kẽ từng điều, thầy giáo vuốt chòm râu dê nghe rất chăm chú, nét mặt khoan khoái, khiến ta nhớ đến sự hãnh diện của Thập lục sư huynh Tử Lan ở lớp học năm nào.

Đây thực sự là một chuyện đau lòng, mất mặt. Năm đó, bản thượng thần còn ngây ngô, bị các sư huynh dẫn dắt thành ra không tiến bộ đã quen, khi lên lớp Mặc Uyên giảng bài, ta cảm thấy thật tẻ nhạt, thường cùng Thập ngũ sư huynh chuyền giấy nói chuyện riêng, coi đó là thú vui. Nhưng chúng ta đạo hạnh nông, học nghệ không tinh, mười lần thì chín lần bị Mặc Uyên bắt. Phương pháp trách tội của Mặc Uyên mãi mãi không thay đổi, hễ bị bắt được là phải đọc thuộc một đoạn Phật lý dài lê thê, hết sức khô khan trước mặt các sư huynh. Đáng thương thay râu ria của những đoạn Phật lý mà sư phụ chỉ định ta đều không biết gì hết, càng chớ nói đến chuyện đọc thuộc nó. Ta dùng dằng, dùng dằng mãi, ngắc nga ngắc ngứ, Thập lục sư huynh mãi đến lúc này được gọi dậy, đọc trôi chảy đoạn Phật lý đó trước mặt ta, rảnh rỗi còn có thể giải thích qua loa một lượt ý nghĩa của đoạn vừa đọc. Thế nên, phàm là những người có tri thức, đều có thể lập tức vừa nhìn đã nhận ra ta là đệ tử không tiến bộ.

Thập ngũ sư huynh và ta “đồng bệnh tương lân”, chúng ta cảm thấy Tử Lan kia quá thông minh, thực đáng ghét, bèn chỉ trời chỉ đất mà thề, đời này sẽ không chơi bời với loại người thông minh, còn viết một lá thư, điểm chỉ lên đó, chôn dưới gốc cây táo trong trung đình ở Côn Luân, để làm chứng.

Nhưng bây giờ, dáng vẻ thông minh đĩnh đạc của Dạ Hoa trong lớp học, ta lại thấy sao mà đáng yêu.

Ta ẩn mình bên ngoài cửa sổ lớp học, đợi đến khi họ tan trường.

Hai tiểu thư đồng giúp Dạ Hoa thu dọn bàn học, rồi cõng chàng ra khỏi cửa. Ta cũng bám gót theo sau, không biết làm thế nào mới có thể hiện hình một cách tự nhiên rồi đến trước mặt chàng chào hỏi. Ta suy nghĩ, đắn đo, chần chừ. Sau lưng vang lên tiếng “vèo vèo”, ta vừa phất tay áo theo phản xạ, hai viên đá nhỏ bay vút tới lập tức bị đổi hướng, đập “bộp” lên thân cây liễu già ven đường.

Tiếng động khiến Dạ Hoa quay đầu, ba, bốn đứa trẻ kêu ầm lên rồi bỏ chạy, vừa chạy vừa hát bài đồng dao. Bài đồng dao này tổng cộng có bảy câu, rằng: “Gạo cũng quý, dầu cũng quý, nhà họ Liễu sinh ra đứa tàn phế. Kiếp trước tạo nghiệt, kiếp này đền, đạo trời luân hồi chẳng thương lượng. Cho dù thần đồng biết nhiều chữ, một kẻ tàn phế biết làm chi?”. Đầu ta “ầm” một tiếng, ngẩng đầu nhìn cánh tay phải của Dạ Hoa.

Thiên Quân, con bà ông chứ. Dạ Hoa là cháu ruột ông, sao ông lại độc ác thế, đầu thai rồi cũng không chịu cho chàng một cơ thể bình thường, ống tay áo bên phải của Dạ Hoa rõ ràng, rõ ràng là trống không mà!

Hai đứa thư đồng cõng Dạ Hoa một lòng bảo vệ chủ, định đuổi theo mấy con thỏ đế thì bị ngăn lại. Mấy con thỏ đế đó ta nhìn rất quen, chợt nhớ ra là bạn học của Dạ Hoa. Là người từng trải, ta thừa hiểu suy nghĩ của chúng, chắc chắn là học hành chẳng ra sao, thấy Dạ Hoa tài hoa hơn người, nên sinh lòng ghen ghét. Nhưng ghen ghét thì cứ ghen ghét, im lặng ở bên cạnh không thèm đếm xỉa là được rồi, còn bịa ra bài đồng dao độc ác kia thực quá đáng. Hừ, lũ thỏ đế chậm tiến bộ như thế, sau này nếm khổ, mới biết rằng những việc làm năm xưa mới hồ đồ làm sao.

Cánh tay trái Dạ Hoa phẩy phẩy ống tay phải trống phơ phất, hơi cau mày, không nói gì mà quay người tiếp tục đi về phía trước. Ta rất đau lòng nhưng không thể lập tức hiện hình, để tránh dọa mấy người bọn họ, đành nuốt nỗi chua xót vào trong lòng.

Từ lúc hoàng hôn đến khi đêm xuống, ta không tìm được thời cơ thích hợp để hiện thân trước mặt Dạ Hoa. Hai đứa thư đồng lúc nào cũng bám sát lấy chàng, khiến ta phát bực. Cuối giờ Tuất, Dạ Hoa mới leo lên giường, hai đứa thư đồng cởi áo hầu chàng đi ngủ, sau khi tắt đèn khoảng nửa tuần trà, cuối cùng đã ngáy khò khò.

Ta thở phào một hơi, giải chú ẩn thân, ngồi bên giường Dạ Hoa, mượn ánh trăng sáng bên ngoài khung cửa, đến gần ngắm chàng thật kỹ, lại đưa tay lay lay chàng tỉnh qua lần chăn. Dạ Hoa “ừm” một tiếng, nửa ngồi nửa mơ màng nói: “Chuyện gì thế?”, đến khi nhìn rõ người ngồi trước mặt chàng không phải là thư đồng mà là ta thì sững sờ. Chàng cứ đờ đẫn nhìn ta, mãi sau, nhắm mắt rồi lại nằm xuống giường, miệng còn lầm rầm: “Hóa ra là nằm mơ”.

Ta run rẩy trong lòng, cuống quýt lay chàng dậy, trước khi chàng cất tiếng đã hỏi trước: “Chàng nhận ra ta không?”. Ta biết chắc chàng không nhận ra, ban nãy chỉ là câu nói thốt ra khi bị đánh thức thôi, nhưng lòng vẫn ôm một tia hy vọng, vẫn bướng bỉnh mở miệng hỏi.

Quả nhiên chàng trả lời: “Không nhớ”. Mày hơi nhíu lại, có lẽ đã tỉnh ngủ, ngập ngừng hồi lâu, nói: “Không phải ta nằm mơ sao?”.

Ta móc một viên dạ minh châu to bằng trứng bồ câu từ trong tay áo ra, tốt xấu gì cũng tỏa chút ánh sáng, kéo tay chàng chạm lên mặt ta, cười nói: “Chàng cảm thấy đang trong mộng sao?”.

Khuôn mặt chàng liền từ từ ửng đỏ.

Ta nhích lại ngồi gần chàng hơn một chút, chàng lùi lại phía sau, mặt lại đỏ lựng lên. Ta chưa từng gặp một Dạ Hoa như thế này, cảm thấy thật mới mẻ, lại ngồi xuống trước mặt chàng, chàng dứt khoát lùi vào góc tường, rõ ràng gương mặt trắng trẻo đã đỏ bừng bừng, vậy mà còn ra vẻ lạnh lùng, điềm tĩnh, nói: “Nàng là ai? Sao lại vào phòng ta?”.

Ta nhớ đến một vở kịch nổi tiếng mình đã từng xem, kể về một con cá tầm tinh màu trắng tên là Bạch Thu Luyện yêu một chàng công tử thiếu niên tên là Mộ Thiềm Cung, tương tư thành bệnh, cho nên đêm đêm gặp gỡ, là một câu chuyện rất hay. Dạ Hoa thế này khiến ta nảy ý muốn trêu chọc, bèn làm bộ ưu sầu nói: “Thiếp vốn là một tiểu tiên ở Thanh Khâu, mấy hôm trước xuống trần du ngoạn, hâm mộ phong thái của lang quân, đem lòng tưởng nhớ lang quân, vì chàng mà võ vàng tiều tụy, thế nên mới đến cùng chàng ân ái một đêm”, lại còn giả vờ xấu hổ nhìn chàng một cái. Lời này tuy rằng khiến toàn thân ta nổi da gà, nhưng nhìn ánh mắt chàng, ta tự thấy mình diễn rất tốt.

Chàng ngẩn người, lát sau mặt đỏ tía tai, che ống tay áo ho hai tiếng: “Nhưng, nhưng chỉ mới mười một tuổi”. … Thời gian một nén nhang trôi qua thật nhanh, Dạ Hoa lúc đầu thai thú vị hơn chàng lúc bình thường rất nhiều. Xem ra nhà họ Liễu ở phàm trần dạy con cái còn bài bản hơn lão Thiên Quân cô độc trên Cửu Trùng Thiên. Ta cũng hơi yên tâm.

Ta chưa nới với chàng về nhân duyên kiếp trước, chàng cũng tin rằng ta chỉ là một tiểu tiên vô tình say mê phong thái của chàng, mà đem lòng yêu nhớ, chỉ có điều luôn băn khoăn mình mới mười một tuổi mà thôi, sao lại có thể làm cho một nữ thần đã qua tuổi hoa niên mê mẩn được, huống hồ mình lại còn tàn phế một tay.

Cho nên quá trình khuyên nhủ chàng vô cùng vất vả.

Ta mong chàng có thể reo hò như những đứa trẻ bình thường khác, nhưng kiếp này chàng lại là một thần đồng, tương lai sẽ là một tài tử. Bọn tài tử xưa nay càng khó thuyết phục, lay động hơn người thường, cho nên ta chỉ có thể chỉ trời chỉ đất làm chứng, thi thoảng còn diễn ánh mắt yếu đuối, buồn thảm, thút thít đôi tiếng, cuối cùng cũng khiến chàng tin ta.

Trước lúc đi, chúng ta trao tín vật cho nhau, ta trao cho chàng chuỗi ngọc mà lúc ta xuống trần giúp Nguyên Trinh độ kiếp chàng đã trao cho ta. Chuỗi ngọc này có thể bảo vệ chàng bình an, ta không thể ở bên chàng, chàng đeo chuỗi ngọc này cũng có thể khiến ta an tâm hơn. Chàng lấy miếng ngọc bội đeo trên cổ xuống, đeo lên cổ ta. Ta ghé sát tai chàng, không quên dặn dò chuyện quan trọng: “Chàng không được cưới người con gái khác, đợi rảnh rỗi thiếp sẽ đến thăm chàng nhiều hơn, đợi khi chàng lớn, thiếp sẽ lấy chàng”. Chàng đỏ mặt, bình tĩnh gật đầu đồng ý.

Ta nói rảnh rỗi sẽ đến thăm Dạ Hoa nhiều hơn. Nhưng sau khi về tới Côn Luân, lại chẳng hề được rảnh rỗi.

Mặc Uyên cuối cùng đã định được ngày đóng cửa tu luyện, sau bảy ngày nữa. Chiết Nhan cần luyện ít đan dược cho Mặc Uyên, để khi người đóng cửa tu luyện có thể mang vào trong động phối hợp trị liệu, chọn ta đi giúp lão một tay. Cả ngày ta quẩn quanh trong phòng thuốc hoặc phòng luyện đan, đến thời gian nghỉ ngơi uống trà cũng không có. Đến chiều ngày mùng hai tháng chín, đem một bình ngọc đựng đầy đan dược mới luyện thành trao cho Mặc Uyên, để người mang vào động. Trước khi vào động, thần sắc người bơ phờ mệt mỏi, không nói gì với các sư huynh, chỉ hỏi ta một câu: “Dạ Hoa đối với ngươi tốt chứ?”. Ta thành thật đáp, người gật gật đầu rồi đi vào trong động.

Sau khi Mặc Uyên đóng cửa tu luyện thì không còn thần tiên nào đến. Ta nhẩm số trà trên núi cũng sắp uống hết rồi.

Mười lăm sư huynh từng người cáo từ trở về làm việc của mình, chỉ để lại tiểu đồng của mình giúp đỡ Cửu sư huynh lo liệu. Ta cũng theo Chiết Nhan và tứ ca cáo từ xuống núi.

Sau khi xuống núi, ta bay thẳng đến trần gian.

Tính ra Dạ Họa năm nay đã mười tám, mười chín tuổi, với người phàm trần đây là tuổi tài hoa phong nhã đương nở rộ, không biết tiểu Dạ Hoa mười một tuổi nay đã như thế nào.

Ta ôm ấp trái tim đầy kích động, nhẹ nhàng đậu xuống trước nhà họ Liễu.

Nhưng lục tung cả nhà họ Liễu lên cũng không tìm thấy Dạ Hoa. Trái tim kích động này đã bị giội một gáo nước, buốt thấu tim.

Ta thất vọng ra khỏi nhà họ Liễu, tìm một nơi yên tĩnh hiện hình, ngẫm nghĩ, rồi lại đến tìm một nô tỳ trước phủ nhà họ Liễu hỏi han, hỏi thì mới biết Dạ Hoa mấy năm trước đã vinh danh bảng vàng, đang làm quan dưới chân thiên tử trần gian.

Nô bộc nhà họ Liễu ngẩng lên nhìn trời xanh thăm thẳm, mắt không giấu nổi vẻ tự hào: “Đại thiếu gia nhà tôi là thần đồng trăm năm mới có, kỳ tài, quả là kỳ tài, mười hai tuổi đã vào nhà Thái học, năm năm trước hoàng đế mở ân khoa, thiếu gia thi lấy lệ cũng đã đỗ Trạng nguyên, từ chức Biên tu trong Hàn lâm viện đã rộng đường công danh, nay đã làm Thượng thư bộ Hộ, kỳ tài, quả là kỳ tài”.

Ta chẳng hề hứng thú với việc Dạ Hoa làm chức quan gì, nhưng biết được nơi chàng ở thì rất vui mừng, bèn xốc lại tinh thần, niệm chú gọi mây xanh, đến cung điện của thiên tử chỗ chàng.

Chú thích:

42. Long cốt: xương rồng.

43. Tri túc thường lạc: Tự thấy đủ sẽ thường thấy vui (ND).

44. Nguyên văn: Thúc Hướng kiến Hàn Tuyên Tử, Tuyên Tử ưu bần, Thúc Hướng hạ chi. Trích trong “Tả truyện” (ND).

Chương 22: Sau đèn Kết Phách, mối bi tình đó tới tới lui lui

Ta tìm Dạ Hoa trong hậu hoa viên của phủ Thượng thư.

Khi ta tìm đến, chàng vận thường phục bằng lụa màu đen, đang đứng nâng chén ngắm hoa đào cùng một người con gái vận đồ trắng. Ở chỗ chàng ngồi, phía trên là một cây hoa đào đang thắm sắc.

Người con gái vận đồ trắng ngồi đối diện chàng dường như nói câu gì đó, chàng nâng chén rượu trên bàn, cười rạng rỡ với người con gái ấy, người con gái đó lập tức thẹn thùng cúi đầu.

Nụ cười này của chàng vừa rạng rỡ vừa thân thiết, nhưng trong mắt ta lại cực kỳ gai mắt. Sáu ngày không gặp, chàng coi vật đính ước của ta là đồ bỏ, chẳng phải rước cho ta một món nợ tình tạp nham sao? Nỗi ghen tức xộc lên, ta đang định đi vào để xem xem ngọn nguồn thế nào, thì sau lưng vang lên một giọng nói: “Đã lâu không gặp thượng thần, Tố Cẩm xin được thỉnh an thượng thần ở đây”.

Ta sững sờ, quay người lại.

Phép ẩn thân chỉ là phép thuật che mắt, có thể che mắt người phàm chứ không thể che mắt thần tiên. Nhìn Tố Cẩm xiêm y giản dị trước mặt ta thấy không quen cho lắm, bèn hỏi: “Sao ngươi lại ở đây?”.

Nàng ta nhìn ta, đáp: “Quân thượng một mình lịch kiếp dưới trần gian, Tố Cẩm sợ quân thượng cô đơn, nên cố ý làm một người quân thượng nhung nhớ, sắp đặt ở bên cạnh chàng. Hôm nay Tây Vương Mẫu mở hội trà, Tố Cẩm cũng được thiếp mời, tiện đường qua đây, nên xuống thăm người Tố Cẩm làm cho quân thượng, xem nàng ta có hầu hạ quân thượng chu đáo hay không?”.

Ta quay lại nhìn người con gái áo trắng đang đứng bên Dạ Hoa. Vừa nãy không để ý, bây giờ nhìn lại, quả nhiên người con gái đó chỉ là một con rối đội da người. Ta lấy chiếc quạt ra, lạnh lùng buông một câu: “Chu đáo quá”.

Nàng ta nhìn ta ân cần, nói: “Thượng thần có biết Tố Cẩm làm con rối theo mẫu của ai không?”.

Ta nghiêng đầu nhìn dò xét, nhưng không cảm thấy gương mặt của người con gái áo trắng kia có điểm gì đặc biệt.

Ánh mắt nàng ta trở nên xa xăm: “Thượng thần có bao giờ nghe tới cái tên Tố Tố không?”.

Lòng ta run rẩy. Tiểu thần tiên Tố Cẩm gần đây quả có tiến bộ, vừa mới gặp đã có thể xéo đúng lên nỗi đau của ta. Sao ta lại không biết mẫu thân đã nhảy xuống Tru Tiên đài của cục bột, phu nhân trước mà Dạ Hoa hết lòng yêu thương tên là gì chứ. Nhưng từ sau khi ta khám phá ra tình cảm của mình dành cho Dạ Hoa, thì đã gói ghém tất cả tin đồn về mẫu thân của cục bột nhỏ, vứt vào trong hòm, khóa ba tầng khóa, thề rằng sẽ không bao giờ mở hòm ra, để bản thân khỏi phải tự tìm đau khổ. Ta không phải là người đầu tiên Dạ Hoa yêu, mỗi lần nhớ ra lại càng nuối tiếc, đau đớn. Nhưng số phận đã như vậy, ta cũng không hề oán trách, chỉ có thể thở dài than rằng số không may, đường tình trắc trở mà thôi.

Tố Cẩm liếc nhìn thần sắc của ta, nói: “Thượng thần không cần phải lo lắng đâu, bây giờ quân thượng chỉ là một người phàm trần, mới không nhận ra người trước mặt chàng chỉ là một con rối, có thể tác thành, khiến giấc mộng mà lòng chàng khao khát trở thành hiện thực. Đợi quân thượng quay về chính thân, cho dù con rối đó có mang gương mặt của Tố Tố, thì theo tính cách của quân thượng, sao có thể quan tâm đến một con rối chứ?”.

Có phải nàng ta đang muốn nói cho ta hay, bây giờ Dạ Hoa đã rất quan tâm tới con rối này không?

Ta cười ha ha, nói: “Ngươi không sợ sau khi Dạ Hoa trở về chính thân, nhớ ra chuyện ngươi đã lừa chàng, sẽ trách tội ngươi sao?”.

Nét mặt nàng ta cứng đờ, gượng cười đáp: “Tố Cẩm chẳng qua chỉ làm một con rối, đặt ở trên đường trước cửa phủ của quân thượng, nếu quân thượng không có ý với nó, thì hai người cũng chỉ là vô duyên thôi. Nhưng quân thượng vừa nhìn đã yêu mến, đưa nó về phủ. Nếu đến lúc đó quân thượng trách tội Tố Cẩm, Tố Cẩm cũng đành chịu”.

Lồng ngực ta căng tức, chỉ mân mê chiếc quạt không nói gì.

Nàng ta lại nở nụ cười dịu dàng, nói: “Có thể thấy, nếu đúng là yêu một người đến khắc cốt ghi tâm, thì dù uống nước Vong Xuyên của U Minh Ti Minh Chủ, cũng vẫn có ấn tượng, đầu thai rồi vẫn yêu người đó. Đúng rồi”, nàng ta ngưng lại giây lát, thong thả nói tiếp, “Thượng thần có biết, ba trăm năm nay, quân thượng luôn chong đèn Kết Phách để tập hợp khí trạch của Tố Tố không?”.

Trong đầu ta bỗng ầm một tiếng, khiến ta không phân biệt nổi phương hướng, lồng ngực căng tức, cồn cào.

Chàng, Dạ Hoa trước đây định tái tạo một Tố Tố sao?

Cái đêm của sáu hôm trước, khi ta ngồi bên cạnh giường Dạ Hoa, chàng còn không nhận ra ta, chàng nói không nhận ra. Sáu năm sau, chàng lại dẫn một người con gái không quen biết về nhà. Quả đúng là chàng yêu ta chẳng sâu sắc bằng chàng yêu Tố Tố khi xưa, nên mới không nhận ra ta. Hoặc giả, hoặc giả, chiếc hòm có ba lần khóa kia đã mở ra, hoặc là chỉ vì khi ta băng mắt có vài phần giống với phu nhân trước, nên Dạ Hoa mới dần dần yêu ta? Đầu óc rối loạn, ngực đau căng tức, tim ta nhói buốt.

Nhưng dù đầu óc hỗn loạn, ta vẫn khâm phục bản thân, ra vẻ thượng thần rất đạt, ta ung dung nói: “Ngươi quả am hiểu chuyện ái tình, đúng là am hiểu như thế mới có thể chịu đựng được sự coi thường của Dạ Hoa, còn có thể làm thứ phi của chàng suốt hơn hai trăm năm. Trong đám tiểu bối bây giờ, ngươi có thể coi là một kẻ có tầm nhìn, con rối ngươi làm rất tinh xảo, để nó bên Dạ Hoa cũng tốt, đỡ cho bản thượng thần phải nhọc công. Sau này nếu Dạ Hoa có trách ngươi gạt chàng, bản thượng thần sẽ nói đỡ cho ngươi”.

Nụ cười của nàng ta đông cứng trên gương mặt, mãi sau mới khóe môi, nói: “Đa tạ thượng thần”.

Ta giơ tay xua xua, nói: “Để lỡ hội trà của Tây Vương Mẫu thì không hay đâu”.

Nàng ta cúi đầu quỳ gối: “Vậy Tố Cẩm xin lui trước”.

Tố Cẩm đi rồi, ta quay đầu lại nhìn, con rối đó đang cùng Dạ Hoa uống rượu. Mấy cánh hoa đào nương theo gió rụng xuống, bay lả tả, vương trên tóc Dạ Hoa. Con rối đó giơ bàn tay trắng như ngọc như ngà, phẩy nhẹ một cái, mấy cánh hoa đào rớt xuống đấy. Nó ngẩng đầu lên nhìn Dạ Hoa cười thẹn thùng, Dạ Hoa không nói gì, uống cạn chén rượu. Đầu ta đột nhiên đau buốt.

Tứ ca hay nói, ta chẳng chịu suy nghĩ, luôn tùy ý hành động, may mà cha mẹ ta giỏi giang, ta mới không phải thiệt thòi, nhưng ta cũng không ít lần làm mất thể diện tộc Cửu Vỹ Bạch Hồ nhà ta. Cố nhiên ta cảm thấy huynh ấy còn làm nhiều chuyện mất thể diện hơn ta, nhưng niệm tình huynh ấy lớn hơn ta, nên ta cũng nhường huynh ấy.

Giờ đây, ta mới thấy huynh ấy nói có lý. Ta hành động hết sức tùy ý, không hề suy nghĩ. Ví dụ như lúc ban đầu Dạ Hoa bày tỏ với ta, chàng nói chàng thích ta, chàng nói còn ta nghe, nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng trong toàn thể nữ thần của bốn bể tám cõi, sao chàng chỉ yêu mình ta, cho dù sau này ta cũng yêu chàng, hai bên tình nồng ý đượm, cũng không hề hỏi chàng chuyện quan trọng này. Nếu như chàng thực sự vì mẫu thân của cục bột nhỏ mới thích ta, thì người thế thân Bạch Thiển ta với con rối đang uống rượu với chàng kia, đâu có gì khác nhau. Tuy cũng biết rằng so đo với người đã mất là hẹp hòi, nhưng tình yêu lại thực sự không thể tính tới thể diện hay độ lượng được.

Ngọn lửa ghen tuông ngùn ngụt, ta day day góc trán, cảm thấy lúc này nên ngẫm nghĩ kỹ một số chuyện về Dạ Hoa, bèn bắt quyết gọi một đám mây, rồi lú lú lẫn lẫn bay về Thanh Khâu.

Tối nay, ta đem đèn Kết Phách ra ngắm nghía dưới ánh sáng của viên dạ minh châu. Chiếc đèn này luôn đặt ở chỗ Tây Hải đại hoàng tử để giúp y dưỡng thần, sau khi Mặc Uyên tỉnh lại đã được Chiết Nhan lấy về và đặt ở Thanh Khâu. Lúc trên Cửu Trùng Thiên, Dạ Hoa không hỏi tới, còn ta cũng quên đem trả.

Dưới ánh sáng trắng của viên dạ minh châu, cây đèn Kết Phách ấy khêu lên một ngọn lửa nho nhỏ bằng hạt đậu, trông chẳng có gì đặc biệt cả. Đâu có ai ngờ, trong cây đèn không có gì đặc biệt này lại chứa khí trạch ba trăm năm của một người phàm.

Ta càng nghĩ lòng càng chùng xuống, lời của Tố Cẩm tuy không thể tin hoàn toàn, nhưng còn lời của tiểu tiên nữ Nại Nại trên Thiên Đình làm chứng, bây giờ ta đã rảnh rỗi để chắp ghép từng chuyện lại, ba trăm nay quả nhiên Dạ Hoa tình sâu như biển với mẫu thân của cục bột nhỏ. Một người nặng tình như chàng, một mối tình sâu như biển ấy, sao chỉ mới ba trăm năm mà đã có thể tan thành mây khói được, sao có thể vừa nhìn thấy bản thượng thần là lập tức thay đổi tình cảm được đây?

Ta càng nghĩ càng cảm thấy ngọn lửa ghen tuông trong lòng bốc lên ngùn ngụt, lan đến tim phổi, cháy bùng lên. Ta yêu Dạ Hoa vì chính con người chàng, nếu như chàng có tướng mạo giống với sư phụ Mặc Uyên, ta cũng chưa bao giờ coi chàng là Mặc Uyên, dù chỉ là một khắc. Nếu như ta coi chàng là thế thân của Mặc Uyên, thì e rằng mỗi lần nhìn thấy chàng ta đều cung kính thưa hỏi, không dám khinh nhờn một chút nào.

Ta đã yêu chàng như vậy, nên cũng mong chàng đối xử lại với ta như thế. Nếu như vì ta giống mẫu thân của cục bột nhỏ, mà chàng lại không nguôi thương nhớ mẫu thân của cục bột nhỏ nên mới chuyển sang ta, thì Bạch Thiển ta không thể nhận sự yêu mến này của chàng.

Mê Cốc đứng bên ngoài khẽ giọng gọi: “Cô Cô, có cần ta dâng ít rượu lên không?”.

Ta im lặng đồng ý.

Rượu mà Mê Cốc dâng lên đều là rượu mới nấu, hơi cay nồng còn chưa được êm lắng, đi vào trong miệng, họng lập tức cay xè, đầu óc ta càng trở nên choáng váng hơn. Có lẽ hôm nay Mê Cốc thấy ta có tâm sự, nên mới cố ý chọn ra loại rượu mạnh này, hễ được lệnh là đem vào trong phòng ta.

Ta uống tới mức một cây đèn Kết Phách trước mắt biến thành mười cây, cảm thấy uống khá say, mới đứng dậy loạng choạng đi ngủ. Mơ mơ màng màng nhưng không ngủ được, luôn cảm thấy trên bàn có thứ gì đang tỏa sáng, rất chói mắt, chẳng trách ngủ không được. Ta ngồi bên mép giường, nheo mắt nhìn, hóa ra là một ngọn đèn. A, có lẽ là cái đèn Kết, kết gì đó…

Ta nghĩ mãi mà không nghĩ ra.

Ngọn đèn đó chiếu sáng khiến trái tim người ta rối bời, toàn thân ta mềm nhũn không bò nổi dậy, cứ ngồi cách bảy, tám bước mà thổi ngọn đèn trên bàn, thổi mãi mà không tắt, muốn dùng pháp thuật để tắt đèn nhưng nhất thời chẳng nhớ nổi một phép thuật nào để thổi tắt đèn cả. Ta rên rỉ một tiếng “đen đủi”, dứt khoát bắt quyết chĩa về phía chiếc đèn Kết gì đó, “choang” một tiếng, ngọn đèn đó hình như vỡ tan. Cũng tốt, ngọn lửa trong đèn đã tắt rồi.

Sau cơn giày vò ấy, trời đất quay mòng mòng, ta lập tức ngã xuống giường ngủ say như chết.

Ta ngủ li bì hai ngày liền, khi ngủ cũng nhớ ra rất nhiều chuyện cũ.

Hóa ra năm trăm năm trước, Kình Thương phá vỡ chuông Đông Hoàng, sau khi ta cố gắng nhốt hắn vào trong, chẳng hề giống như cha mẹ ta vẫn nói là ngủ liền hai trăm mười hai năm trong động Hồ Ly, mà bị Kình Thương gieo một phong ấn trong người, rơi xuống núi Tuấn Tật ở Đông Hoang.

Cái gì mà Tố Tố, cái gì mà mẫu thân của cục bột nhỏ, cái gì mà người phàm nhảy xuống Tru Tiên đài, đó căn bản đều là bản thượng thần ta – khi ấy vẫn còn vô năng, vô tri.

Ta còn thắc mắc là lúc thăng lên làm thượng thần, mình đã lịch kiếp như thế nào, chẳng qua đánh với Kình Thương một trận, ngủ vỏn vẹn có hai trăm mười hai năm, rồi trong giấc mộng say lại được thăng làm thượng thần. Ba trăm năm trước trong động Hồ Ly, khi tỉnh dậy, ta mắt chữ O miệng chữ A nhìn nguyên thần của mình từ ánh sáng bạc chuyển thành ánh sáng vàng lấp lánh, còn tưởng rằng ông trời ưu ái ta, cảm kích đến mức cảm thấy ông trời quá nhân từ.

Ta đâu biết, trận đánh với Kình Thương kia chỉ là một ngòi nổ, mà kiếp nạn ta phải trải qua để được thăng làm thượng thần, lại chính là tình kiếp. Ta phải hy sinh trái tim không nói, mà còn phải hy sinh cả đôi mắt. Nếu không phải Kình Thương phong ấn tiên nguyên của ta, thì nhảy xuống Tru Tiên đài ta còn phải hy sinh toàn bộ tu vi. Ông trời hành sự chẳng hồ đồ chút nào, nhân từ, nhân từ, ông ta nhân từ cái cóc khô ấy.

Ta đã hiểu vì sao khi ở Thanh Khâu, Dạ Hoa ngập ngừng muốn nói rồi lại thôi; hiểu được cái đêm ở quán trọ dưới trần gian, cái câu “Ta mong nàng nhớ ra, lại mong nàng vĩnh viễn không nhớ” ta nghe được trong lúc mơ màng hoàn toàn không phải là ta ngủ mơ; tất cả đều có trước có sau, là năm đó Dạ Hoa đã để ta chịu oan, chàng cảm thấy có lỗi với ta. E là chàng mãi mãi không bao giờ hiểu được tại sao ta lại đặt tên cho cục bột là A Ly, mãi mãi không hiểu được tại sao ta phải nhảy xuống Tru Tiên đài.

Chuyện cũ lần lượt ào về như thác đổ, nỗi đau kéo dài suốt ba năm đó của ba trăm năm về trước mới như ngày hôm qua, cái gì là đại nghĩa, cái gì là đạo lý, cái gì là bảo vệ sự an toàn cho một người phàm như ta mà không thể không làm với không thể làm, đêm đêm một mình vò võ trong “Nhất Lãm Phương Hoa”, từng tia hy vọng nhỏ nhoi bị bóp nghẹt. Tình cảm ấy ào ạt chảy về, ta cảm thấy cõi lòng bi thương vô tận. Ba năm đó, bản thượng thân sống vô dụng biết bao, đau đớn biết bao.

Ta cảm thấy với tâm trạng của mình giờ đây, nếu thành thân với Dạ Hoa vào tháng mười, e rằng hơi khó. Ta biết rằng mình vẫn còn yêu chàng. Ba trăm năm trước ta bị chàng mê hoặc đến mức đầu óc choáng váng; ba trăm năm sau lại bị chàng mê hoặc đến mức đầu óc mụ mẫm; đây là oan nghiệt. Ta không thể ngăn được mình yêu chàng, nhưng nghĩ đến chuyện ba trăm năm trước, trái tim yêu chàng như trồi lên một cái nhọt, cái nhọt này lại chẳng thể tiêu tan. Thế nên, ta cũng chẳng thể tha thứ cho chàng.

Mê Cốc bưng nước vào trong phòng cho ta rửa mặt, nhìn ta một lúc, lão nói: “Cô cô, có cần ta đi lấy thêm chút rượu nữa không?”.

Ta giơ tay sờ lên mặt, mới phát hiện nước mắt đẫm tay mình.

Mê Cốc dâng rượu lên thật. Bữa trước ta uống bảy, tám vò, cứ tưởng đã uống hết sạch rượu tứ ca cất giữ, Mê Cốc vẫn còn có thể dâng thêm năm, sáu vò, chứng tỏ trong gian nhà tranh của lão cất giữ không ít rượu.

Mỗi khi ta uống say thì sẽ ngủ, tỉnh lại uống, lại say rồi lại ngủ, cứ lặp lại một cách đơn điệu như vậy ba, bốn ngày. Đến chạng vạng tối ngày thứ năm thì tỉnh, Mê Cốc đang ngồi trong phòng ta, nói: “Cô cô lo lắng đến bản thân một chút đi, trong động không còn rượu để mang lên nữa rồi”.

Mê Cốc quá lo, bản thân ta đâu cần lo lắng gì, chỉ là mệt mỏi quá thôi, không vô dụng như Phượng Cửu, thất tình uống tí rượu vào là say đến nỗi ói mật xanh mật vàng. Qua lần tôi luyện này, tửu lượng của ta còn tăng tiến không ít.

Không có men rượu mạnh, đầu ta lại tỉnh táo trở lại. Đầu óc tỉnh táo khiến ta nhớ một chuyện quan trọng mà dù thế nào cũng không thể quên. Đôi mắt của ta đang sống trong hốc mắt của Tố Cẩm, nên đòi nó trở về rồi.

Khi đó ta trải qua tình kiếp, bị Tố Cẩm nhân cướp mất đôi mắt. Bây giờ ta đã lịch kiếp xong, đôi mắt ta vẫn để trong hốc mắt nàng ta là không được, nàng ta nuôi đôi mắt của ta hẳn cũng thấy không tự nhiên.

Chọn ngày chẳng bằng gặp ngày, ta gọi quạt Côn Luân đến, soi gương chỉnh sửa lại dung nhan. Haizz, sắc mặt ta nhìn không tốt lắm, để không mất thể diện của Thanh Khâu, ta đành lấy hộp phấn ra, thoa ít phấn lên.

Mặt mày rạng rỡ, ta lên Cửu Trùng Thiên, ta bắt quyết, dễ dàng lách qua đám thiên binh thiên tướng canh Nam Thiên Môn, đi thẳng một mạch đến điện Sướng Hòa của Tố Cẩm nằm trong khuôn viên Tẩy Ngô cung.

Nàng “mẫu mực” quả rất biết hưởng phúc, nàng ta đang nằm trên giường quý phi an nhàn nhắm mắt dưỡng thần.

Ta hiện thân, một tiên nga thị tỳ vừa bước vào điện trông thấy đã kêu “á” một tiếng. “Mẫu mực” liền mở choàng mắt, nhìn thấy ta thì sững người, miệng vẫn giả lả: “Thượng thần giá đáo, Tố Cẩm vô cùng sợ hãi”. Động tác trở mình xuống giường lại cực kỳ chậm rãi, bình thản thong dong, quả là “vô cùng sợ hãi”.

Ta ngồi một bên. Nàng ta ra vẻ tươi cười, cởi mở, nói; “Tố Cẩm đoán thánh ý của thượng thần, có lẽ là đến để hỏi thăm tình hình gần đây của quân thượng. Nếu nói đến quân thượng”, ngừng lại một lát, lại cười vẻ vô cùng cởi mở, “Tố Tố ở trần gian kia, vẫn sống cùng quân thượng rất vui vẻ, chăm sóc quân thượng rất chu đáo”.

Nụ cười làm nền cho đôi mắt sáng lấp lánh trên gương mặt, ta sờ lên mặt chiếc quạt, ra vẻ ung dung, nói: “Nếu như thế này, tự nhiên là tốt nhất. Dạ Hoa đã có ngươi chăm sóc, ta cũng an tâm, còn hôm nay, ta lại muốn quan tâm tới ngươi một chút”.

Nàng ta nghi hoặc nhìn ta.

Ta cười đoan trang: “Tố Cẩm, ngươi dùng đôi mắt của bản thượng thần đã ba trăm năm, dùng có tốt không?”.

Nàng ta ngẩng phắt đầu, máu trên khuôn mặt từ đỏ chuyển sang hồng nhạt, từ hồng nhạt chuyển sang trắng bệch, trong nháy mắt đổi ba màu, cực kỳ thú vị. Nàng ta nói với giọng run rẩy: “Vừa nãy ngươi, ngươi nói gì?”.

Ta xòe quạt, cười đáp: “Ba trăm năm trước bản thượng thần trải qua tình kiếp, đã đánh mất đôi mắt vào tay ngươi, hôm nay nhớ ra chuyện này, nên cố ý tới đây đòi. Theo ngươi, tự ngươi động thủ hay là bản thượng thần đích thân động thủ?”.

Nàng ta lùi về sau hai bước, va ngay vào thành giường quý phi đằng sau, nhưng dường như không hề hay biết, miệng lắp bắp: “Ngươi là, ngươi là Tố Tố?”.

Ta không bình tĩnh được nữa, xòe quạt: “Rốt cuộc là ngươi đích thân móc trả hay là bản thượng thần móc giúp ngươi?”.

Đôi mắt nàng ta thất thần, tay vặn xoắn tà áo, há miệng mấy lần, nhưng không nói được một câu hoàn chỉnh nào, như cười như khóc, nói: “Người đó, người đó rõ ràng chỉ là một người phàm, sao lại là ngươi, ả rõ ràng là một người phàm”.

Ta bước tới, rót một chén trà đặc còn bốc khói nghi ngút trên bàn, ngạc nhiên nói: “Một người phàm thì sao, một thượng thần thì sao nào? Chỉ vì ba trăm năm trước ta hóa thành một người phàm, yếu ớt vô dụng, một tiểu thần tiên như ngươi có thể đoạt đôi mắt của ta, lừa ta nhảy xuống Tru Tiên đài được sao?”.

Chân nàng ta mềm nhũn, loạng choạng ngã xuống, cứ lắp bắp “ta, ta” hồi lâu mà không nói được câu gì biện hộ.

Ta bước tới, đưa tay sờ lên hốc mắt của nàng ta, dịu dàng nói: “Gần đây bản thượng thần có chuyện vui, uống mấy vò rượu, tay hơi run, động thủ có lẽ sẽ đau hơn ngươi tự làm, ngươi thông cảm nhé!”.

Tay ta còn chưa hạ xuống, nàng ta đã kêu thét thất thanh. Ta vung tay phóng ra một đạo tiên chướng trùm lên trước điện Sướng Hòa, đảm bảo cho dù đám tiểu tiên đồng, tiểu cung nga có nghe thấy tiếng kêu của nàng ta cũng không vào trong được.

Ánh mắt nàng ta đã rối loạn, hai tay giữ chặt lấy tay ta, nói: “Ngươi không thể, ngươi không thể…”.

Ta buồn cười, vỗ nhẹ lên mặt nàng ta: “Ba trăm năm trước ngươi thích giả vờ yếu đuối, lúc nào ta gặp ngươi, ngươi cũng giả vờ yếu đuối, không thể để bản thượng thần mở mắt, nhìn xem lúc ngươi không yếu đuối trông thế nào? Lúc Dạ Hoa móc đôi mắt của ta nói nợ người ta cuối cùng vẫn phải trả, khi đó đôi mắt của ngươi sao lại không có, hai chúng ta đều hiểu rõ. Đôi mắt của ta sao lại lọt vào hốc mắt ngươi, hai chúng ta cũng đều hiểu rõ. Ngươi nói xem, tại sao ta không thể lấy lại đôi mắt của mình, lẽ nào đôi mắt của ta nằm trong hốc mắt của ngươi ba trăm năm, thì sẽ biến thành của ngươi sao?”.

Dứt lời ta ra tay dứt khoát, nàng ta kêu lên thảm thiết. Ta ghé tai nàng ta thì thầm: “Chuyện ba trăm năm trước, Thiên Quân âm thầm làm, chuyện hôm nay, ta cũng âm thầm làm. Khi xưa ngươi nợ ta hai món nợ, một là đôi mắt, hai là Tru Tiên đài. Món nợ hôm nay coi như ta đã bắt ngươi trả. Món nợ Tru Tiên đài, hoặc là ngươi đường hoàng nhảy xuống một lần, hoặc là ngươi nói với Thiên Quân, dùng tiên lực bé mọn của ngươi đến nhà lao ở bến Nhược Thủy canh chừng chuông Đông Hoàng nhốt Kình Thương, vĩnh viễn không lên trời nữa”.

Toàn thân nàng ta co rúm, có lẽ rất đau đớn. Nỗi đau này ta cũng từng trải qua, nên cũng đoán ra. Nàng ta đau đến mức không thể thở nổi, nhưng vẫn bướng bỉnh nhả ra ba tiếng: “Ta… quyết… không…”.

Không sai, không giả vờ yếu đuối với ta, cố gắng cứng rắn một lần. Ta nâng cao khuôn mặt đẫm máu của nàng ta lên, cười nói: “Ô? Vậy là ngươi muốn bản thượng thần đích thân đi nói với Thiên Quân. Nhưng con người ta xưa nay lúc này nói một đằng, lúc khác lại nói một nẻo. Nếu để ta đến nói với Thiên Quân, không biết lúc đó ta có nói như bây giờ không nữa”.

Cơ thể nàng ta cứng đờ, rồi tiếp tục đau đớn cuộn tròn lại. Ta thầm niệm một câu kinh Phật, thiện ác quả báo, đạo trời luân hồi.

Tất Phương lại đi mất, tứ ca lại đi tìm hắn. Trong rừng đào mười dặm chỉ còn một mình Chiết Nhan.

Khi ta đưa đôi mắt còn đẫm máu trong tay cho Chiết Nhan, lão kinh ngạc tột độ, đem ra soi xét cẩn thận rất lâu dưới ánh mặt trời, nói: “Đôi mắt bị trộm ba trăm năm vẫn có thể tìm lại được, thật là chuyện lạ”, rồi lại nói, “Ngươi đã uống thuốc của ta, giờ lại nhớ ra quá khứ đau thương khi trước, cũng là chuyện lạ”.

Đôi mắt này được lấy ra từ một tiên thể chưa đến bảy bảy bốn mươi chín ngày, nếu không thì chỉ có nước bỏ đi. Chiết Nhan cảm thấy lạ lùng, có lẽ lão tưởng đôi mắt ta mất hẳn, chẳng ngờ lại được đặt trên khuôn mặt của người khác, đến hôm nay mang đôi mắt này về, còn có thể đặt lại vào hốc mắt ta.

Ta gượng cười một cái.

Lão liếc nhìn thần sắc trên mặt ta, hẳn cũng đoán rằng ta không muốn nhắc lại chuyện cũ, nên cũng rất hiểu ý ho hai tiếng, không hỏi nhiều nữa.

Chiết Nhan nói lão cần mấy ngày để loại trừ hết những tạp khí trên đôi mắt này, sau đó mới thay mắt cho ta. Ta vui vẻ nhận lời, rồi nhân thể vòng ra sau núi đào mấy bình rượu lên, cưỡi mây bay về Thanh Khâu.

Cứ thế lại uống say mèm mấy ngày. Ta dặn Mê Cốc giúp ta để ý động tĩnh thứ phi của thái tử trên Cửu Trùng Thiên, mấy ngày này đóng cửa Thanh Khâu, ta không gặp ai cả. Rượu Chiết Nhan cất, quả nhiên ngon hơn rượu do Mê Cốc tích trữ rất nhiều, hôm qua say còn nôn ra dịch mật, đầu đau đến mức muốn cầm kiếm xuyên qua huyệt Thái Dương từ bên trái sang bên phải. Nhưng như thế cũng tốt, hễ nhắm mắt là trời xoay mòng mòng, sẽ không còn thời gian mà đi nhớ đến chuyện khác nữa.

Mê Cốc khuyên ta nên uống chậm lại, tạm thời không say rượu trong một, hai ngày, mà nên giữ gìn sức khỏe.

Nhưng lần này hoàn toàn khác với nỗi đau lòng trong quá khứ, hễ không say là ta không thể chợp mắt.

Khi ta say túy lúy thì chẳng biết trời trăng gì, nhưng nếu không say mèm, thì vẫn láng máng nhớ Mê Cốc thường nói chuyện với ta. Lão nói rất nhiều, đại khái là những chuyện không quan trọng. Có hai chuyện mà ta vẫn nhớ rất rõ, một là thứ phi thái tử trên Cửu Trùng Thiên mà ta rất để ý không hiểu sao cuối cùng cũng ngộ ra, dâng thư lên Thiên Quân, cam tâm tình nguyện xin rút khỏi Tiên tộc, đến bến Nhược Thủy vừa tu hành vừa giữ chuông Đông Hoàng. Thiên Quân cảm động trước ý tốt của nàng ta, bèn phê chuẩn; một chuyện nữa là thái tử Dạ Hoa lịch kiếp dưới trần gian, vốn đã uống nước Vong Xuyên không còn nhớ chuyện cũ, nhưng lại tin quỷ thần, dốc cả đời đi tìm tiên cảnh Thanh Khâu, tuy làm quan đến chức tể tướng nhưng suốt đời không lấy vợ, năm hai mươi bảy tuổi u uất bệnh mà chết, trăn trối người nhà đem thi thể hỏa táng, hợp táng với chuỗi ngọc thường đeo bên mình.

Ta không biết lúc Mê Cốc nói chuyện đó ta có rơi lệ hay không. Nếu như ta thực sự rơi lệ, thì vì sao lại rơi lệ chứ? Ta uống rất nhiều, đầu óc trở nên chậm chạp, nghĩ mãi mà không ra.

Qua mấy ngày, Mê Cốc hớt hơ hớt hải chạy vào động Hồ Ly, báo tin cho ta. Nghe nói thái tử điện hạ Dạ Hoa Quân trên Cửu Trùng Thiên, đã đợi bên ngoài cửa cốc Thanh Khâu bảy ngày, chàng muốn gặp ta.

Mê Cốc nói lão làm theo lệnh của cô cô, không dám cho bất cứ ai vào cốc, cho dù là Dạ Hoa cũng không dám cho vào. Nhưng bảy ngày trôi qua, Dạ Hoa vẫn chưa có ý muốn rời đi, lão không thể tự ý, nên đành đi vào thông báo với ta, xem ý ta ra sao.

Đầu óc ta cuối cùng cũng tỉnh táo lại.

A, Dạ Hoa ở trần gian hai mươi bảy tuổi đã tạ thế, hai nắm đất vàng chôn cất, đương nhiên sẽ trở chính thân.

Không hiểu tại sao, trong lòng đột nhiên nhói đau. Ta ôm tim, trượt theo chân bàn quỵ xuống, Mê Cốc định đỡ dậy, ta cản lão lại.

Dựa vào chân bàn, ta ngước nhìn xà nhà. Ta muốn gặp Dạ Hoa.

Ta muốn hỏi chàng ba trăm năm trước, vì Tố Cẩm phản bội chàng lấy Thiên Quân, nên chàng đau lòng, mới cắn răng lấy một người phàm trần không?

Chàng có thật lòng yêu ta không? Chàng để ta vò võ ba năm trong Thiên Cung lạnh lẽo, là vì muốn tốt cho ta sao? Khi chàng yêu ta, có phải vẫn yêu Tố Cẩm không? Nếu như yêu, vậy thì yêu sâu đậm bao nhiêu? Nếu như không phải ta bị lừa nhảy xuống Tru Tiên đài, có phải chàng sẽ cam tâm tình nguyện lấy Tố Cẩm không? Bây giờ chàng tỏ ra tình sâu nghĩa nặng với ta, có phải vì hối hận chuyện ba trăm năm trước không?

Càng nghĩ lại càng không muốn tiếp tục nghĩ nữa. Ta đưa tay che mắt, nước mắt trào qua kẽ tay. Nếu như chàng nói là “đúng” thì sao? Nếu như chàng nói toàn bộ là “đúng” thì sao?

Ta không biết mình có nên tự tay giết chàng không.

Mê Cốc đứng bên lo lắng nói: “Cô cô, gặp hay không gặp đây?”.

Ta thở dài, nói: “Không gặp. Nói với chàng rằng, chàng không cần đến Thanh Khâu nữa. Ngày mai ta sẽ tìm Thiên Quân từ hôn”.

Lúc lâu sau, Mê Cốc quay về, im lặng một lát mới nói: “Thái tử điện hạ, thần sắc của người rất xấu. Người đứng ở cửa cốc đã bảy ngày, một bước cũng không rời”.

Ta liếc lão một cái, tợp một ngụm rượu, không đáp lại.

Lão ngần ngừ rồi thưa: “Thái tử điện hạ nhờ ta chuyển lời tới cô cô. Người muốn hỏi cô cô, ban đầu cô cô nói, nếu khi ở trần gian người có vướng phải hoa đào, thì cô cô sẽ trói người mang về nhốt ở Thanh Khâu. Khi ở trần gian, ngoài mang một thị nữ có dáng vẻ giống cô cô lúc là người phàm, để hầu hạ mẫu thân bị bệnh ra, thì nửa đóa hoa đào ngài cũng chưa vướng bận, lúc đầu cô cô đã hứa với ngài, sao giờ lại không tính?”.

Ta hất bình rượu, quát to: “Không tính, cái gì cũng không tính, cút, ngươi bảo hắn cút đi, ta không muốn nhìn mặt hắn”.

Lòng đau như cắt, ta biết rằng không phải mình không muốn gặp chàng, chỉ là trong lòng có nút thắt, không biết phải gặp chàng ra sao.

Ngày thứ hai, ta vẫn chưa lên Cửu Trùng Thiên từ hôn, chỉ cảm thấy tạm gác lại đã, đợi khi nào tâm trạng thoải mái thì sẽ đi. Nhưng trong một thời gian ngắn, sợ rằng tâm trạng khó mà thoải mái được.

Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, Mê Cốc nói Dạ Hoa vẫn đứng ở cửa cốc, không rời nửa bước. Ta nói với lão, nếu còn nhắc đến cái tên Dạ Hoa, thì sẽ đánh cho lão hiện nguyên hình là cây Mê Cốc một vạn tám nghìn năm trước, cuối cùng lão cũng ngậm miệng lại.

Ta không sao uống rượu được nữa. Vì từ khi biết Dạ Hoa đang đứng bên ngoài Thanh Khâu, mỗi lần uống, càng uống ta lại càng tỉnh, càng tỉnh lại càng đau lòng, càng đau lòng lại càng khó ngủ.

Mưa tí tách cả đêm, vì tinh thần ta rệu rã, nên trời vừa hửng sáng đã tỉnh dậy, cảm thấy mấy thành tiên lực dùng để phong ấn Kình Thương trên chuông Đông Hoàng năm trăm năm trước bị chấn động mạnh.

Tim ta nhói đau. Quả là mùa thu đa sự, gần đây hết việc này đến việc kia kéo đến, đúng không uổng danh hiệu “phiền não nhất là tiết sang thu”. Có lẽ, Quỷ Quân đời trước Kình Thương công đức đã viên mãn, sắp phá chuông Đông Hoàng mà ra rồi.

Ta vội vàng rửa mặt, sai Mê Cốc gấp rút đi rừng đào mười dặm chuyển lời đến Chiết Nhan, nhờ lão đến giúp ta một tay.

Năm trăm năm trước, khi lần đầu tiên Kình Thường phá vỡ chuông Đông Hoàng, ta cố gắng lắm mới có thể chặn hắn lại và nhốt hắn trở lại trong chuông. Nhưng đánh một trận cũng khiến chuông Đông Hoàng bị sứt mẻ, ta lại không thể chỉ dùng có năm thành tu vi mà vá lành nó được. Với ngần này tu vi còn lại trên người, vừa nhẩm tính thì liều tấn công cũng hỏng, mà lý trí phòng thủ cũng hỏng, nếu còn vài phần sáng suốt, cũng đủ biết là không thể đấu lại với hắn.

Nhưng Kình Thương không phải là kẻ lương thiện, bị nhốt ngần ấy năm, không chừng sau khi phá chuông Đông Hoàng chui ra, bạo tính lại bộc phát, lại đứng đầu tập họp thần thú của tám cõi tiêu diệt chư thiên, đốt cháy bốn bể tám cõi và ba nghìn thế giới thành tro bụi.

Nghĩ đến đây, những chuyện phiền não trăng gió canh cánh cả trong giấc mộng vừa nãy đã bay biến đâu cả. Ta lấy quạt Côn Luân, nhún mình vút lên một đám mây, tức tốc nhằm thẳng hướng Nhược Thủy mà đi, định bụng trước khi Chiết Nhan tới, phải cố gắng chống chọi, tuyệt đối không được để Kình Thương phá chuông Đông Hoàng thoát ra.

Ta biết rằng mình sẽ gặp Dạ Hoa ở cửa cốc. Chàng vẫn đứng chờ ở cửa cốc, nếu như ta ra khỏi Thanh Khâu, tất sẽ phải gặp chàng. Ta nhắm mát, giả vờ vô tình đi lướt qua chàng, thì một tay chàng níu tay áo ta lại. Khuôn mặt chàng trắng bệch khiến người ta phát hoảng, dáng vẻ tiều tụy, mệt mỏi thấy rõ.

Chuyện gấp gáp như thế này sao có thể ở đây lằng nhằng với chàng, ta quay đầu dùng quạt chém một nhát cắt đứt một nửa ống tay áo bị chàng giữ, roạt một tiếng, chàng sững người, nghẹn ngào thốt hai tiếng: “Thiển… Thiển”.

Ta không đáp, quay người tiếp tục bay đến Nhược Thủy. Ta liếc nhìn, chàng cũng cưỡi mây bám theo sau.

Nhiều năm về sau, ta luôn nghĩ, khi đó, khi đó cho dù ta chỉ nói với chàng một câu thôi, cho dù chỉ một câu thôi? Nhưng ta lại lạnh lùng nhìn chàng. Một câu cũng không nói. Nhìn xuống Nhược Thủy mờ mịt, sóng bạc dâng cao ngang trời, phía trên mây đen vần vũ, chuông Đông Hoàng như một tòa tháp cao đứng sừng sững bên bến Nhược Thủy, trong nháy mắt một tiếng nổ ầm rung chuyển một phương. Tố Cẩm đáng nhẽ phải trấn thủ chuông Đông Hoàng mất tăm mất tích, có lẽ nhìn thấy cảnh tượng này đã sợ hãi, tìm chỗ trốn rồi.

Trong tầng mây lơ lửng trên không trung đã nhìn thấy ló ra nửa cái đầu của thổ thần Nhược Thủy. Năm trăm năm trước ta đã có duyên gặp mặt với thổ địa này, y ló đầu từ trong mây ra, lo lắng nhìn chuông Đông Hoàng đang rùng lắc, thấy ta và Dạ Hoa, thì cuống quýt vái lạy, lo sợ nói: “Cô cô tiên giá, Nhược Thủy Thần Quân đã lên Thiên Đình cầu cứu rồi, lệnh cho tiểu tiên đứng đây chờ. Cơn tức giận của Kình Thương lần này cực kỳ khác lạ, phủ Thần Quân dưới sông Nhược Thủy cũng bị rung chuyển, miếu thổ địa của tiểu tiên cũng…”, y nói líu ra líu ríu, bỗng chuông Đông Hoàng dưới đất phát ra một luồng sáng cực lớn, trong ánh sáng trắng lờ mờ hiện ra một bóng người.

Ta thầm than hỏng rồi, đanh định lao xuống thì thân hình bị giữ chặt lại.

Dạ Hoa ở phía sau đã dùng dây trói, nhân lúc ta không để ý liền dùng định thân chú, giữa lúc sấm rền chớp giật còn dùng phép thuật trói hai chân hai tay ta. Ta không nhúc nhích được, trơ mắt nhìn Kình Thương sắp thoát khỏi chuông Đông Hoàng, vội hét lên: “Chàng thả thiếp ra”.

Chàng không đáp, mà đẩy ta sang cho thổ địa Nhược Thủy, khẽ nói: “Trông chừng nàng ấy cho cẩn thận, cho dù xảy ra chuyện gì cũng không được để nàng ấy ngã từ trên mây xuống”. Dứt lời lật bàn tay trái một cái, một thanh bảo kiếm sáng lóa lạnh ngắt hiện ra.

Ta trơ mắt nhìn chàng tay cầm bảo kiếm, đón gió xuống mây, lao thẳng vào luồn sáng bạc phát ra từ chuông Đông Hoàng, chỉ cảm thấy trời như sụp xuống, mấy lần há miệng nhưng nói không nên lời, cơn gió lạnh buốt quét qua khiến hai mắt ta đau buốt. Lúc Dạ Hoa lao vào luồng sáng bạc đó, ta nghe thấy mình gào lên một cách tuyệt vọng: “Thổ địa, ngươi thả ta ra, ngươi hãy nghĩ cách thả ta ra, Dạ Hoa chàng đâm đầu vào chỗ chết, trên người chàng đâu còn tu vi, chàng đâm đầu vào chỗ chết!”.

Thổ địa lầm rầm vâng dạ gì đó, có lẽ nói pháp thuật này quá huyền diệu, y không giải được, định thân chú này cũng rất kỳ quái, y cũng không giải được.

Cầu người không được đành phải cầu mình, ta ngưng khí định thả nguyên thần ra khỏi cơ thể, nhưng chẳng ngờ pháp thuật không chỉ khóa thân xác mà còn khóa luôn nguyên thần, ta giãy giụa cũng vô dụng mà thôi. Trong làn nước mắt mờ mịt, luồng ánh sáng bạc quanh chuông Đông Hoàng cũng dần dần tản đi, sấm rền chớp giật khi Dạ Hoa và Kình Thương đấu phép thuật dội thẳng lên trời. Thổ địa tạo một tiên chướng nho nhỏ bên cạnh chúng ta, để phòng ta bị chướng khí làm bị thương.

Pháp khí mà Dạ Hoa dùng để trói ta rất ghê gớm, ta mồ hôi đầm đìa mới giải được định thân chú, nhưng không làm sao thoát ra khỏi pháp khí này.

Giữa trời đất tối sầm, thổ địa nói với ta: “Cô cô, nơi này vẫn hơi nguy hiểm, tiên chướng của tiểu tiên không biết cầm cự được bao lâu, hay là chuyển chỗ đi”.

Ta nghe thấy giọng mình trở nên xa xăm: “Ngươi đi đi, ta ở đây cùng Dạ Hoa”.

Lúc này tuy ta bị trói, chỉ là đồ bỏ đi, chẳng giúp được Dạ Hoa, cho dù như thế, ta cũng muốn bên chàng, nhìn thấy chàng.

Ta chưa bao giờ nhìn thấy Dạ Hoa cầm kiếm, không ngờ chàng cầm kiếm lại có dáng vẻ này.

Nghe nói kiếm thuật của Dạ Hoa rất khá, cây kiếm trong tay chàng tên là Thanh Minh, đám tiểu tiên hâm mộ chàng tán tụng là “Thanh Minh vừa rút, chín châu hãi hùng”. Mới đầu nghe thấy, cảm thấy đó chỉ là lời khen ngợi sáo rỗng của đám tiểu bối, hôm nay chứng kiến hoa kiếm bay lượn do kiếm Thanh Minh tỏa ra, chín châu hãi hùng thực ra cũng hơi khoa trương, nhưng bóng kiếm quả khiến người ta hoa mắt, từng nhát từng nhát đều phát ra sấm sét, khiến mắt ta cay xè.

Hai người họ đánh rất kịch liệt, ta đứng quá cao, không thể nhìn rõ là ai đang giành phần thắng. Nhưng ta biết Dạ Hoa sẽ không cầm cự được lâu, ta chỉ mong chàng cầm cự được đến lúc Chiết Nhan tới, hay là đến lúc đám thiên binh thiên tướng vô dụng do ông nội chàng cử tới cũng được.

Bến Nhược Thủy cát bụi mịt mù, đất đá tung tóe. Bỗng nghe thấy Kình Thương cười dài ba tiếng, sau đó lại ho một trận, chậm rãi nói: “Hôm nay bại dưới tay ngươi, ta không phục. Nếu không phải vết thương năm trăm năm trước chưa khỏi, hôm nay ra khỏi chuông đã rất mất sức, thì tuyệt đối ta không thể thua một thằng nhãi như ngươi”.

Đám khói bụi vần vũ đã tan đi, Dạ Hoa chống kiếm xuống đất, một đầu gối nửa quỳ xuống mặt đất, nói: “Rốt cuộc ngươi vẫn bại”.

Trái tim treo lơ lửng của ta đã lắng xuống, ta run run nói với thổ địa: “Phía dưới ổn rồi, ngươi mau đưa ta xuống dưới…”.

Lúc thổ địa cuống quýt giải tiên chướng, chuông Đông Hoàng bỗng phát ra một luồng sáng màu đỏ như máu. Ta sửng sốt, Kình Thương chưa bại sao? Hắn đã thua rồi, vậy cớ sao chuông Đông Hoàng còn có thể mở ra?

Dạ Hoa cũng ngẩng phắt đầu, trầm giọng nói: “Ngươi đã làm gì trên chuông?”.

Kình Thương nằm trên mặt đất, yếu ớt đáp: “Ngươi muốn biết ư, tại sao ta chẳng chạm tới chuông Đông Hoàng, mà nó vẫn có thể mở ra ư, ha ha, chẳng qua ta dùng thời gian bảy vạn năm, phí bao tâm sức, đã hợp nhất tính mạng của ta với nó. Nếu ta chết đi, chuông Đông Hoàng sẽ tự mở. Xem ra ta cũng sắp chết rồi, không biết chôn cùng ta, là tên nhãi ranh nhà ngươi, hay là chúng tiên của tám cõi…”.

Hắn còn chưa dứt lời, mắt ta đã nhìn thấy Dạ Hoa lao vào đám lửa đỏ đó.

Là tiếng kêu xé gan xé phổi của ai: “Không!”.

Không, không thể? Hay là không cần, không được? Chuông Đông Hoàng mở ra thì sao, chúng thần của tám cõi bị tận diệt thì sao, chung quy hai chúng ta vẫn ở một chỗ, thiêu thành tro thì cũng chung một nắm tro, sao chàng, sao chàng có thể bỏ lại ta một mình chứ?

Khi Dạ Hoa lao vào đám lửa hừng hực như đóa sen đỏ của chuông Đông Hoàng, pháp khí khóa chân tay ta bỗng tan biến. Đúng rồi, nếu chủ nhân của pháp khí tu vi tiêu tan, thì pháp khí này sẽ tự nhiên không trói được người ta nữa.

Đám lửa như đóa sen đỏ đó đã cháy đỏ cả một nửa trời, bến Nhược Thủy quỷ khí âm u, ta dốc tu vi toàn thân trút vào quạt Côn Luân bắn về phía chuông Đông Hoàng. Chiếc chuông lắc một cái, trong ánh sáng màu đỏ đó, ta không tìm thấy bóng dáng Dạ Hoa.

Dường như những tiếng của ác hồn quỷ phách truyền đến, âm thanh đó dần dần tụ lại, giống như thiên binh vạn mã rầm rập lao tới, ầm – tiếng kêu bi thảm của chuông Đông Hoàng.

Ánh sáng đỏ lóe lên, rồi tắt ngấm. Một bóng người màu đen từ đỉnh chuông Đông Hoàng ngã xuống.

Ta lật đật chạy qua đón lấy chàng, bước được hai bước lại ngã nháo nhào xuống đất. Khuôn mặt chàng trắng bệch, khóe miệng còn rỉ máu, dựa vào vai ta, ánh mắt tối sầm. Chiếc áo bào màu đen đã nhuộm máu tươi, nhưng vì là màu đen, nên không nhận ra chàng toàn thân đẫm máu.

Chiết Nhan nói: “Ta luôn cảm thấy Dạ Hoa lúc nào cũng mặc đồ đen rất kỳ lạ, lần đó uống rượu với hắn, ta mới hỏi, ta cứ tưởng hắn thích nhất màu này, nhưng hắn nâng chén rượu hồi lâu, lại chỉ nói đùa với ta rằng, màu này không đẹp, nhưng rất thực dụng, ví dụ một hôm nào đó ngươi bị chém một nhát, máu thấm ra áo, cũng không biết là vệt máu, chỉ cho rằng ngươi bị va vào thau nước, bị nước hắt lên người, chứ không nhận ra ngươi bị thương, người lo lắng cho ngươi sẽ không đau lòng, kẻ thù của ngươi cũng không thể vì chém được ngươi mà thấy sung sướng”. Lúc Chiết Nhan kể cho ta, ta còn vui mừng vì cuối cùng Dạ Hoa đã biết bông đùa. Nhưng đến hôm nay, ta mới biết, những gì chàng nói là những điều chàng đã trải qua.

Ba trăm năm trước, khi ta hóa thành Tố Tố ngây ngô vô tri, tự cho rằng mình yêu chàng như máu thịt; đến khi mất đi hồi ức, chỉ là Bạch Thiển của Thanh Khâu, khi chàng nói yêu ta, dần dần khiến ta rung động trước chàng, cũng ngỡ rằng đó là yêu rất chân thành. Ta không thể tha thứ cho chàng năm đó đã không rõ trắng đen mà móc đôi mắt của ta, ép ta phải nhảy xuống Tru Tiên đài; không thể tha thứ bây giờ chàng luôn nói yêu ta, nhưng chẳng qua chỉ là món nợ năm xưa chàng nợ ta, nên cảm thấy hổ thẹn; không thể tha thứ cho chàng từ đầu chí cuối, chưa bao giờ hiểu ta. Nói cho cùng, Bạch Thiển ta sống ngần này tuổi, trong tình yêu lại ích kỷ đến mức vô lý, chấp nhặt dù chỉ là điều nhỏ nhặt nhất. Nhưng kiếp trước kiếp này, ta liên tiếp hai lần gặp đúng chàng, hai lần đều yêu chàng sâu đậm, bây giờ nhớ lại, ta cũng chưa từng hiểu chàng.

Ví dụ như tại sao chàng luôn vận đồ đen. Hóa ra không phải vì thích màu đen, mà vì không muốn người lo lắng cho chàng phải lo lắng, không muốn lộ vẻ yếu đuối trước mặt kẻ thù. Ta đã quên rằng, chàng luôn là người cắn răng chịu đựng và nuốt máu vào trong. Bảy vạn năm trước, khi Mặc Uyên dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, máu trong miệng nôn ra nhiều gấp trăm lần so với vệt máu rỉ ra từ khóe miệng chàng. Tu vi của chàng thua xa Mặc Uyên khi ấy, vậy số máu đáng nhẽ nhiều gấp trăm lần ấy đã đi đâu?

Ta cúi đầu cắn mạnh vào bờ môi chàng, hoàn toàn không chú ý đến cơ thể chàng khẽ run lên, chỉ cố dùng đầu lưỡi tách răng chàng ra, cố gắng tiến vào trong khoang miệng chàng, có thể cảm thấy thứ gì đó vừa nóng vừa tanh đang men theo khe hở do hai miệng áp vào nhau của ta và chàng ào ạt chảy ra, đôi mắt chàng càng lúc càng tối đen.

Ta cùng Dạ Hoa, trong kiếp này ta là Bạch Thiển, một tháng yêu nhau trên Cửu Trùng Thiên, lúc thân mật nhất chẳng qua cũng chỉ vài đêm.

Dạ Hoa đẩy ta ra, ho rũ rượi, ho ra từng ngụm từng ngụm máu lớn, máu đập vào mắt ta khiến mắt ta hoa lên. Cánh tay đẩy ta đã dùng hết sức tàn, chàng ngã dúi dụi trên đất, lồng ngực không ngừng phập phồng, nhưng không nhúc nhích nổi.

Ta bò qua ôm lấy chàng: “Chàng lại định nuốt máu vào ruột ư? Bây giờ chàng bao nhiêu tuổi, chàng yếu đuối thế nào, thiếp cũng không thất vọng gì cả”.

Khó khăn lắm chàng mới thôi ho, muốn giơ tay lên, nhưng không giơ nổi, rõ ràng đến nói cũng khó khăn, lại còn tỏ vẻ không sao, bình thản nói: “Ta không sao, vết thương này không sao đâu. Nàng, nàng đừng khóc”.

Ta ôm chàng bằng cả hai tay, không thể đưa tay sờ lên mặt chàng, chỉ có thể nhìn vào mắt chàng: “Dùng nguyên thần để tế chuông Đông Hoàng, ngoài Mặc Uyên ra, thiếp chưa từng thấy ai thoát khỏi số mệnh phải tan thành tro bụi, cho dù là Mặc Uyên, cũng phải ngủ bảy vạn năm. Dạ Hoa, chàng không lừa được thiếp đâu, chàng sắp chết, đúng không?”.

Cơ thể chàng cứng lại, nhắm nghiền mắt, nói: “Ta nghe nói Mặc Uyên tỉnh lại rồi, nàng hãy ở bên Mặc Uyên, người sẽ chăm sóc nàng thật tốt, còn tốt hơn ta nhiều lần, ta rất an tâm. Nàng hãy quên ta đi”.

Ta lặng người nhìn chàng.

Khoảnh khắc ấy dài như triệu năm, chàng trợn mắt, thở dốc nói: “Ta chết cũng không thể nói những lời này, cả đời ta chỉ yêu mình nàng, Thiển Thiển, nàng mãi mãi không thể quên ta, nếu nàng dám quên ta, nếu nàng dám…”. Giọng nói dần dần trầm xuống, rồi lại khẽ vang lên, “Ta biết làm thế nào?”.

Ta ghé sát tai chàng nói: “Chàng không được chết, chàng cố cầm cự một lát, thiếp đưa chàng đến tìm Mặc Uyên, người tất có cách”. Cơ thể chàng từ từ chùng xuống.

Ta ghé sát tai chàng gào lên: “Nếu chàng dám chết, thiếp lập tức đến tìm Chiết Nhan xin thuốc, thiếp sẽ quên hẳn chàng, một chút cũng không nhớ. Thiếp sẽ cùng Mặc Uyên, Chiết Nhan còn cả tứ ca sống vui vẻ, mãi mãi không thèm nhớ đến chàng”.

Cơ thể chàng run lên một cái, mỉm cười, nói: “Thế cũng tốt”.

Kiếp này, câu nói cuối cùng chàng nói với ta là, “Thế cũng tốt”.

Chương 23: Chàng là bài ca bất tận của ta

Ta ngồi nghe kịch trong một tòa lầu ở trần gian. Dạ Hoa đã rời xa ta tròn ba năm. Ba năm trước, trận chiến Nhược Thủy, Kình Thương chết, Dạ Hoa dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, hồn bay phách tán. Quạt Ngọc Thanh Côn Luân nhận một nửa tiên lực của ta, đã bắn về phía chuông Đông Hoàng một cái rất mạnh, khiến chuông kêu rền rĩ bảy ngày trời.

Chiết Nhan nói, khi lão đến, Dạ Hoa đã tắt thở lâu rồi, toàn thân ta đẫm máu, đầu tóc rối bù ôm chàng ngồi dưới chân chuông, quanh người tạo một đạo tiên chướng dày đặc, không ai lại gần được. Chuông Đông Hoàng kêu rền rĩ bảy ngày, khiến chúng thần ở tám cõi tề tựu bên Nhược Thủy. Thiên Quân phái mười bốn vị tiên bá đến mang tiên thể của Dạ Hoa đi, mười bốn tiên bá đứng bên ngoài đánh ra sấm sét suốt bảy ngày bảy đêm cũng không thể làm tiên chướng kia nứt ra một kẽ hở.

Chiết Nhan nói, ta còn tưởng ngươi ôm Dạ Hoa ngồi ở bến Nhược Thủy suốt đời, may mà tiếng chuông Đông Hoàng vang xa, quấy rầy sự thanh tu của Mặc Uyên, ngày thứ tám đã kéo Mặc Uyên tới.

Những gì lão nói ta không nhớ gì cả. Khi đó, ta chỉ cảm thấy Dạ Hoa chàng chết rồi, ta cũng chết theo. Thực ra ôm chàng ngồi cả đời bên Nhược Thủy cũng không tồi. Cho dù chàng không thể mở mắt lại, cũng không thể nhếch miệng cười lạnh lùng, cũng không thể ghé sát tai ta gọi tên ta, cũng không thể… nhưng chí ít ta còn có thể ngắm khuôn mặt chàng, ta biết rằng chàng ở bên cạnh ta.

Chiết Nhan nói, Mặc Uyên tới vào ngày thứ tám. Người tới lúc nào ta cũng không hay, trong lúc mông lung có lẽ có ấn tượng, khi đó ta ngồi dưới chân chuông Đông Hoàng, đầu óc trống rỗng, không biết gì hết, trong nháy mắt lại nhìn thấy Mặc Uyên đứng ngoài tiên chướng, cau mày nhìn ta.

Trái tim đã khô héo của ta hơi hơi có tri giác, mới biết rằng mình còn sống, Dạ Hoa đã tế sống nguyên thần, hồn phách tiêu tan, Dạ Hoa, chàng đã chết rồi. Ta nhìn thấy Mặc Uyên ở rất gần, cảm thấy có lẽ Mặc Uyên có cách cứu Dạ Hoa, năm đó người cũng trải qua kiếp nạn chuông Đông Hoàng, cuối cùng cũng trở về. Ta cảm thấy chỉ cần có thể cứu được Dạ Hoa, chỉ cần có thể khiến chàng lại gọi ta một tiếng Thiển Thiển, đừng nói bảy vạn năm bảy mươi vạn năm ta cũng vui vẻ chờ.

Ta dẹp bỏ tiên chướng, định ôm Dạ Hoa quỳ dưới chân Mặc Uyên cầu xin người cứu Dạ Hoa, muốn đứng dậy mà toàn thân không có sức. Mặc Uyên bước nhanh đến, nhìn kỹ một lúc lâu, rồi thở dài nói: “Chuẩn bị một cỗ áo quan, để Dạ Hoa an nghỉ”.

Mặc Uyên quay về Côn Luân, ta đưa Dạ Hoa về Thanh Khâu, mười bốn tiên bá cũng đuổi theo sau. Ta cảm thấy Dạ Hoa chàng là của ta, ta không thể giao chàng cho bất cứ ai. Một hàng tiên bá đứng chờ ở cửa cốc nửa tháng, không lập được công lao mà phải quay về Cửu Trùng Thiên đợi lệnh.

Ngày hôm sau, cha mẹ của Dạ Hoa đến Thanh Khâu.

Người mẹ có khuôn mặt dịu dàng, đôn hậu của chàng tức đến toàn thân run rẩy, cầm chiếc khăn thêu ướt đẫm lên lau mắt, nói: “Hôm nay ta mới biết ngươi chính là kẻ phàm trần tên Tố Tố khi xưa, con trai Dạ Hoa của ta đã gây nên tội nghiệt gì, mà trước sau hai lần đều gặp phải ngươi. Khi ngươi là Tố Tố, nó hết lòng vì ngươi, vì ngươi mà sẵn sàng bỏ ngôi vị thái tử. Món nợ giữa ngươi và công chúa Chiêu Nhân, Thiên Quân xử ngươi phải trả nàng đôi mắt, phán ngươi sau khi sinh A Ly ba tháng phải chịu hình phạt sét đánh, chẳng qua ngươi chỉ mất đi đôi mắt mà thôi, con trai ta đã thay ngươi chịu hình phạt, ngươi lại sống chết nhảy xuống Tru Tiên đài. Được, ngươi nhảy rồi, con trai ta cũng nhảy theo ngươi. Đó là kiếp nạn ngươi được thăng làm thượng thần, còn Dạ Hoa ư, nhảy xuống Tru Tiên đài, ngủ vùi suốt hơn sáu mươi năm. Bây giờ ba trăm năm sau, lại vì ngươi, vì ngươi mà tan thành tro bụi. Con trai ta từ khi gặp ngươi không được sống một giờ vui vẻ. Nó vì ngươi làm bao nhiêu việc, còn ngươi đã làm gì cho nó? Ngươi chẳng làm gì hết, giờ lại ngang nhiên chiếm lấy nó. Giờ nó đã chết rồi, đến thi thể của nó ngươi cũng chiếm ư? Ta chỉ hỏi ngươi, ta chỉ hỏi ngươi một câu, ngươi dựa vào cái gì?”.

Cổ họng ta đắng chát, loạng choạng lùi lại phía sau hai bước, Mê Cốc liền giơ tay đỡ ta. Cha Dạ Hoa đứng bên cạnh nói: “Đủ rồi”. Rồi lại quay lại nói với ta, “Tiểu nhi giết Kình Thương, dùng nguyên thần để ngăn chuông Đông Hoàng hủy diệt chư thiên, đã chết vì nghĩa lớn, Thiên Quân đã có truy phong. Những lời của Nhạc Tế đều là đàn bà nông cạn, thượng thần chớ nên để bụng. Nhưng thi thể của tiểu nhi, thượng thần nên trả lại. Thượng thần tuy có hôn ước với tiểu nhi, nhưng vẫn chưa kết hôn, chiếm giữ thi thể của tiểu nhi, về tình về lý đều không được. Tiểu nhi khi còn sống là thái tử của Thiên tộc, Thiên Đình có những quy định không thể thay đổi, như tiểu nhi đây, sẽ được chôn ở biển Vô Vọng tại tầng trời thứ ba mươi sáu, mong thượng thần tác thành”.

Ngày Dạ Hoa bị đưa về Cửu Trùng Thiên là một ngày u ám, gió thổi hiu hiu.

Ta hôn khắp hàng mi, đôi mắt, gò má, sống mũi chàng, khi chuyển đến môi chàng, trong lòng bỗng nảy sinh một suy nghĩ cực kỳ hoang đường, hy vọng chàng có thể tỉnh lại, có thể ghì lấy trán ta nói: “Chẳng qua ta đùa với nàng thôi”. Nhưng rốt cuộc chỉ là vọng tưởng ngốc nghếch của ta mà thôi.

Dạ Hoa được cha mẹ chàng đặt trong cỗ quan tài bằng băng, đưa qua mặt ta, rời khỏi Thanh Khâu. Ta chỉ giữ lại bộ áo bào đen nhuộm đầy máu của chàng.

Trước đây Chiết Nhan từng cho ta một cây đào. Ta trồng nó ở trước cửa động Hồ Ly, ngày ngày tưới nước bón phân, không lâu sau cành lá đã sum suê. Ngày cây đào nở đóa hoa đầu tiên, ta đem bộ áo bào của Dạ Hoa đặt vào quan tài, chôn dưới gốc đào, làm một nấm mồ áo mũ, không biết khi cây đào này thắm sắc đầy cành, nó sẽ như thế nào.

Mê Cốc nói: “Cô cô, người vẫn nhớ người còn một đứa con trai chứ, có đón tiểu điện hạ về Thanh Khâu không?”.

Ta xua xua tay. Đương nhiên ta vẫn nhớ mình còn một đứa con trai, ta đặt tên cho nó là A Ly. Nhưng đến bản thân ta còn chẳng chăm sóc nổi, huống hồ là A Ly. Để nó trên trời nó sẽ được chăm sóc tốt hơn.

Sau khi Dạ Hoa bị cha mẹ chàng đưa đi, ta ngồi thừ dưới gốc đào nửa tháng, cả ngày ngẩn ngẩn ngơ ngơ, bóng hình chàng hiện ra trước mắt, đều là toàn thân áo đen, máu tóc xõa ra dịu dàng, đuôi tóc buộc một dải lụa, hoặc là dựa vào đầu gối ta lật sách, hoặc là ngồi trước mặt ta vẽ mấy bức tranh, khi Thủy Quân làm mưa, còn ôm ta vào lòng, che mưa cho ta. Nửa tháng ngồi thừ ở dưới gốc đào này, ta cảm thấy Dạ Hoa luôn luôn bên ta, ta rất hạnh phúc.

Ta cảm thấy vô cùng hạnh phúc, nhưng Chiết Nhan, tứ ca đến cả Mê Cốc, Tất Phương, bốn người đều không hạnh phúc như ta. Đêm thứ mười sáu, tứ ca cuối cùng không chịu được đã lôi ta vào trong động, đưa gương cho ta soi, giận dữ quát: “Muội xem muội đã thành cái gì thế này, Dạ Hoa chết rồi, muội không sống nổi sao?”.

Tứ ca nói không sai, ta cảm thấy mình sống không nổi. Nhưng ta không biết mình tan thành tro bụi có chắc chắn tìm được Dạ Hoa hay không. Tan thành tro bụi, có lẽ chẳng còn gì hết, quay về với đất mẹ mà thôi. Nếu ta tan thành tro bụi, nói không chừng chẳng còn nhớ Dạ Hoa, vậy chẳng phải tan thành tro bụi càng tốt hay sao, bây giờ ta còn có thể lúc nào cũng nhìn thấy chàng cười với ta, như vậy tốt biết bao.

Nữ thần trong gương khuôn mặt trắng bệch, hình dung tiều tụy, hai mắt buộc một dải lụa dày, trên dải lụa còn vương mấy chiếc lá. Dải lụa này không giống với dải lụa ta buộc mọi khi. Đầu óc chậm chạp suy nghĩ, a, tháng trước Chiết Nhan đã thay mắt cho ta, dải lụa này là dải lụa có thuốc của lão, không giống với dải lụa cha làm cho ta.

Tứ ca thở dài một tiếng, trầm giọng nói: “Tỉnh lại đi, muội đã sống ngần này tuổi, sinh ly tử biệt, còn nhìn không thấu hay sao?”.

Không phải là nhìn không thấu, mà chỉ là không biết làm thế nào để nhìn thấu. Nếu như ta biết phải làm thế nào, có lẽ đã có thể nhìn thấu rồi. Đêm đó uống say, đánh vỡ đèn Kết Phách, khiến ta nhớ ra những chuyện ba trăm năm trước, không biểu vì sao lại không nhớ ra những điểm tốt của Dạ Hoa, mà chỉ nhớ ra những điểm không tốt của chàng. Còn giờ đây, Dạ Hoa ra đi rồi, nhưng lại chẳng nhớ ra được những điểm không tốt của chàng, trong đầu toàn là những điểm tốt của chàng. Trước đây ta mắng Ly Kính thậm tệ, nói hắn cả đời chỉ theo đuổi những thứ chưa đạt được, hễ chiếm được rồi thì không còn trân trọng. Chẳng phải ta cũng thế sao.

Sông dài trăng tròn, đêm khuya người vắng. Không việc để làm, chỉ có thể ngủ.

Vốn dĩ ta không nghĩ rằng có thể gặp Dạ Hoa trong mộng, trong giấc mộng này, ta lại gặp được chàng.

Chàng ngồi duyệt công văn sau một chiếc bàn, rất lâu sau, mới dẹp đống công văn sang một bên, hơi cau mày nhấp một ngụm trà, đặt chén trà xuống, ngẩng đầu cười rạng rỡ: “Thiển Thiển, qua đây, kể cho ta nghe hôm nay nàng đọc được truyện gì nào”.

Ta chìm trong giấc mộng không muốn tỉnh lại. Đây đúng là ân đức ông trời ban cho ta. Khi ta ngồi thừ dưới gốc cây đào, ảo ảnh đó chưa từng nói với ta, còn Dạ Hoa trong mộng, lại không khác gì khi còn sống, không chỉ cùng ta đi dạo, đánh cờ, mà còn nói chuyện với ta.

Từ đó về sau, ngày ngày ta đều có thể mơ thấy chàng. Ta cảm thấy ngủ đúng là một hoạt động bổ ích.

Thực ra ở một góc độ khác mà nghĩ, thì cũng đúng thôi. Trần gian có điển tích “Trang Chu mộng điệp”, nói một người phàm tên là Trang Chu mơ thấy mình biến thành một con bướm, vỗ cánh bay đi rất vui vẻ. Không lâu sau tỉnh lại, mới phát hiện mình vẫn là Trang Chu. Không biết là Trang Chu nằm mơ hóa bướm, hay là bướm nằm mơ hóa Trang Chu. Trước đây ta sống qua ngày một cách đơn giản, coi mộng cảnh chỉ là hư ảo, còn giờ nó lại khiến ta đau khổ tột cùng, không được như người đó, biến mộng cảnh thành hiện thực, biến hiện thực thành hư ảo. Cuộc đời vẫn như thế, chẳng qua chỉ thay đổi cách sống mà thôi, lại có thể khiến ta vui vẻ hạnh phúc. Đâu cũng là một cách nhìn thấu.

Chiết Nhan và tứ ca thấy ta thần sắc dần dần tốt lên, chỉ là gần đây luôn thèm ngủ thôi, nên không thường xuyên trông coi ta nữa, có lẽ họ cũng an tâm phần nào rồi.

Cửu Trùng Thiên không có tin tức gì của tân thái tử, chỉ nghe nói công chúa Chiêu Nhân vĩnh viễn bị đuổi khỏi Tiên tộc. Vì khi chuông Đông Hoàng có rung động khác lạ, nàng ta thân là tiên nga canh chuông, lại không làm trọn chức trách, kịp thời báo lên Thiên Đình. Nàng ta không làm tròn chức trách đã gián tiếp để thái tử Dạ Hoa một mình chiến đấu với Kình Thương không người chi viện, phải dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, hồn bay phách tán. Thiên Quân đau đớn vì mất cháu, giận dữ lôi đình, lập tức biếm nàng ta khỏi Cửu Trùng Thiên, liệt vào hàng luân hồi lục đạo, muôn đời chịu tình kiếp.

Ta cảm thấy Thiên Quân trừng phạt Tố Cẩm cũng hơi quá, có lẽ là giận cá chém thớt. Nhưng chuyện này chẳng liên quan gì tới ta, nên cũng chỉ coi đó là chuyện phiếm nghe chơi mà thôi.

Đổi một vai khác để đi trên con đường đời này, ta vẫn sống rất ổn. Ta tin rằng, Dạ Hoa vẫn sống trên đời này.

Lúc đầu làm cho chàng một nấm mồ mũ áo là điều ta không muốn nhìn thấy nhất. Vì lúc nào nó cũng nhắc nhở ta, tất cả đều do mi tự đặt ra mà thôi, Dạ Hoa chết rồi, chàng đã chết rồi. Ta cảm thấy nơi đó là nơi đáng sợ nhất, nhưng lại không nhẫn tâm sai Mê Cốc đào nấm mồ mũ áo đó lên. Đành sang ở một động khác trong động Hồ Ly.

Khi rảnh rỗi tứ ca thường dẫn ta xuống phàm trần du ngoạn, để ta khuây khỏa, nhân thể cũng để lòng huynh ấy khuây khỏa. Lúc chơi trên núi, huynh ấy sẽ nói: “Muội nhìn ngọn núi cao chọc trời này, đứng trên đỉnh núi nhìn xuống, thế gian này nhỏ bé biết bao, nhưng cũng không thể trong phút chốc khiến muội to lớn hơn phải không? Không thể khiến muội cảm thấy nỗi đau ái tình của nhi nữ chỉ là mây bay ngang trời, hễ xua tay là tan đi sao?”. Lúc chơi trên sông biển, huynh ấy sẽ nói: “Muội nhìn dòng thác chảy như bay kia xem, đổ vào sông lớn, chẳng kể ngày đêm, chưa từng quay đầu. Muội nhìn dòng thác này, chẳng phải cảm thấy đời người cũng như vậy, không thể quay đầu, luôn luôn phải nhìn về phía trước sao?”. Lúc dạo chơi ở chợ, huynh ấy sẽ nói, “Muội nhìn đám người phàm trần như kiến này xem, có thể sống trên đời không quá trăm năm, huống hồ còn bị Ti Mệnh sắp đặt biết bao khốn khổ, người làm ruộng thì cả đời nghèo khổ, người đọc sách thì chí không được vẫy vùng, khuê nữ thì lại gả cho những gã chồng khốn nạn, nhưng họ vẫn vui vẻ mà sống. Muội nhìn những người phàm trần đó, không phải cảm thấy mình vẫn sống tốt hơn họ nhiều sao?”.

Ban đầu ta còn lắng nghe, về sau huynh ấy càng nói nhiều, mỗi lần đều nói này nói kia, ta mặc kệ huynh ấy lải nhải, chỉ đến phàm trần có một mình.

Ngày mùng ba tháng chín ba năm sau khi Dạ Hoa ra đi, ta ở phàm trần nghe kịch, gặp được một tiểu thần tiên tên là Chức Việt trên núi Phương Hồ. Ở trần gian nghe kịch thì phải tuân theo lệ của trần gian, cảm thấy diễn viên hát hay là phải tung tiền thưởng lên sân khấu, cũng coi như không phụ sự ân cần của kép hát.

Tiểu tiên Chức Việt có lẽ là lần đầu xuống trần gian xem kịch, thấy cảnh mọi người tung tiền rất sôi nổi, cũng muốn tung, nhưng hai ống tay áo lại trống không. Nàng ta vừa nhìn đã nhận ra tiên thân của ta, cười hì hì tự khai gia môn, mượn ta chút tiền để thưởng. Ta tuy cũng hơi thắc mắc sao nàng ta là tiểu thần tiên, đã có thể biến hóa, biến ra một hai xâu tiền chỉ là chuyện cỏn con, nhưng vẫn lấy mấy viên dạ mình châu đưa cho nàng ta. Sau này mới biết cha mẹ nàng ta sợ nàng ta xuống trần gian chơi gây họa, nên phải khóa tiên lực của nàng ta lại.

Vốn chỉ là cái duyên tình cờ, sau này mỗi lần xuống phàm trần xem kịch ta đều gặp nàng ta, cái duyên tình cờ này đã trở thành duyên phận lâu dài. Chức Việt nhanh nhẹn hoạt bát, lại không bám lấy ta hỏi han ta là ai, nhà ở đâu, bao nhiêu tuổi, khiến ta cảm thấy rất lạ. Nhưng khi nghe kịch có người nói chuyện, chẳng phải như tứ ca nói, “Muội nhìn những hàng chữ kịch bản nhấp nhô thò thụt này” thì cũng rất thú vị.

Cứ thế ta đã cùng nàng ta nghe mười vở kịch, nhẩm ngày cũng hai tháng có dư.

Hôm nay, ta vừa ngồi xuống nghe kịch, trên sân khấu sẽ diễn vở “Mẫu đơn đình”. Hôm nay chính là ngày mùng năm tháng mười, thích hợp cưới gả xuất hành, kỵ binh đao, ngày mà ba năm trước, Dạ Hoa đã bỏ ta mà đi. Ta nhấp một ngụm rượu, nhìn diễn viên mặc áo xanh trên sân khấu vung tay áo màu xanh múa rất đẹp mắt.

Lúc này, kịch bản sẽ hát đến câu: “Nàng đẹp như hoa như ngọc, thời gian như nước chảy, tìm kiếm bao phen, lại ở trong thâm khuê tự thương mình”, Chức Việt tiểu tiên mới lò dò đến, ngồi xuống bên cạnh ta.

Xem đến nửa chừng, nàng thì thào nói: “Nàng còn nhớ người anh họ kỳ tài, anh tuấn, tuổi trẻ bạc mệnh của ta không?”.

Ta gật đầu tỏ ý vẫn nhớ.

Tiểu tiên Chức Việt ngoài bàn về kịch với ta còn nhắc đến vị anh họ xa của mình. Theo như nàng ta nói, anh họ nàng ta anh minh thần vũ, là một nhân tài xuất chúng, nhưng thương thay mệnh lại bạc, tuổi trẻ chết nơi sa trường, ra đi để lại cha mẹ già con dại ngày đêm than khóc nhớ thương, đáng thương đáng thương. Mỗi lần nàng ta thốt ra hai tiếng “đáng thương”, trên mặt đều hiện lên vẻ bi thương vô hạn. Ta lại không cảm thấy cả nhà anh họ nàng có gì đáng thương, có lẽ gần đây ta đã nhìn thấu lẽ sinh tử.

Chức Việt rót một chén trà, uống một ngụm, nhìn quanh quất, rồi lại ghé miệng sang thì thào: “Anh họ của ta, ta đã từng kể với nàng là chết được ba năm rồi đúng không? Ba năm trước, cả tộc tưởng rằng huynh ấy chỉ còn tiên thể, nguyên thần đã tan thành tro bụi. Chúng ta làm một cỗ quan tài bằng băng đen chôn huynh ấy dưới biển, khi đó ta còn đi đưa tiễn. Hôm qua vùng biển vốn lặng sóng suốt mấy chục vạn năm bỗng dậy sóng ầm ầm, nâng cỗ quan tài bằng băng đen đó lên. Mọi người nói là nước biển dậy sóng là do tiên khí bao quanh cỗ quan tài. Nàng nói có lạ không, anh họ ta đã tiêu tan nguyên thần, lại có thể có nguồn tiên khí mạnh như vậy bảo vệ. Người trong cả tộc không ai hiểu là chuyện gì xảy ra, khi mấy đứa tiểu bối bọn ta đến, tộc trưởng đang sai một tiểu tiên đi mời một vị tôn thần trong tộc ta. Cha mẹ ta nói, không chừng anh họ ta vẫn chưa chết hẳn. À, nếu như huynh ấy chưa chết, nhóc A Ly sẽ không phải cả ngày khóc lóc nữa rồi”. Xung quanh bỗng lặng phắc như tờ, chén trà trong tay rơi xuống đất, “choang” một tiếng, ta nghe thấy tiếng mình vang lên khô khốc: “Vùng biển đó có phải là biển Vô Vọng không? Anh họ ngươi, anh họ ngươi có phải là thái tử Dạ Hoa không? Chàng là cháu trưởng của Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên – thái tử Dạ Hoa phải không?”.

Chức Việt lắp bắp ngẩn ra, đáp: “Sao, sao ngươi biết”.

Ta loạng choạng lao ra khỏi tòa lầu, khi lao ra đường mới nhớ ra lên Cửu Trùng Thiên phải cưỡi mây. Lại loạng choạng trèo lên mây, mắt vô tình lướt qua đám người phàm trần đang quỳ mọp dưới đất, mới nhớ ra mình đang đứng giữa chợ gọi mây.

Cưỡi mây đến lưng chừng trời, trời cao đất xa, phía dưới mịt mờ, đầu óc ta trống rỗng, cho dù thế nào cũng không nhớ ra đường đến Nam Thiên Môn. Càng cuống thì đầu óc càng trống rỗng, ta cưỡi mây quay đi trở về mấy lần, không biết phải làm thế nào.

Sểnh chân một cái, suýt chút nữa là rơi khỏi mây, may mà được một đôi tay giữ chặt lại. Giọng của Mặc Uyên vang lên phía sau: “Sao ngươi lại không cẩn thận như vậy, đến cưỡi mây mà cũng ngã ư?”.

Ta quay người níu chặt cổ tay người, nói: “Dạ Hoa đâu? Sư phụ, Dạ Hoa đâu?”.

Người cau mày, nói: “Lau nước mắt đi đã, ta đang tìm ngươi nói chuyện này đây”.

Mặc Uyên nói, năm xưa Phụ Thần dùng một nửa thần lực để làm tiên thai giúp Dạ Hoa đầu thai, sau khi Dạ Hoa đầu thai, thần lực đó vẫn luôn bên chàng, ẩn trong thần thức của chàng. Ba năm trước người không biết Dạ Hoa còn chém bốn con ác thú ở Doanh Châu, được một nửa thần lực còn lại của Phụ Thần, nên người mới tưởng không thể cứu chàng được. Có lẽ Dạ Hoa đem toàn bộ thần lực của Phụ Thần ra đấu với lực hủy diệt của chuông Đông Hoàng, nguyên thần bị hai lực này làm tổn hại một chút, nên mới rơi vào trạng thái ngủ say, tất cả mọi người mới tưởng chàng hồn bay phách tán, tan thành tro bụi. Đến chính bản thân Dạ Hoa, e rằng cũng nghĩ như vậy.

Mặc Uyên nói, giấc ngủ này của chàng đáng nhẽ phải kéo dài đến mấy chục năm, nhưng cỗ quan tài băng đen kia là một đồ vật tốt, biển Vô Vọng tuy là nghĩa địa của Thiên tộc, nhưng cũng là thánh địa để tu dưỡng, mới khiến Dạ Hoa chỉ mất ba năm đã tỉnh lại, thực sự bất ngờ.

Người nói những gì ta cũng không nghe thấy, chỉ chân thành lắng nghe người nói, Tiểu Thập Thất, Dạ Hoa về rồi, hắn vừa xuống Thanh Khâu tìm ngươi, ngươi mau quay về đi. Ta chưa bao giờ nghĩ rằng Dạ Hoa có thể sống lại. Tuy thầm cầu mong chàng quay về, nhưng lòng ta hiểu rõ, đó chỉ là hy vọng hão huyền. Ba năm trước chàng đã tan thành tro bụi rồi, dưới cây đào trước động Hồ Ly, còn chôn chiếc áo chàng mặc trước khi chết, chàng đã chết rồi. Khi lâm chung chàng còn bảo ta quên chàng, để ta sống tiêu dao tự tại. Nhưng, nhưng Mặc Uyên nói Dạ Hoa, chàng đã tỉnh lại, chàng không chết, chàng vẫn còn sống.

Ta cưỡi mây bay một mạch về Thanh Khâu, không cẩn thận còn ngã khỏi mây bốn lần.

Đi qua cửa cốc, ta dứt khoát hạ xuống đất, chạy thục mạng về động Hồ Ly. Một số tiểu tiên ven đường chào hỏi ta, ta cũng không hay biết, chỉ có chân tay run rẩy, sợ rằng không gặp được Dạ Hoa, sợ rằng những gì Mặc Uyên nói là lừa gạt.

Khi động Hồ Ly hiện ra trước mắt, ta gượm bước chậm lại. Đã lâu rồi không đi cổng chính, không ngờ cây đào trồng ở bên động ba năm trước đã nở hoa rực rỡ. Núi xanh xanh, cây xanh xanh, nước xanh xanh, ba năm qua, lần đầu tiên ta nhìn thấy vẻ đẹp của Thanh Khâu.

Dưới ánh sáng len qua mấy tầng mây chiếu rọi, cây hoa đào giữa non xanh nước biếc, giống như ráng chiều xán lạn sáng mãi trên Cửu Trùng Thiên.

Dưới bóng cây rực rỡ đó một thanh niên vận áo bào đen đang đứng, đang vươn người ra, những ngón tay thon dài khẽ sờ lên bia mộ trước mặt.

Giống như một giấc mơ.

Ta nín thở tiến lên hai bước, sợ động tác quá mạnh sẽ khiến cho cảnh tượng trước mặt biến mất.

Chàng quay đầu lại, gió nhẹ vờn qua, ráng chiều trên cây nhấp nhô như những làn sóng biển màu đỏ. Chàng mỉm cười, vẫn như dáng vẻ lần đầu gặp mặt, mày mắt như tranh vẽ, mái tóc đen nhánh. Trong sóng biển màu, vài cánh hoa đào chao liệng, giữa trời đất không có màu sắc nào khác, cũng không có âm thanh nào khác.

Chàng giơ tay, khẽ gọi: “Thiển Thiển, qua đây”.

HẾT CHÍNH VĂN.

Chương 24: Ngoại truyện 1: Dạ Hoa

Năm đó, hoa sen nở rực rỡ trên Dao Trì mênh mông. Người con gái chàng yêu đã dứt khoát nhảy xuống Tru Tiên đài ngay trước mặt chàng.

Lại hai nghìn năm nữa vội vã trôi qua, chàng đã năm nghìn tuổi.

Trên Cửu Trùng Thiên có hàng ngàn hàng vạn quy củ. Trong đó có một điều, là các linh vật sinh ra không phải là tiên thai nhưng lại có cơ duyên được xếp vào hàng thần tiên, thì phải rũ bỏ thất tình, diệt trừ lục dục, mới có thể làm thần tiên tiêu dao tự tại mãi mãi trên Thiên Đình. Còn nếu làm trái với điều này, thì sẽ bị đẩy vào cõi luân hồi, mãi mãi không thể thăng tiên.

Yêu tinh người phàm tu hành vốn không dễ dàng, hễ đắc đạo thăng tiên đều nghiêm chỉnh chấp hành quy củ này, không có ai dám mang theo tình cảm hồng trần đến ảo giới Tam Thanh, sống theo nề nếp. Trong những người sống theo nề nếp đó, có những người đã trở thành người đứng đầu của một phái thần tiên. Người đứng đầu này có tầm nhìn rất cao xa xét về mặt quy củ, nhưng chính người đứng đầu này cũng phải thừa nhận, xét đến nghiêm trang đường hoàng khi làm việc, lạnh lùng trịnh trọng khi làm người, trong suốt ba mươi sáu tầng trời không có ai có thể sánh với thái tử Dạ Hoa còn chưa tròn năm vạn tuổi.

Tam thúc Liên Tống của chàng tìm chàng uống rượu, thỉnh thoảng lại đùa với chàng đôi câu, có lần chủ đề trong bữa rượu là sự tròn khuyết của vầng trăng dưới chân Cửu Trùng Thiên, từ trăng tròn trăng khuyết mà lan sang cả đời người tròn khuyết, Liên Tống bị chặn họng, muốn giữ thể thiện, nên nửa cười nửa không vỗ vỗ vai chàng, nói: “Cháu ấy, đời mình còn chưa viên mãn, lại nói với ta thế nào là viên mãn, chẳng khác gì đánh trận trên giấy cả”.

Chàng xoay xoay chén rượu, hỏi: “Đời cháu không viên mãn như thế nào?”.

Liên Tống lập tức, ra vẻ từng trải, rầu rĩ nói: “ Đêm đến xem sao trên đài Quan Tinh, nhờ đôi mắt có thể biết được trăng đầy hay vơi. Lướt qua bên ngoài huyễn cảnh Tam Thanh, nếm mùi tình ái mới biết được thế nào là sự tròn khuyết của đời người”.

Liên Tống nói như thế, chàng nghe như vậy, nghe xong chỉ cười nhạt một tiếng, không coi là thật. Chàng chưa bao giờ cảm thấy tình ái lại là thứ lớn lao.

Sau cuộc rượu này, cuối tháng bảy, Thiên Quân lệnh cho chàng xuống hạ giới hàng phục một con Xích Viêm Kim Nghê Thú(45) sinh ra ở Đông Hoang. Nghe nói Kim Nghê Thú này mười năm trước từ Nam Hoang chạy đến nước Trung Dung ở Đông Hoang, tàn bạo không biết sợ ai, khiến cho nước Trung Dung mười năm đại hạn, ngàn dặm khô héo, con dân cả nước gian nan phiêu bạt. Quốc quân Trung Dung là một vị vua nhân từ hiếm có, nhưng đã mười năm nay, Kim Nghê Thú si mê vợ của Quốc quân, không thèm hỏi một tiếng mà bắt vương hậu về động, làm nhục nàng. Quốc quân nước Trung Dung đánh không lại chàng, giận dữ thắt cổ, âm hồn bay đến U Minh Ti, tố cáo hết thảy tội ác của Kim Nghê Thú.

Tên tuổi của Xích Viêm Kim Nghê Thú tuy không hơn các thần thú từ thời thượng cổ như Thao Thiết, Cùng Kỳ, nhưng cũng không hề thua kém chúng. Thiên Quân lệnh cho một mình Dạ Hoa xuống hạ giới thu phục con súc sinh này, cũng có ý tôi luyện chàng làm người kế thừa.

Chàng và Kim Nghê Thú đánh nhau một trận bảy ngày ở nước Trung Dung, giữa lúc trời đất quay cuồng, tuy chàng đã chém đứt đầu con ác thú này nhưng vì sức cùng lực kiệt cũng phải hiện nguyên hình. Nguyên hình của chàng vốn là một con rồng đen uy phong lẫm liệt, chàng cảm thấy như vậy phô trương quá, nên đã thu nhỏ bằng một con rắn, tìm được một sơn động tầm thường trên núi Tuấn Tật bên cạnh. Trên núi Tuấn Tật, nơi nơi đều là hoa đào, đang đúng mùa hoa rộ, chàng ngồi trong động lạnh lùng dò xét một lượt, rồi mới thong thả nhắm mắt ngủ.

Giấc ngủ đó rất ngon. Không biết ngủ mấy ngày liền mới tỉnh, khi mở mắt ra chàng phát hiện nơi mình nằm không phải trong sơn động ẩm ướt nữa, mà hình như là trong một mái nhà tranh của người phàm trần. Gian nhà tranh xiêu xiêu vẹo vẹo như chực đổ, rất ăn nhập với cánh cửa gỗ nho nhỏ còn xiêu xiêu vẹo vẹo hơn, khiến người ta không khỏi cảm thấy, chỉ cần đẩy nhẹ cánh cửa ấy là cả căn nhà tranh lập tức đổ sụp xuống.

Gió đồng nội bên ngoài nhà thổi vào, lẫn trong đó là tiếng lá cây xào xạc, cánh cửa gỗ cũng mở ra. Đầu tiên là một đôi hài, sau đó là một bóng người áo trắng, và cuối cùng là gương mặt của người con gái ấy.

Sự cẩn trọng vững vàng đã tu luyện bao năm qua bỗng chốc bị chấn động ghê gớm, chàng bỗng mơ màng trong giây lát, người con gái trước mặt dáng vẻ tha thướt yểu điệu, không hiểu sao lại giống hệt bóng hình trong mơ ẩn sâu trong ký ức, một cảm xúc khó gọi tên bỗng dâng tràn, cảm giác ấy tựa như kiếp trước đã đánh mất một thứ gì mà chưa tìm thấy, sau mấy nghìn vạn năm cuối cùng chàng đã tìm ra. Nếu là Liên Tống sẽ thong thả xua xua cây quạt, nói: “Đây là động tình”. Còn Phật Tổ chắc sẽ niệm A di đà Phật: “Đây là vọng niệm”.

Có quả ắt có nhân. Điều chàng không nhớ ra là, bảy vạn năm trước Mặc Uyên dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, chàng bị một giọng nói thổn thức, vô cùng bi ai lay tỉnh: “Sư phụ, người mau tỉnh lại đi, người mau tỉnh lại đi”, từng hồi từng hồi vang lên bên tai chàng, cho dù người được gọi không phải là chàng, nhưng chàng lại tỉnh. Chủ nhân của âm thanh đó chính là người con gái trước mặt chàng.

Ảo mộng của kiếp trước, trước khi chàng đầu thai làm cháu trưởng của Thiên Quân, chàng đều không nhớ, nhưng kiếp duyên sinh ra trong lửa đỏ như hoa sen lại chiếu vào số mệnh tương lai của chàng. Lúc đầu chàng tỉnh lại giữa lửa đỏ, thứ đầu tiên chàng nhìn thấy trong cõi đời này, không phải trời cũng chẳng phải đất, mà là người con gái đang mỉm cười rạng rỡ với chàng. Người con gái này, khi đó nàng hóa thân thành nam giới, tên gọi là Tư Âm.

Chàng nằm trên giường, giống như bị thứ gì đâm trúng, đôi mắt bình lặng như nước bằng, bỗng dần dần nổi những cơn sóng màu đen.

Người con gái đó quan sát kỹ một lúc, mới vui vẻ hỏi: “Ngươi tỉnh rồi à?” sờ lên chiếc sừng trên đầu chàng một lát rồi mới hài lòng nói: “Mấy con rắn mà ta biết không có con nào đẹp như ngươi, ngươi đúng là một con rắn lạ lùng, trên đầu còn mọc cả sừng. Chiếc sừng của người rất trơn, hi hi, sờ vào rất thích”.

Chàng cụp mắt xuống, rồi lặng im nhìn nàng.

Thực ra chàng là một con rồng đen oai phong lẫm liệt, nhưng người con gái này kiến thức nông cạn, có lẽ chưa bao giờ nhìn thấy một con rồng, nên chỉ coi chàng là một con rắn nhỏ có độ dài khác thường, cho nên, mới muốn huấn luyện chàng thành một con rắn nhà. Rắn nhà có rất nhiều điểm tốt, thí dụ như, nàng sẽ ôm chàng trong lòng mà nói chuyện với chàng, nàng sẽ dùng đôi bàn tay mềm mại đút thức ăn cho chàng, nàng còn chia cho chàng một nửa chiếc giường, đêm đến cho chàng nằm cạnh nàng mà ngủ, còn đắp cho chàng một lớp chăn dày. Chàng nghĩ, có lẽ nàng chưa bao giờ nuôi rắn, không biết rắn không cần ngủ trên giường, cũng không cần đắp chăn, đương nhiên, rồng cũng không cần.

Rất nhiều đêm, sau khi nàng ngủ say, chàng hóa thành hình người, ôm nàng vào lòng, đến sáng ra trước khi nàng tỉnh lại, chàng lại biến thành con rồng đen nhỏ bé.

Nàng không biết nhuộm vải, đồ mặc trên người toàn một màu trắng, so với những xiêm y lụa là của nữ thần tiên trên trời giản dị hơn rất nhiều, nhưng chàng lại cảm thấy xiêm y màu trắng rất đẹp. Chàng đặt cho nàng một cái tên, gọi là Tố Tố(46).

Chớp mắt đã đến tháng chín, hoa quế trên bốn bể tám cõi ngát hương, trong mùi hoa quế thơm ngào ngạt, Tố Tố lại nhặt về một con quạ mẹ vừa mới mất con, cả ngày bận rộn tìm thịt cho con quạ mẹ ăn, nên lơ là với chàng rất nhiều. Tuy chàng không tỏ ra điều gì, nhưng lại ý thức được nguy cơ là, trong mắt Tố Tố, con rắn nhỏ như chàng e rằng cũng chẳng khác gì với con quạ mẹ kia. Chàng cảm thấy cứ thế này sẽ không ổn, bèn nhân một hôm Tố Tố lại đưa con quạ mẹ ra khỏi nhà tranh đi tìm thịt, hóa thân thành hình người, gọi mây rồi bay lên Cửu Trùng Thiên.

Người am hiểu ái tình nhất trên Cửu Trùng Thiên chính là tam thúc Liên Tống của chàng. Thiên Quân hiện giờ khi còn trẻ cũng rất phong lưu, nhưng Liên Tống còn phong lưu hơn ngài rất nhiều, là công tử đa tình hàng đầu trong Thần tộc.

Công tử đa tình nói: “Thúc chưa từng dính dáng với con gái ở trần gian, nhưng có câu nói rất hay, rằng “Tú bà thích tiền, con gái thích đẹp”, phàm là con gái trẻ trung thì không ai là không thích những lang quân tuấn tú, cháu đứng trước mặt nàng ta, cười với nàng ta một cái, đảm bảo nàng ta say như điếu đổ”.

Chàng nhấp một ngụm trà, không bảo đúng cũng chẳng bảo sai.

Công tử đa tình lại nói: “Từ xưa tới nay mỹ nhân đều yêu anh hùng, hay là cháu hóa ra một con yêu quái, thả nó vào núi dọa cho nàng ta một trận, đến khi nàng ta sợ chết khiếp, cháu lại cầm kiếm Thanh Minh anh tuấn hào sảng xông ra đánh chết con yêu quái đó, như thế cháu trở thành ân nhân cứu mạng của nàng ta, nàng ta không biết lấy gì báo đáp, đương nhiên chỉ có thể dùng thân báo đáp”.

Chàng đặt chén trà lên mặt bàn, xoay xoay, khẽ nói: “Hôm nào cháu rảnh, cháu giúp thúc hóa một con yêu quái đi dọa Thành Ngọc, haizz, những yêu quái bình thường hẳn sẽ không dọa được nàng ấy, phải là yêu quái thật lợi hại mới đánh được nàng ấy, cháu sẽ đánh cho nàng ấy gần tắt thở để thúc đi cứu nàng ấy, có lẽ nàng ấy cũng không biết lấy gì báo đáp, sẽ lấy thân báo đáp thúc”.

Công tử đa tình cười khan hai tiếng, phe phẩy quạt thở dài bất lực: “Nam nhân kế(47) cháu không ưng, anh hùng kế cháu lại lo cho nàng ta, sợ nàng ta bị dọa. Hay là thế này, dùng khổ nhục kế đi, cháu tự đâm mình hai nhát, rồi nằm trước cửa nhà nàng ấy, nàng ấy không thể đứng yên nhìn một người sắp chết trước cửa nhà mình, chắc nàng sẽ phải cố gắng cứu chữa cho cháu. Như thế, để báo đáp nàng ấy, sau khi vết thương khỏi, cháu sẽ ở lại làm nô bộc cho nàng ấy, cháu thấy thế nào?”.

Chén trà dằn xuống mặt bàn, cạch một tiếng, chàng cho rằng kế này rất hay.

Dùng khổ nhục kế cũng không cần đâm mình hai nhát, thần tiên có phép thuật che mắt. Sau khi uống trà với Liên Tống xong, chàng lập tức gọi mây đi về. Lần này xuống hạ giới, chàng tạo một tiên chướng, để tránh tai mắt trên trời, che núi Tuấn Tật thật kỹ. Khi hạ xuống trước nhà tranh của Tố Tố, chàng bắt quyết, biến mình toàn thân đẫm máu giống như vết thương lúc được thăng làm thượng tiên năm nào.

Kế này quả rất thành công, Tố Tố đẩy cánh cửa chực rớt xuống đó, vừa nhìn thấy Dạ Hoa đã kinh sợ tột độ, lập tức kéo chàng vào bên trong nhà tranh. Hành động cầm máu của Tố Tố cũng rất vụng về, chàng nằm trên giường nghiêng người nhìn nàng toát mồ hôi giã thuốc, cảm thấy hơi hạnh phúc. Nhưng nàng lại vô cùng sợ hãi, bàn tay đắp thuốc run lẩy bẩy, một chén nước thuốc hơn một nửa bị rớt xuống đất, non một nửa còn lại thì rớt trên áo chàng, mấy giọt còn lại may mắn lắm mới rót lên miệng vết thương của chàng. Chàng nhìn khuôn mặt trắng bệch của nàng, hơi nhếch khóe môi, chợt phát hiện trong trái tim mình bỗng hơi xao động, nhân lúc nàng quay người thêm thuốc, chàng nhúc nhích ngón tay, làm vết thương lập tức tự khỏi. Tố Tố thêm xong thuốc, quay đầu lại thì thấy chàng đã mau chóng lành lặn, kinh ngạc đến mức trợn mắt há mồm. Chàng cảm thấy dáng vẻ trợn mắt há mồm này của nàng rất đáng yêu.

Tố Tố không an tâm về chàng, giữ chàng ở lại nhà tranh dưỡng thương thêm mấy ngày, quả đúng ý chàng. Nàng không nhắc nhở chàng phải đi, chàng cũng giả vờ như không biết, trị lành vết thương cũng dứt khoát không nhắc đến chuyện rời đi, cho đến sáng ngày thứ mười hai.

Sáng sớm ngày thứ mười hai, Tố Tố bưng một bát cháo đến trước mặt chàng, nói khéo rằng, nàng chỉ là một cô gái yếu đuối, nuôi một con vật nhỏ thì không thành vấn đề, nhưng nuôi một con người thì lại không dễ dàng, vết thương của chàng đã khỏi, có lẽ chàng cũng nên rời khỏi đây rồi. Nàng ấp a ấp úng, rõ ràng phải nói những câu đuổi khách này nàng cũng thấy ngượng ngập.

Chàng bê bắt cháo lên húp một hơi, bình tĩnh nói: “Nàng đã cứu ta, đương nhiên ta phải ở lại để báo đáp nàng”.

Nàng vội vàng xua tay nói không cần, chàng không đáp, chỉ thong thả ăn hết bát cháo không thể coi là ngon, rồi mới nhìn nàng, cười nói: “Nếu không báo đáp nàng, chẳng phải ta là kẻ vong ân phụ nghĩa sao? Cho dù nàng nhận hay không nhận, cái ơn của nàng ta nhất định phải báo”.

Sắc mặt nàng hết xanh rồi lại trắng. Chàng chống má nhìn nàng, cảm thấy dáng vẻ bối rối của nàng thật đáng yêu nhưng lại vì thể diện mà không dám để lộ ra. Chàng hoàn toàn không ngờ rằng, câu tiếp theo nàng nói còn đáng yêu hơn dáng vẻ của nàng gấp trăm lần. Nàng nói: “Nếu như chàng muốn báo ân, chi bằng lấy thân báo đáp đi”.

Họ đã bái trời đất thề nguyền. Đêm động phòng hoa chúc, sau khi ân ái, chàng ôm nàng đã ngủ say vào lòng, cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Nhưng số mệnh thật huyền bí. Người ta nói vạn điều đều là mệnh, không hề do con người, mệnh của người phàm do thần tiên định đoạt, còn mệnh của thần tiên lại do số trời định đoạt, đều không tránh khỏi. Chàng được chọn làm trữ quân kế vị Thiên Quân, chính vì cái họa do nhị thúc của chàng là Tang Tịch gây ra. Thiên Quân đã đính ước với nhà họ Bạch ở Thanh Khâu, bốn bể tám cõi đều biết sau này chàng sẽ phải cưới thượng tiên Bạch Thiển của Thanh Khâu. Trước đây chàng luôn cảm thấy đời người chẳng qua cũng chỉ thế thôi, cho dù là cưới Bạch Thiển ở Thanh Khâu hay là Thanh Thiển ở Bạch Khâu, thì cũng chỉ là thêm một người nằm trên giường đi ngủ mà thôi. Còn bây giờ, chàng đã có người con gái mình yêu, tất cả chuyện trước kia, giờ phải tính lại từ đầu.

Bài học xương máu của Tang Tịch vẫn còn sờ sờ ở đó, hơn nữa chàng đã ở ngôi vị trữ quân không thể vứt bỏ, chỉ đợi đến khi tròn năm vạn tuổi, là được phong làm thái tử, chuyện của chàng và nàng, đã khó lại càng thêm khó. Chàng trăn trở mấy ngày, mọi phương án đều được đem ra so sánh, cuối cùng chọn cách nguy hiểm nhất, nhưng lại là vất vả một lần mà an nhàn mãi mãi. May thay tộc Giao Nhân ở Nam Hải gần đây lại có động tĩnh bất thường, cũng coi như là cơ duyên để chàng thoát khỏi Thiên Cung một cách triệt để. Nhưng chuyện này một mình chàng làm e rằng khó tránh khiến người khác nghi ngờ, phải nhờ người nói với Thiên Quân để che mắt. Chàng chọn đi chọn lại mãi, cuối cùng đẩy cho Liên Tống gánh trách nhiệm này.

Liên Tống phe phẩy quạt, dò xét chàng từ trên xuống dưới một lượt: “Làm như thế, trận chiến Nam Hải là không thể tránh rồi. Lúc đó đương nhiên thúc có thể làm chứng cho cháu trước mặt Thiên Quân, chứng thực cháu đã tan thành tro bụi hoàn toàn. Thế nhưng vì một người phàm trần, cháu lại nỡ từ bỏ ngai vị Thiên Quân sao? Haizz, trần gian họ gọi thế là gì nhỉ? À, là không yêu giang sơn chỉ yêu mỹ nhân, đó không phải việc làm của một đấng minh quân”.

Chàng chỉ xoay xoay chén trà, nửa cười nửa không: “Cháu chẳng có lòng nhân ái yêu khắp chúng sinh của ba ngàn thế giới, cố gắng ngồi vào ngôi vị này cũng chẳng thể thành minh quân, chẳng thà trả lại ngôi thái tử, nhường cho người hiền đức. Năm xưa Tang Tịch bị lưu đày, đến năm thứ ba thì đến cháu. Nếu cháu mà tan thành tro bụi, nói không chừng, chưa đến ba năm Thiên Quân đã có thể tìm được người kế vị tốt hơn”.

Liên Tống híp mắt cười, chỉ nói một tiếng: “Khó lắm”.

Không lâu sau, Tố Tố hoài thai. Tuy chàng vui mừng không xiết nhưng tính cách bình tĩnh đã tu thành bao năm nên nhìn bề ngoài thì trấn tĩnh hơn những người lần đầu làm cha bình thường rất nhiều. Sau khi hoài thai, Tố Tố càng kén ăn chọn uống, những ngày đó, tài nghệ nấu nướng của chàng đã tiến bộ hơn rất nhiều.

Tất cả đều từng bước từng bước phát triển theo đúng tính toán của chàng. Hai tháng sau, tộc Giao Nhân cuối cùng đã phát động phản loạn, Liên Tống cầm quân cờ trắng cười nói: “Theo lý mà nói, thủ lĩnh của tộc Giao Nhân không có tính cách bộp chộp như vậy, theo tính cách chu đáo cẩn thận của hắn, chí ít còn kéo dài thêm một tháng nữa. Liệu có phải cháu đã làm gì tác động không?”.

Chàng liếc nhìn bàn cờ, bình thản đáp: “Bọn họ lộ chuyện này sớm ngày nào, Thiên Quân sẽ lệnh cho cháu đi điều đình chuyện này sớm ngày ấy, cháu cũng sẽ tính được nhiều kế sách hơn”.

Liên Tống đặt quân cờ trắng xuống, cười ha ha: “Cháu chớ mang lý do hoang đường này ra bịp ta, chủ yếu là nương tử hoài thai rồi, cháu không đợi được phải không?”.

Các ngón tay chàng kẹp quân cờ đen, đặt “cạch” một tiếng lên bàn cờ, những quân cờ trắng lập tức lọt vào vòng vây của quân cờ đen, chàng ngẩng đầu lên khẽ cười, nói: “Chỉ là một mũi tên trúng hai đích mà thôi”.

Thiên Quân quả nhiên hạ lệnh, cho chàng đi Nam Hải thu phục tộc Giao Nhân, Liên Tống cũng xin đi đánh trận, Thiên Quân chuẩn tấu. Chàng sợ Tố Tố lo lắng, nên chỉ nói với nàng là chàng phải đi một nơi rất xa làm một chuyện rất quan trọng, sợ nàng cô đơn, lấy một chiếc gương đồng từ tay áo ra đưa cho nàng, những lúc chàng không bận thì có thể qua đó nói chuyện với nàng.

Để lừa Thiên Quân, trong trận chiến Nam Hải, chàng để cho thủ lĩnh tộc Giao Nhân đâm một nhát, lưỡi đao Trảm Phách Thần luôn được tộc Giao Nhân cất giữ trong miếu thờ suốt mấy nghìn vạn năm đã đâm một đường từ ngực đến bụng chàng, để lại một vết đao vừa dài vừa hẹp. Lực chém rất vừa vặn, độ sâu cũng vừa tầm, sâu thêm một chút thì hồn bay phách tán, mà nông hơn một chút thì rõ ràng là vết thương chưa đủ chí mạng.

Sau khi chàng xảy ra chuyện, Liên Tống lập tức tiếp quản vị trí của chàng. Đội quân đau thương tất sẽ thắng trận, thái tử bị thủ lĩnh tộc Giao Nhân chém một nhát, tính mạng khó giữ, khiến cho các tướng sĩ bi phẫn tột cùng, chỉ trong ba ngày đã dìm Nam Hải trong bể máu, toàn tộc Giao Nhân bị giết sạch.

Vì thế, chỉ đợi Liên Tống quay về Thiên Cung thêm mắm dặm muối, báo tang với Thiên Quân, nói chàng đã bỏ mạng ở Nam Hải, thì tất cả đều hoàn hảo. Nhưng chàng ngàn tính vạn tính, lại chẳng tính đến điều quan trọng nhất, Tố Tố đi ra khỏi tiên chướng của chàng đặt trên núi Tuấn Tật, đã bị Thiên Cung phát hiện. Chàng chẳng thể diễn tiếp vở kịch này, ngày chàng về lại Thiên Cung, Nam Hải hạn hán đã lâu bỗng mưa một trận như trút nước.

Chàng chưa bao giờ biết hối hận là gì. Bây giờ, chàng mê man nằm trên chiếc giường trong điện Tử Thần, lại vô cùng hối hận vì đã không làm tiên chướng trên núi Tuấn Tật thêm chắc chắn. Chàng ngỡ vết thương ở Nam Hải quá nặng, đã làm tiên chướng trên núi Tuấn Tật bị hổng một lỗ, mới để Tố Tố đi lọt. Nhưng chàng không hề biết, cho dù tiên chướng đó có kiên cố đến đâu, thì nương tử của chàng vẫn lọt qua được.

Thiên Quân đến Tẩy Ngô cung thăm chàng, đầu tiên hỏi han thương thế của chàng, ngừng lại một lúc, mới chậm rãi nói: “Mấy hôm trước ta có gặp một người phàm trần ở hạ giới, đang mang cốt nhục của con, thế là thế nào?”.

Chàng nằm trên giường, bình tĩnh đáp: “Khi cháu hàng phục Kim Nghê Thú xong thì bị thương nhẹ, được người con gái phàm trần đó cứu chữa. Bào thai trong bụng nàng ta, coi như là cháu báo ân”.

Thiên Quân gật đầu, nói: “Nếu là báo ân thì không sao, sau này cháu nối ngôi, quá trọng tình ái thì sẽ không hay, cháu chỉ cần nhớ điều này, còn đâu không phải lo lắng gì hết. Nàng ta đã mang thai con của cháu, thì hãy đón nàng ta lên trời đi”.

Chàng mở mắt nhìn đóa sen lớn đang nở trên màn giường, vẫn bình thản nói: “Đưa một người phàm lên trời, sẽ không ra thể thống gì, nàng ta vốn ở trần gian, hà tất sao phải nhọc công đưa lên trời?”.

Điệu bộ của chàng khiến Thiên Quân rất vừa ý, Thiên Quân vui vẻ cười xòa, lâu sau mới nói: “Đứa trẻ của Thiên tộc phải được sinh trên trời, lưu lại nơi hoang dã mới là không ra thể thống, vết thương trên người cháu cũng gần khỏi, hãy đón nàng ta lên đi”.

Thể thống như lời chàng hoàn toàn không phải là thể thống mà Thiên Quân nhắc tới. Thực ra chàng biết điều này chẳng liên quan gì tới thể thống, đại để là Thiên Quân không tin chàng. Năm xưa Tang Tịch đưa Thiếu Tân lên trời, nếu không phải là Tang Tịch may mắn, Thiếu Tân sẽ ra sao, chàng cũng không biết nữa, nhưng bây giờ chàng tuyệt đối không thể giẫm lên vết xe đổ của Tang Tịch, đưa nàng vào Thiên Cung.

Khi đó chàng biết, chàng và nàng không thể bên nhau nữa. Từ đó về sau, trong Thiên Cung rộng lớn, chàng và nàng chỉ có thể làm người xa lạ. Chàng không thể đẩy nàng vào vòng xoáy, không thể để nàng bị hại, dù chỉ một chút. Thậm chí chàng còn nghĩ rằng, may mà nàng chưa yêu chàng, trong mối tình này, may mà chỉ có chàng đơn phương yêu nàng. Có thể ở năm tháng trên núi Tuấn Tật, cho dù sau này nàng sẽ quên hẳn chàng, chàng cũng không nuối tiếc. Ba năm, chỉ cần có thể bảo vệ nàng bình an qua ba năm này, đợi nàng sinh con xong, Thiên Quân sẽ không có lý do để giữ nàng ở lại Thiên Cung, lúc đó, chàng sẽ cho nàng uống nước Vong Xuyên dưới U Minh Ti. Nàng sẽ sống vui vẻ, tự do tự tại trên núi Tuấn Tật cho đến khi già, còn chàng chỉ cần có thể thỉnh thoảng ngắm nàng qua gương, thì lòng đã mãn nguyện rồi.

Chàng đưa Tố Tố lên trời, bố trí cho nàng ở trong “Nhất Lãm Phương Hoa”, chọn trong cung của chàng một tiểu tiên nga thật thà nhất để hầu hạ nàng. Nháy mắt hai năm đã trôi qua, hai năm này, người ngoài đều cho rằng chàng không quan tâm đến nàng, Thiên Quân cũng cho là vậy. Nhưng thực ra có lúc, khi chỉ hai người bên nhau, có lúc chàng không kìm được lòng mình, lại đối xử ân cần dịu dàng với nàng. May mà những hành động “thiếu chừng mực” này chỉ có nàng và chàng biết.

Và may thay, trong hai năm cũng không có bất cứ ai gây rắc rối cho nàng. Tuy nàng sống trong Thiên Cung, nhưng không có chút liên quan, ảnh hưởng gì với Thiên Cung.

Nhưng hơn bảy trăm đêm trong hai năm này, chàng luôn trằn trọc cả đêm, không thể chợp mắt.

Tiết khai xuân năm thứ ba, tình thế vùng Bắc Hoang không ổn, Thiên Quân sai chàng đi trước trấn thủ, luôn luôn quan tâm tới động tĩnh của Bắc Hoang. Chàng dẫn theo mấy tay Đấu Khôi thuộc hạ, đi thẳng đến Đông Hoang. Nhưng lại không ngờ rằng đây chỉ là mưu kế của Thiên Quân, chỉ hòng tách chàng ra mà thôi.

Thiên Quân đã dành năm vạn năm tâm huyết cho chàng, tuyệt đối không để cho bất cứ điều ngoài ý muốn nào xảy ra.

Ngày hôm sau sau khi chàng đi, phi tử mà Thiên Quân mới nạp không lâu, Chiêu Nhân công chúa Tố Cẩm đã tự biên tự diễn một vở kịch. Nàng ta nói với giá bút trên bàn của chàng, giọng điệu ai oán: “Chàng cưới một người phàm trần, chẳng phải vì trả thù ta đã phản bội chàng lấy Thiên Quân, đúng không? Nhưng ta có cách gì, ta có cách gì cơ chứ, nữ tử trong bốn bể tám cõi, ai có thể chống lại được ân sủng của Thiên Quân? Nói cho ta nghe đi, Dạ Hoa, người chàng yêu vẫn là ta, đúng không? Chàng gọi nàng ta là Tố Tố, chẳng qua là vì, là vì trong tên ta cũng có một chữ Tố, đúng không?”.

Chàng thực sự không biết trong cái tên Tố Cẩm ấy, chữ Cẩm là chữ Cẩm nào, chữ Tố là chữ Tố nào? Chàng nhớ tiên giai và tên tuổi của mỗi nam thần tiên từ nhất phẩm đến cửu phẩm trên Cửu Trùng Thiên, chỉ vì khi phê duyệt công văn thường dùng tới. Còn tên của Chiêu Nhân công chúa này viết ra là hai chữ nào, chàng chẳng rảnh rỗi mà đi tìm hiểu.

Nếu những lời này bị chàng nghe thấy thì sẽ coi như những lời cười nhạo vô căn cứ, hoặc là buông một câu “Ngươi điên rồi”, nhưng người nghe được những lời này không phải chàng, mà là Tố Tố.

Đương nhiên chàng không biết, Tố Tố đã nghe thấy rất nhiều những lời nhảm nhí, bịa đặt cho riêng nàng.

Nửa năm sau, chàng quay lại Thiên Cung, còn chưa về tới Tẩy Ngô cung đã nhìn thấy tiểu tiên nga hầu hạ Tố Tố là Nại Nại hớt hơ hớt hải băng qua con đường nhỏ tới, nhìn thấy chàng thì khóc lóc ầm ĩ, nói Tố Tố đang tranh cãi với Tố Cẩm nương nương ở Tru Tiên đài.

Đối với thần tiên, Tru Tiên đài không phải là nơi tốt lành gì, thần tiên bình thường khi đến đây cũng không thi triển được phép thuật nào hết, có lẽ Tố Tố không bị thất thế, lòng chàng tạm an tâm như vậy. Nhưng khi chàng cau mày chạy tới, tuy không nhìn thấy Tố Cẩm hại Tố Tố nhưng lại nhìn thấy một tay Tố Tố đẩy Tố Cẩm xuống Tru Tiên đài. Tố Cẩm toàn thân xiêm y lộng lẫy ngã nhào khỏi lan can, trái tim chàng trong phút chốc bỗng như bị thít chặt, nếu công chúa Chiêu Nhân xảy ra chuyện thì…

Khi chàng nhảy xuống Tru Tiên đài kịp thời cứu được Tố Cẩm thì nhìn thấy đôi mắt của nàng bị chướng khí làm cho bị thương. Khoảnh khắc ấy, chàng chợt nhớ tới câu chuyện của Tang Tịch năm trăm năm trước. Chàng còn nhớ, tiểu mãng xà mà Tang Tịch yêu chẳng qua chỉ vì được chiều chuộng trên Thiên Cung, liền bị Thiên Quân hạ một đạo thánh chỉ tống vào tháp Tỏa Yêu. Tố Cẩm hình như nói gì đó nhưng chàng không hề chú ý. Ba trăm năm trước có một lần khi chàng lao mình ra đỡ nhát đao Trảm Phách Thần của thủ lĩnh tộc Giao Nhân, trái tim cũng không nặng nề đến vậy. Tố Tố chạy tới nói: “Không phải thiếp, không phải thiếp, thiếp không đẩy nàng ta, Dạ Hoa, chàng phải tin thiếp, chàng phải tin thiếp…”.

Nàng không ngừng kêu oan, vô cùng đáng thương, chàng nhìn thấy mà lòng đau nhói, nhưng hai năm nay nàng đã thực sự được bảo vệ chặt chẽ, không biết tình cảnh hiện tại, nàng làm vậy càng khiến người ta bàn tán. Tố Cẩm bưng mắt rên rỉ, mấy tiểu tiên nga theo hầu đứng xa xa đã cuống quýt chạy tới.

Một người bao năm lâm nguy trên trận mạc cũng không rối loạn như chàng trong khoảnh khắc liền khôi phục lí trí, trong lòng đã thầm tính cách xử lý chuyện này cho trọn vẹn đôi bề. Nhưng chuyện này vốn là mưu kế của Thiên Quân, người thắng là người hành sự nhanh và bất ngờ. Chàng bị điều đến Bắc Hoang hơn nửa năm, thì làm sao có thể thắng nổi Thiên Quân, thế là mưu kế của chàng còn chưa được triển khai đã bị mấy tiên bá dưới quyền Thiên Quân dập tắt ngay lập tức.

Trong thư phòng, Thiên Quân đang mời mấy trưởng chi trong Thiên tộc bàn bạc công chuyện. Mấy người họ đang thương tiếc cho thân thế của công chúa Chiêu Nhân, luôn chăm sóc Tố Cẩm, nhìn thấy Tố Cẩm như thế này thì cơn giận bốc lên đùng đùng.

Thiên Quân ngồi trang nghiêm trên ngai báu, nhấp một ngụm trà, bình thản nói: “Tố Cẩm là con cháu của đấng trung liệt, lớn nhỏ toàn tộc đều không tiếc xương máu hy sinh vì chính đạo của trời đất, đáng nhẽ Thiên tộc ta phải đối tốt với nàng, nhưng lần này lại để nàng bị một kẻ phàm trần làm bị thương như thế này, chuyện này mà không xử lý hợp lý thì khó tránh khỏi các vị khanh gia đau buồn”.

Chàng không muốn đưa nàng vào vòng xoáy trên Cửu Trùng Thiên này, đã hết sức cẩn thận nhưng cuối cùng vẫn không thể tránh được.

Tố Cẩm lại đổ thêm dầu vào lửa, mấy vị trưởng chi ngồi bên cạnh giận dữ khôn xiết, Thiên Quân cũng nghiêm trang nhìn chàng. Năm thành thủ thuật làm đế vương của chàng cũng đều do ngài dạy dỗ cho, nghĩ một chút về chuyện của Tang Tịch, cũng không khó nghĩ ra ngài đang nghĩ gì.

Việc Tố Tố có đẩy Tố Cẩm xuống Tru Tiên đài hay không giờ đã không quan trọng. Vở kịch do Thiên Quân bày ra đã gần đến hồi kết, ngài ngồi đợi đứa cháu của mình bất chấp tất cả để giải vây cho người phàm trần kia, trong thư phòng có không khí giận dữ bao trùm là vì mấy vị bề tôi tính tình lỗ mãng do ngài đặc biệt chọn riêng, mượn cớ là lời của mấy kẻ bề tôi, xử người phàm trần kia bị tan thành tro bụi. Ngài ngồi trên ngôi Thiên Quân cao vời vợi này, đương nhiên hiểu rằng thế nào mới là tốt, thế nào mới là không tốt với người thừa kế của ngài.

Cả căn phòng lặng ngắt như tờ trong giây lát, chỉ có tiếng thút thít của Tố Cẩm vẫn vang lên.

Hai tay chàng nắm chặt đến mức trắng bệch, nhưng vẫn cung kính nói: “Thiên Quân dạy rất phải. Vừa nãy cháu cũng không nhìn rõ, chỉ nghe thiên phi nói Tố Tố vô ý làm vậy. Tuy là vô ý, nhưng cũng khiến đôi mắt của thiên phi bị hỏng nặng. Đương nhiên Tố Tố phải đền đôi mắt cho thiên phi. Thân là người phàm mà lại dám đẩy một vị thiên phi xuống Tru Tiên đài, tuy thiên phi biết nàng ta không cố ý, nhưng như thế Tố Tố không thể được tha thứ, không biết xử Tố Tố chịu hình phạt sét đánh ba năm, có khiến cho thiên phi và các khanh gia đồng ý không?”.

Thiên Quân đợi hồi lâu lại không ngờ rằng cháu mình lại nói những lời biết đến toàn cục như thế, các bề tôi cũng không thể bới móc, đành đồng thanh hô thái tử thánh đức, không lẫn lộn công tư dù chỉ một chút, chúng thần tử vô cùng hài lòng.

Gương mặt lạnh lùng của Thiên Quân đành gật đầu, phê chuẩn.

Chàng tiến lên trước một bước, tiếp tục cung kính nói: “Tố Tố từng có ơn với cháu, Thiên Quân dạy cháu rằng, chịu ơn mà không báo, uổng làm quân tử. Lúc đầu là cháu dẫn nàng ta lên Thiên Cung, bây giờ nàng ta gây chuyện như thế này, đương nhiên cháu cũng phải gánh trách nhiệm này, trong bụng nàng ta còn có cốt nhục của cháu, về tình về lý, cháu đều nên xin Thiên Quân, cho cháu thay nàng ta chịu hình phạt sét đánh liền ba năm”.

Những lời chàng nói đều hết sức có lý, Thiên Quân không hề thay đổi nét mặt, đợi chàng dứt lời, chỉ cúi đầu uống trà, khi ngẩng đầu lên nét mặt hiền hòa, rồi gật đầu chuẩn tấu.

Chàng tận mắt nhìn thấy Tố Tố một tay đẩy Tố Cẩm xuống Tru Tiên đài, đền mắt là một nửa thuận theo Thiên Quân, một nửa là thuận theo Tố Cẩm, nhưng quan trọng nhất là đã trả đủ cho Tố Cẩm món nợ của nàng ta. Thần tiên và người phàm dây dưa quan hệ, chuyện này đã là làm loạn thiên số, và kỵ nhất là lằng nhằng không xong. Ông trời cũng tự điều hòa quan hệ lằng nhằng đó, ví dụ như món nợ mà Tố Tố nợ Tố Cẩm, hôm nay không trả, sẽ có một ngày ông trời sắp đặt một số mệnh cho nàng, khiến nàng phải trả hết sạch nợ nần.

Chàng cực kỳ không muốn nàng bị hại. Nhưng chàng không biết rằng, cho dù chàng có bản lĩnh siêu phàm, thì cũng không thể bảo vệ an toàn cho nàng. Vì kiếp nạn này là định mệnh của nàng.

Sau khi Tố Tố bị móc mắt, chàng cũng lập tức đến phủ Thần Tiêu Ngọc ở tầng trời thứ ba mươi ba nhận hình phạt sét đánh. Chủ thần của Lôi bộ là Cửu Thiên nổi tiếng về công minh chính trực, tuyệt đối không vì chàng là thái tử mà nhẹ tay. Tuy rằng hình phạt sét đánh không làm hại đến sinh mệnh, nhưng mỗi một đạo sét đánh xuống người, lại đau đớn như nguyên thần bị xé nát trong nháy mắt, là một hình phạt an toàn mà giày vò người ta. Mỗi ngày chàng đều phải nhận bốn mươi chín đạo sét trên người, ngay cả ngày Tố Tố sinh con cũng không ngoại lệ. Vết thương trên người vết này chồng lên vết khác, trông rất ghê rợn. Chàng sợ Tố Tố phát hiện, sợ nàng lo lắng, chàng càng không dám đến “Nhất Lãm Phương Hoa” qua đêm cùng nàng.

Sau khi Tố Tố sinh con, đưa nàng về núi Tuấn Tật đã là giấc mơ xa vời không thể thực hiện được. Cho dù thế nào cũng không thể tránh được thương tổn, chàng sẽ dùng cả đời để ở bên cạnh nàng. Khi ấy chàng không biết rằng, đây chẳng qua là sự si mê vọng tưởng của một mình chàng mà thôi. Người chàng yêu say đắm, cho dù như thế nào chàng cũng không mang lại được hạnh phúc cho nàng. Vì chẳng qua, chàng chỉ là tình kiếp để nàng thăng phẩm cấp, chàng được sắp đặt là tình kiếp để nàng thăng phẩm cấp, nếu không phải là chàng thì cũng không là người khác, chàng biết đây sự tàn khốc của số phận.

Tố Tố nhảy xuống Tru Tiên đài, chàng cũng dứt khoát nhảy theo. Tru Tiên đài chẳng qua chỉ tiêu diệt sự tu hành của thần tiên, nếu như bình thường, căn bản không thể lấy mạng chàng, nhưng chàng bị sét đánh khắp người, vô cùng yếu ớt, nhảy xuống như vậy rõ ràng là đi tìm cái chết. Thiên Quân ngỡ rằng sau khi ép người con gái đó chết chẳng qua chỉ khiến chàng buồn bã mấy ngày, từ giờ về sau chàng vẫn là vị trữ quân hoàn mỹ nhất của Cửu Trùng Thiên, nhưng ngài không ngờ rằng cháu mình quá coi trọng người con gái đó, khi ngài chạy một mạch từ điện Lăng Tiêu đến Tru Tiên đài để cứu chàng, chàng đã như ngọn đèn cạn dầu. Trong khoảnh khắc đó, vị Thiên Quân ở ngôi cao vòi vọi bỗng già đi rất nhiều.

Giấc ngủ đó của chàng kéo dài hơn sáu mươi năm, khi tỉnh lại thì tất cả nhung nhớ đã tiêu tan, cũng không biết vì sao mình phải tỉnh lại. Mẫu phi của chàng là Nhạc Tư không đành lòng, lấy một viên Vong Tình đan từ chỗ Dược Quân về, đưa cho chàng, chàng cũng chỉ lạnh lùng liếc một cái. Tuy nỗi đau khổ bi thương giống như lưỡi dao cùn cắt thịt, đến với chàng thật muộn, nhưng chàng cảm thấy, Tố Tố là màu sắc duy nhất trong cuộc đời năm vạn năm của chàng, nếu đến màu sắc duy nhất này cũng bị xóa đi, thì chàng không còn là chàng nữa. Tuy đau khổ, nhưng chàng không muốn quên nàng.

Sự cố chấp của chàng với Tố Cẩm cũng là sự cố chấp của Tố Cẩm đối với chàng. Nhưng sự cố chấp của Tố Cẩm với chàng lại hại chết Tố Tố, chàng thực sự muốn giết nàng ta. Trước Tẩy Ngô cung, khi kiếm Thanh Minh đâm vào lồng ngực, Tố Cẩm áo hồng kinh ngạc lắp bắp hỏi: “Tại sao?” Chàng cảm thấy thật vô vị, chỉ rút phắt kiếm ra, lạnh lùng liếc nàng ta một cái, quay người đạp vào cửa cung, vừa giơ cánh tay lên đã đóng chặt cửa Tẩy Ngô cung.

Nhưng Tố Cẩm thực ra không quá mạnh mẽ, tuy rằng từ nhỏ nàng ta đã là một đứa con côi, bảy vạn năm trôi qua chuyện gì cũng xuôi chèo mát mái, chỉ có chàng, hết lần này đến lần khác khiến nàng ta thất bại. Nàng ta đem đèn Kết Phách – thánh vật của tộc mình dâng lên Thiên Quân, ba tháng sau, thành công bước vào Tẩy Ngô cung.

Nháy mắt ba trăm năm trôi qua.

May mà ông trời không độc ác như tưởng tượng. Kiếp duyên mà chàng và nàng đã trải qua, vốn là duyên.

Ba trăm năm sau, trong rừng đào của Chiết Nhan, chàng gặp một người con gái. Ngày hôm sau, trong Thủy Tinh cung của Đông Hải Thủy Quân, người con gái đó ngồi trên ghế đá dạy dỗ phu nhân nhị thúc của chàng, tay phải cầm một chiếc quạt, tay trái ngón trỏ và ngón cái vòng một vòng tròn, ba ngón còn lại gõ khe khẽ lên mặt bàn đá, đó chính là động tác mà Tố Tố thường làm trong vô thức. Cái miệng dạy dỗ người ta đó, cực kỳ giống Tố Tố.

Trong đầu chàng “ầm” một tiếng, bước ra từ trong bóng râm của bụi cây san hô, khóe môi nhếch nụ cười mà ba trăm năm chưa từng thấy: “Dạ Hoa không biết, cô nương lại là thượng thần Bạch Thiển của Thanh Khâu”.

Chú thích:

45. Xích Viêm Kim Nghê Thú là sư tử lông vàng, có thể phun ra lửa (ND).

46. Tố có nghĩa là màu trắng, những gì trong trắng, tinh khiết (ND).

47. Nguyên văn là “mỹ nhân kế”, chúng tôi đổi lại là “nam nhân kế” cho phù hợp với tình tiết truyện (ND).

Chương 25: Ngoại truyện 2: Bạch Chân

Khi con trai thứ tư của nhà Bạch Chỉ quân gia đầy tuổi, Chiết Nhan của rừng đào mười dặm đến chơi.

Phải biết rằng khi hồ ly ở Thanh Khâu vừa chào đời, tuy là tiên thai nhưng cũng không khác với những hồ ly bình thường là mấy, đều không mang hình người. Đến khi tròn một tuổi, hấp thu đủ linh khí trời đất và sữa mẹ mới có thể hóa thành hình người, hơn nữa còn là dáng dấp của một đứa trẻ sơ sinh.

Đứa trẻ sơ sinh vừa mới chào đời, đương nhiên phải nhăn nheo rồi.

Cho dù sau này con trai thứ tư của nhà họ Bạch ở Thanh Khâu đẹp đến mức kinh thiên động địa, thần sầu quỷ khốc, lúc đó, cũng vẫn chỉ là một đứa trẻ nhăn nheo, dài chưa đầy hai thước mà thôi.

Tiên tộc Cửu Vỹ Bạch Hồ này là một tiên tộc được nhiều ưu ái, ai ai cũng đẹp bẩm sinh. Nhưng khi người ta trưởng thành thường rất khó mà chịu được một ngày nào đó tướng mạo của mình trở nên xấu xí, hoặc là mình đã từng xấu xí.

Con trai thứ tư nhà họ Bạch chính là một nhân tài trong số đó.

Thực ra hồ ly chín đuôi luôn sống một cuộc đời đẹp đẽ, tươi sáng, thực ra nếu cuộc đời không tươi sáng, chính là khi họ mới hóa thành hình người. Nhưng lúc đó vẫn là một hồ ly sơ sinh đương nhiên họ không biết thế nào là đẹp xấu, cũng không trăn trở gì về ngoại hình của mình. Cho dù sau này trưởng thành rồi, nhớ lại khi còn nhỏ mình là một đứa bé xấu xí thì cũng thường tự an ủi mình rằng trẻ con không thể chia ra đẹp xấu, cũng không bận tâm làm gì.

Nhưng con trai thứ tư nhà họ Bạch lại không giống vậy, có câu nói rằng “kẻ trí hay lo nghĩ”. Khi Lão Tứ còn chưa hóa thành hình người đều do Lão Tam nhà họ Bạch chăm sóc, khi còn là hồ ly Lão Tứ là một tiểu hồ ly rất đẹp, Lão Tam thường ôm chàng đi khắp nơi khoe: “Tiểu hồ ly này có đẹp không, chưa bao giờ thấy tiểu hồ ly nào đẹp như thế này mà, hi hi hi, đây là đệ đệ của ta, mẹ ta đã sinh thêm đệ đệ cho ta”. Gặp một tiểu hồ ly không đẹp bằng là Lão Tam nhà họ Bạch lại lén dẩu môi, thì thầm vào tai Lão Tứ: “Ầy, con hồ ly đó xấu hoắc, chậc chậc chậc…”.

Thế nên, khi đó con trai thứ tư nhà họ Bạch thông minh mẫn tiệp còn chưa đầy tuổi nhà họ Bạch đã có khái niệm tương đối về xấu đẹp.

Khi con trai thứ tư nhà họ Bạch đầy tuổi, Bạch Chỉ Đế Quân chỉ làm tiệc đầy tuổi trong phạm vi gia đình, Chiết Nhan xưa nay luôn quan hệ rất tốt với nhà họ Bạch, đương nhiên cũng tới dự.

Lão Tam cẩn thận bế đệ đệ của mình tới, Chiết Nhan uống một ngụm rượu, híp mắt ngắm nhìn hồi lâu: “Haizz, Bạch Chỉ, thằng nhóc này sao lại xấu thế?”.

Chiết Nhan nói như vậy đương nhiên vì lão chưa cưới vợ, chưa từng có con, không biết trẻ con trong thiên hạ khi mới sinh đều xấu như vậy. Số trời đã định Lão Tứ sẽ trở thành mỹ nhân, nếu nhìn kỹ một lượt khuôn mặt nhăn nheo của chàng thực ra cũng có thể tìm được những đường nét đáng yêu.

Lão Tứ nhà họ Bạch chưa bao giờ bị gắn với từ “xấu”, vừa nghe thấy Chiết Nhan nói chàng như vậy, thân hình nhỏ bé liền giật nảy một cái.

Chàng rất bi phẫn, rất ấm ức, mắt lập tức ngân ngấn lệ.

Nhưng chàng cảm thấy tuy mình còn nhỏ, cũng là một nam tử hán, khi chàng còn làm thân hồ ly, các anh của chàng từng dạy nam tử hán có thể đổ máu nóng chứ quyết không rơi lệ, chàng vẫn còn nhớ kỹ, nên cắn môi nuốt lệ vào trong, nhưng chàng không có răng nên không cắn được. Thế nên dáng vẻ kiên cường của chàng trong con mắt của người ngoài lại là nhệch miệng, muốn khóc mà không khóc được, như thế lại càng xấu hơn.

Chiết Nhan vỗ nhẹ lên ngực chàng, cười nói: “Có lẽ lớn lên sẽ không xấu như thế này nữa”.

Lão Tứ nhà họ Bạch cuối cùng cũng òa lên khóc.

Cửu Vỹ Hồ Ly vốn rất chuộng lễ đặt tên trong tiệc đầy tuổi, mà đến giờ Lão Tứ nhà họ Bạch vẫn còn khóc lóc bù lu bù loa nên việc này đành tạm gác lại. Vì xưa nay Thanh Khâu có một quy định, đặt tên cho trẻ nhỏ là một việc cần thận trọng, tên đặt xong rồi thì trước tiên vừa đọc lên cho trẻ nghe, nếu nghe nó liền bật cười mới được coi là chắc chắn, tuy trẻ không thực sự lắng nghe cái tên đó, nhưng nó cảm thấy hợp ý mình thì mới cười. Khi đọc tên cho trẻ nghe, cần một người ngồi bên cạnh, để trêu đùa đứa trẻ này. Nhưng tình hình bấy giờ, con trai thứ tư nhà họ Bạch đau lòng vô hạn, đương nhiên cười không nổi.

Nghi thức đặt tên bị lui đến sinh nhật lần thứ hai của Lão Tứ.

Năm nay, Lão Tứ đã lớn hơn, trắng trẻo mũm mĩm, vô cùng đáng yêu. Chiết Nhan ở rừng đào rất rảnh rỗi nên cũng đến.

Ngày sinh nhật, Lão Tứ chạy đi hỏi cha mình, thúc thúc năm ngoái có tới không. Bạch Chỉ Đế Quân kinh ngạc hỏi: “Thúc thúc nào?”. Lão Tứ xấu hổ xoắn vạt áo nói: “Thúc thúc đẹp trai nói con xấu xí ấy”.

Bạch Chỉ Đế Quân càng bất ngờ trước trí nhớ của con trai mình, gật đầu nói: “Đương nhiên có đến”.

Thế là, Lão Tứ vui vẻ chạy đến bên hồ nước cạnh động Hồ Ly, ngồi bên hồ luyện tập cả nửa ngày các vẻ mặt đáng yêu, vẻ mặt mê hồn, vẻ mặt ấm ức, vẻ mặt ngây thơ…

Ngày hôm sau, gió mát phe phẩy, trời trong mây tạnh. Con trai thứ tư nhà họ Bạch dậy thật sớm, bê chiếc ghế dựa nhỏ ra trước động Hồ Ly, nôn nóng ngóng chờ Chiết Nhan. Chàng chờ mãi chờ mãi, chờ mãi chờ mãi, chốc chốc lại đến bên hồ soi xuống mặt nước chỉnh lại áo quần, thiếu điều là rũ tóc xuống hồ gội đầu, sau đó quay về ngồi trên ghế tiếp tục đợi.

Gần đến buổi trưa, Chiết Nhan mới cưỡi một đám mây lành đến động Hồ Ly, nhìn thấy Lão Tứ đang ngồi ngay ngắn trên ghế, mắt liền sáng lên, kéo chàng một cái ôm vào lòng, cười nói: “Nhóc con xinh đẹp ở đâu chui ra thế này?”.

Nhóc con xinh đẹp Lão Tứ nhà họ Bạch đang nép trong lòng Chiết Nhan, chàng cảm thấy hơi hoa mắt chóng mặt, nhưng vẻ mặt vẫn giả đò bình tĩnh. Thúc thúc này nói chàng đẹp rồi, cuối cùng người ấy cũng thừa nhận chàng đẹp rồi…

Lão Tứ nhà họ Bạch nép trong lòng Chiết Nhan rụt rè nhếch môi, thơm Chiết Nhan “chụt” một cái.

Chương 26: Ngoại truyện 3: Mười bốn câu hỏi phỏng vấn Dạ – Bạch

1. Họ tên?

Tiểu Dạ: Dạ Hoa

Tiểu Bạch: Ta nghe nói ở chỗ các ngươi rất coi trọng quy định, nếu có mấy tên gọi, không biết các ngươi gọi theo thứ tự trước sau không, hay gọi theo tần suất sử dụng? Thất(45): Thì cứ nói cách mà mọi người hay gọi người nhất là được.

Tiểu Bạch: À, cô cô.

Thất: = =

2. Tuổi?

Tiểu Bạch: Tuổi ư? Mê Cốc, năm nay ta bao nhiêu tuổi nhỉ?

Mê Cốc: Thưa cô cô, mùa đông năm nay người đã tròn mười bốn vạn hai nghìn bảy trăm tám mươi ba tuổi ạ.

Thất:….

Tiểu Dạ: Nàng ấy lớn tuổi hơn ta một chút.

Thất: = = Nhiều hơn chín vạn tuổi mà gọi là “một chút” sao? ORZ tiểu thuyết tôi viết lại là mối tình bà cháu ư…

Tiểu Dạ: Hả? Hóa ra ngươi lại cho rằng nàng ấy giống bà lão ư?

Thất: Tôi, tôi nhầm, xưa nay tôi không hề cảm thấy nàng ấy giống bà lão, lời nói cử chỉ của nàng ấy cũng không giống bà lão, mà đều rất “thiếu nữ”, tôi mới giống bà lão, tôi từ trên xuống dưới đều giống bà lão… = =

3. Giới tính là?

Tiểu Dạ: Nam.

Tiểu Bạch: Nữ. (Trầm tư) Nhưng có lúc ta thực ra là nam. À, đúng rồi (quay sang Dạ Hoa) không biết ai nói, ngay lúc thiếp là nam giới chàng đã yêu thiếp rồi phải không? Tiểu Dạ: Ta không có ấn tượng gì.

Tiểu Bạch: (Buồn bực) Chàng thực sự là một kẻ đoạn tụ ư?

Tiểu Dạ: (Mắt nhìn Tiểu Bạch không chớp, mỉm cười – ing) Tối nay chúng ta có thể thử xem, rốt cuộc ta có phải là đoạn tụ không…

Thất: >_< Chuyện này, chuyện này các bạn vẫn nên bàn riêng thì hơn, bạn đọc ghét nhất là chủ đề H.

4. Xin hỏi tính cách của các bạn thế nào?

Tiểu Dạ: Rất tốt.

Tiểu Bạch: Ta cũng rất tốt.

Thất: Độc giả sẽ khóc mất…

5. Tính cách của đối phương?

Tiểu Dạ: Rất tốt.

Tiểu Bạch: Phu quân ta chọn đương nhiên cái gì cũng đều tốt nhất.

Thất: (Bất lực vỗ trán – ing) Hai người không thể kể chi tiết một chút được sao, chi tiết hơn, thân mật hơn được không?

Tiểu Dạ: Ví dụ như?

Thất: (Sán đến gần) Ví dụ như dịu dàng này, gần gũi này, chín chắn này, phóng khoáng này, chung thủy này…

Tiểu Bạch: (Xòe quạt) Những điều ngươi nói, mặt nào Dạ Hoa cũng là tốt nhất.

Tiểu Dạ: (Vuốt tóc Tiểu Bạch): Nàng cũng vậy!

Thất:… Hai người sến súa phát gớm!

6. Hai người gặp nhau lúc nào? Ở đâu?

Tiểu Bạch: Khi ta là Tố Tố, trên núi Tuấn Tật ở Đông Hoang, trước cửa gian nhà tranh của ta.

Tiểu Dạ: Ba trăm năm trước, ngày mùng bốn tháng tám, trên giường.

Thất: Thái tử điện hạ, ngài nói thật đúng trọng điểm = =

7. Ấn tượng đầu tiên về đối phương?

Tiểu Dạ: Dường như đã gặp ở đâu rồi?

Tiểu Bạch: Toàn là máu…

Thất: Ngại quá, tôi ngắt lời một chút, ngoài toàn là máu ra lẽ nào cô cô không có ấn tượng nào khác? Ví dụ như toàn thân toàn là máu, nhưng thái tử điện hạ vẫn rất anh tuấn phi phàm gì gì đó.

Tiểu Bạch: (đắm chìm trong hồi ức) Khi đó bản thượng thần còn thiếu hiểu biết, ngoài bản thân ra thì chỉ nhìn thấy chàng là giống với con người, nên không thể biết anh tuấn phi phàm là thế nào.

Thất: Thái tử điện hạ, cô cô yêu ngươi không phải vì ngươi là mỹ nam, ngươi có cảm thấy rất vui không…

Tiểu Dạ: (Tiếp tục nghịch tóc Tiểu Bạch, mỉm cười dịu dàng với Tiểu Bạch) Bây giờ thì sao?

Tiểu Bạch: (Không hề do dự) Chàng đương nhiên là nam thần đẹp trai nhất trên đời rồi.

Tiểu Dạ: (Quay sang nói với Thất) Ta rất vui.

Thất:….

8. Thích điểm nào ở đối phương?

Tiểu Dạ: Toàn bộ.

Tiểu Bạch: (Ngẩng phắt đầu nhìn Tiểu Dạ, mặt đột nhiên đỏ bừng, lại cúi đầu) Ta, ta thực sự cũng không tốt vậy…

Tiểu Dạ: Nàng chỗ nào cũng tốt (Cúi đầu thì thầm bên tai Tiểu Bạch) Những điểm nàng cảm thấy chưa tốt trong mắt ta đều tốt cả.

Tiểu Bạch: (Tai đỏ lựng, cũng thì thầm) Lâu lắm rồi mới nghe chàng nói những lời tình tứ, trước mặt đông người thế này, trước khi nói chàng nên thông báo trước một tiếng, để ta có chuẩn bị chứ.

Thất: … Cô cô, người đang che giấu sự xấu hổ ư…

9. Ghét điểm gì ở đối phương?

Tiểu Dạ: Không có.

Tiểu Bạch: Ta cũng không có.

Thất: Lẽ nào hai người gần đây đang hưởng tuần trăng mật? Độc giả thích xem hai người cãi nhau, hai người lại quấn quýt thế này, khiến độc giả thấy rất khó chịu đấy…

Tiểu Bạch: (Tay sờ lên quạt Côn Luân) A? Ai muốn thấy chúng ta cãi nhau vậy?

Thất: Ha ha ha, không có, không có ai muốn thấy hai người cãi nhau, mọi người đều thích hai người quấn quýt thế này, cô cô, người thu quạt lại được không?

10. Người cảm thấy mình và đối phương có hợp nhau không?

Tiểu Dạ: Hợp.

Thất: Cho dù đối phương là nam hay nữ, đều hợp đúng không?

Tiểu Dạ: Hừm, kiếm của ta đâu?

Thất: Thái, thái tử điện hạ, tôi lỡ lời, hu hu hu…

11. Người gọi đối phương là gì?

Tiểu Dạ: Thiển Thiển.

Tiểu Bạch: Dạ Hoa.

12. Người muốn được đối phương gọi thế nào?

Tiểu Dạ: Tất cả đều tùy nàng ấy, nhưng nếu như, haizz, bỏ đi.

Tiểu Bạch: Thiển Thiển là được.

Thất: Thái tử điện hạ, thực ra người muốn nói, nếu thi thoảng cô cô gọi người một tiếng phu quân cũng rất hay phải không?

Tiểu Dạ: (Mím môi khẽ ho một tiếng)

Tiểu Bạch: (Trầm tư) A, hóa ra chàng muốn thi thoảng ta gọi chàng là phu quân, nhưng cái thi thoảng này, nên vào lúc nào mới hợp đây? (Tiếp tục trầm tư).

Thất: Chắc chắn là muốn gọi lúc trên giường rồi = =

Tiểu Dạ: (Mỉm cười) Tiểu Thất thật nhanh nhạy, ngươi nhanh nhạy như vậy, làm người phàm thật đáng tiếc, muốn thăng tiên không?

Thất: Thái, thái tử điện hạ, tôi lại lỡ lời, hu hu hu…

Tiểu Bạch: (Tai đỏ lựng rồi).

13. Nếu dùng động vật để so sánh, người cảm thấy đối phương là?

Tiểu Dạ: Hồ ly trắng chín đuôi!

Tiểu Bạch: Rồng đen!

Thất: Ấy, xin lỗi, tôi quên mất hai người vốn là động vật = =

14. Nếu như phải tặng một món quà cho đối phương, người sẽ tặng gì?

Tiểu Dạ: Thứ chỉ cần ta có, chỉ cần nàng ấy cần.

Tiểu Bạch: Haizz, hay là sinh thêm một đứa cho chàng?

Tiểu Dạ: (Im lặng một lát, một tay ôm Tiểu Bạch đứng dậy) Hôm nay nói đến đây thôi, ta có chút việc, ngày mai nói tiếp.

Thất: (Ôm chân Tiểu Dạ) Thái tử điện hạ người không thể điiiiiiii, cấp trên chỉ cho tôi thời gian một ngày, mai tôi phải nộp bản thảo rồi, hôm nay hai người không trả lời hết, ngày mai tôi bị biên tập mắng chết đấy…

Tiểu Dạ: Ô, ngày mai là nộp bản thảo sao, xem ra ngày mai không cần chúng ta nữa rồi. Thất: (Nước mắt đầm đìa bi phẫn) Thái tử điện hạ, người, người thật quá đáng!

Thế nên, vì thái tử điện hạ và cô cô phải về có việc… nên 50 câu hỏi giữa chừng đứt đoạn = = bye bye các bạn! (Hết)

Chú thích:

1. Chính là tác giả Đường Thất công tử (ND).

HẾT NGOÀI TRUYỆN. HOÀN. END.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s